KHI MÊ TÍN ĐƯỢC GẮN DẤU QUỐC GIA

Posted: February 23, 2011 in Uncategorized
Tags:

       Từ “mê tín” được từ điển Wiktionary định nghĩa như sau:
       1. (danh từ) Lòng tin không căn cứ, cho rằng có những sự việc nhất định đem lại hạnh phúc hoặc gây ra tai họa.
       2. (động từ) Tin một cách mù quáng. …

       Tôi cho rằng: Mê tín là nằm trong một dãy trạng thái tâm lý nhân loại, từ “niềm tin” qua “tín ngưỡng”, đến “mê tín”; các trạng thái này tất nhiên nương tựa nhau, chuyển hóa nhau; “mê tín” có thể bị tăng tiến hay được thuyên giảm nhờ “niềm tin” được điều chỉnh; mà sự điều chỉnh ấy lại là kết quả tác động của nhận thức, của tri thức.

       Đương nhiên, con người thuộc những xã hội phát triển thấp sẽ mang tâm thức mê tín nhiều hơn con người ở những xã hội phát triển cao hơn. Người Âu Tây ít mê tín hơn người ở các phần còn lại của thế giới, − ấy là do những thành tựu phát triển tri thức khoa học và phát kiến kỹ nghệ rất sớm sủa (người ta tính từ thời Phục hưng, tức từ thế kỷ XIV) ở khu vực của họ đã tác động vào nhận thức, vào tư duy của từng con người và vào nếp tư duy của cộng đồng, khiến họ trở thành bộ phận sớm nhất trong nhân loại đã rời bỏ những nếp nghĩ mông muội có xuất xứ từ ngẫu tượng giáo và vật linh luận nguyên thủy.

       Phần thế giới ngoài Âu Tây, do tiếp xúc với tư duy duy lý khoa học Âu Tây, sau một vài thế kỷ, cũng đã bắt kịp Âu Tây trên một số phương diện cơ bản. Chẳng hạn ở Việt Nam, từ thời điểm kẻ dám thông báo về sự tồn tại của loại “đèn treo ngược” (đèn điện) còn bị coi là đáng tội “khi quân” (giữa thế kỷ XIX) đến thời điểm bùng nổ công nghiệp hóa (cuối thế kỷ XX), tư duy con người ở một số vùng, một số giới tiên tiến đã đạt tới những chuẩn duy lý gần như ngang bằng với các dân tộc của thế giới hiện đại. Tất nhiên cũng đã có những giai đoạn, các chuẩn “duy lý” thông tục bị thô thiển hóa đã lấn át những tập quán và tín ngưỡng cổ truyền, đẩy chúng vào khu vực hoạt động giấu diếm, phi pháp.

       Tình hình đã khác đi từ thập niên cuối cùng của thế kỷ XX, khi các lễ hội xưa dần dần được phép hoạt động công khai trở lại, hơn thế, còn trở thành niềm hứng khởi của cả dân gian lẫn các giới quan chức, bởi chúng được coi như nguồn bổ sung cho những niềm tin đang lung lay trước các làn sóng văn minh của thời đại.

       Song, chính sự tái bùng nổ của lễ hội cũng chính là nguồn khích lệ cho sự trỗi dậy của các loại “mê tín” vốn chưa bao giờ rời bỏ cộng đồng cư dân từ thượng cổ đến hiện tại vốn chủ yếu chỉ sống với nghề nông, phụ thuộc vào nắng mưa ấm lạnh của thời tiết và những biến động xã hội mà người ta khái quát thành sức mạnh của ông Trời.

       Hầu hết các lễ hội đều gắn với những “mê tín” nhất định, mà một trong những biểu hiện nổi bật là ở khát vọng của công chúng thủ đắc những “tín vật”, “linh vật” nhất định.

       Nắm được “bí kíp” này, các nhà tổ chức các loại lễ hội khác nhau đều đang ra sức khai thác tâm lý mê tín của công chúng, làm sống lại những “linh vật”, “tín vật” vốn có từ xa xưa, thậm chí táo bạo “sáng tác” ra những “linh vật”, “tín vật” mới.

       Tờ giấy hoặc mảnh vải có đóng “quốc ấn” (tân tạo) quân chủ, chiếc túi đựng một ít hạt ngũ cốc được xem là “lộc” của triều đình quân chủ, _ ấy là những “linh vật” được phục chế từ những tín điều đã tồn tại từ thời quân chủ: tin vào vận may do vua quan ban phát, xem nó là “lộc trời”, “lộc vua” _ một niềm tin mà chẳng biết do định hướng nào, các nhà tổ chức lễ hội ngày nay lại muốn khơi dậy trong tâm thức cư dân hiện đại?   Giá trị văn hóa truyền thống ư?   Loại “giá trị” tuân phục vua quan, cầu lộc rơi lộc vãi từ tay các giai tầng thống trị, _ đâu có phải hệ giá trị cần được dung dưỡng, duy trì trong thời đại giải phóng dân tộc, giải phóng con người, thời đại của các nguyên lý dân chủ, công bằng, văn minh?

       Hơn thế, các nhà tổ chức lễ hội hiện đại ở ta còn muốn “sáng tác” ra những “linh vật”, “tín vật” mới, như là vừa muốn làm sống lại vừa muốn tạo thêm ra càng nhiều càng hay những sinh hoạt của thời trung đại trong ý thức và đời sống của cư dân.

       Ngọn lửa lấy từ một nơi nào đó được xem là gốc tích một truyền thống nào đó, ít lâu nay đã trở thành “linh vật” hiện đại cho nhiều lễ hội thể thao, văn hóa, thậm chí lễ hội chính trị.

       Trong hội thơ xuân Tân Mão này, người ta còn sáng tác thêm hai loại linh vật: ấy là “nước” ở nguồn Pác Bó và “đất” ở Kim Liên, Nam Đàn, Nghệ An.


"Xuân đã cạn ngày, nhưng dư âm của một mùa lễ hội thì vẫn còn đấy". Ảnh minh hoạ: soixam.com

       Trong số những người làm thơ hẳn có những kẻ cảm thấy cội nguồn thơ Việt, − qua chuyện xác định “tín vật”, “linh vật” này, − bị thu rút ngắn hẳn lại: nó chỉ có độ sâu quá khứ chưa đầy trăm năm, chứ không còn là độ sâu ngàn năm, bởi người ta không đến lấy đất ở Trường An, Ninh Bình, nơi nhà sư Đỗ Pháp Thuận từng đáp vua Lê Hoàn bằng thơ “Quốc tộ như đằng lạc…”, cũng không đến lấy nước từ sông Như Nguyệt, nơi xuất hiện thơ thần “Nam quốc sơn hà Nam đế cư…”, cũng không đến lấy nước từ giếng cổ trong hoàng thành Thăng Long vừa được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới…

       Tất nhiên chuyện lựa “đất” nào “nước” nào, dầu sao cũng chỉ là tiểu tiết; điều chính yếu ta quan sát được ở đây vẫn là nỗ lực tạo thêm những “tín vật”, “linh vật”: có vẻ như người ta đang gắng làm cho chúng tràn ngập đời sống hiện tại. Sống với thế giới linh vật, tín vật cả cũ lẫn mới ấy, khó mà nói cư dân chúng ta sẽ trở thành cái gì: con người của thế giới hiện đại hay con người của quá khứ trung cổ?

       Một điều đáng nói là hầu hết những lễ hội kể trên đều gắn với hoạt động tham dự thậm chí chủ trì của quan chức cao cấp, hoặc do các tổ chức chính thống chủ trì, với tư cách những lễ hội chính thống ở tầm quốc gia. Tức là những tín ngưỡng, những “mê tín” ấy đã mặc nhiên được đóng dấu quốc gia.

       Trong một tình thế như vậy, không khó để thấy trước rằng, tâm lý chuộng “mê tín” chỉ càng ngày càng gia tăng. Bởi khi giới những người quản lý xã hội, quản trị cộng đồng cũng mang những niềm tin, “tín ngưỡng”, “mê tín” ngang với mức của công chúng dân cư, thì không có cách gì làm vơi bớt hay phai nhạt sự “mê tín” của số đông cư dân được cả.


© Lại Nguyên Ân – Đàn Chim Việt
 

Trình độ tâm linh của người Việt qua lễ hội
Nguyễn Hoàng Đức(Tiền Phong)

       Tháng giêng là tháng lễ hội của người Việt. Từ xa xưa, đó là phong tục lành mạnh. Người phương Tây theo Kinh thánh từ vài nghìn năm nay, mỗi tuần có một ngày nghỉ là Chủ nhật – ngày Chúa trời dựng nên thế gian.

       Nhưng người phương Đông không có ngày nghỉ chính thức nào, theo cách cả ông chủ và người làm công đều nghỉ để đi nhà thờ (đó là nguyên tắc cứng). Người phương Đông nghỉ theo nguyên tắc mềm như giỗ chạp, hiếu hỉ, lễ hội… Với người Việt, tháng giêng là tháng hội hè, cúng giỗ thần thánh, tổ tiên – được coi như nguyên tắc nghỉ ngơi mềm.

       Một loạt lễ hội diễn ra ở Chùa Hương, đền Bà Chúa Kho, Đền Trần trước kia cũng như năm nay, vẫn với những hành vi nặng về cúng bái, buôn thần bán thánh, cầu tài cầu lộc, biến đền chùa thành chợ, biến thế giới tâm linh thành thế tục tham lam.

       Đền Trần qua mấy mùa lễ hội đều là vấn đề nổi cộm, đến năm nay người ta còn xô đổ hàng rào thép, giẫm đạp lên nhau, nhiều người ngất tại chỗ. Đến nơi tôn nghiêm mà lại dùng tiền mua ấn bằng mọi cách, như khát hối lộ thánh thần để mua vé sớm. Đi chùa, đi động chỉ chăm chăm tìm cách nhét tiền vào nơi hiểm của các khối đá, các bức tượng để cầu xin điều này, điều nọ.

       Một số chuyên gia, nhà thần học nhận định rằng trình độ tâm linh của người Việt hiện ở mức “bái vật giáo”. Người ta đem những đồ vật ăn uống được như thịt, xôi, hoa quả đến cúng thần cây đa, ma cây gạo, đền chùa. Thờ cậy ba ông Phúc – Lộc – Thọ để xin những giá trị nhãn tiền của cuộc đời.

       Việc vay tiền bà Chúa Kho là ví dụ điển hình. Không chỉ ở đó mà nhiều nơi khác, người đi lễ dâng lễ vật, mắt đảo điên sợ người khác bưng mất của mình đi, trông thật trần tục. Không chỉ người ngay mà kẻ ăn gian nói dối cũng cúng vái, mà nội dung cúng lễ thì, như thiên hạ vẫn tiếu lâm: Mong cho phòng thuế có mắt như mù, công an có tai như điếc, để dễ bề buôn gian bán lậu.

       Những hỗn loạn, đảo điên tranh giành, ganh đua của cả người đi lễ và người phục vụ lễ cho thấy: Họ không đến để cầu xin điều cao cả mà vẫn chỉ là ham muốn thế tục. Đền thánh không phải là nơi thiêng liêng mà chỉ là một siêu thị kiếm lãi nhờ tâm linh. Tôi nghĩ rằng, đó chính là vấn đề về trình độ tâm linh đại trà của người Việt.

       Con người có tín ngưỡng, lễ bái để mong rằng cái gì họ không làm được thì đấng thiêng liêng sẽ làm thay. Nhưng rất nhiều người đi lễ hiện nay chỉ quan niệm rằng: Họ không kiếm được tiền, không thăng quan tiến chức thì thần thánh cao cả hơn sẽ giúp họ. Như vậy sẽ còn hỗn loạn dài dài. Mong sao chúng ta hãy tự xét mình để có được một đời sống tâm linh xứng đáng.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.