Xã hội công dân ở Trung Quốc

Posted: May 7, 2012 in Uncategorized
Tags:

Nguyễn Hải Hoành ( Tia Sáng ) Mặc dù đã tiến sang xã hội công dân nhưng thuật ngữ xã hội công dân vẫn bị coi là rất nhạy cảm ở Trung Quốc; quan chức Đảng và chính quyền, kể cả đa số học giả nước này còn chưa hiểu rõ và có thái độ hoài nghi về xã hội công dân. …

Trước cải cách mở cửa, Trung Quốc thực hành chế độ “Hợp nhất chính trị và xã hội”, Đảng Cộng sản và Chính phủ “bao cấp” tất cả mọi lĩnh vực đời sống kinh tế-chính trị-văn hóa-tư tưởng v.v… Do thực thi cơ chế kinh tế kế hoạch tập trung nên chính quyền bao biện làm cả hai chức năng chính trị và kinh tế (“chính phủ toàn năng”), quyền lực nhà nước bao trùm tất cả mọi lĩnh vực. Bộ máy của nhà nước vì thế rất cồng kềnh, hiệu suất thấp, phí tổn cao. Về nguyên tắc, toàn bộ cuộc đời mỗi người dân từ khi sinh ra cho tới khi chết đều được nhà nước “bao cấp” quản lý, kể cả suy nghĩ của họ. Dân chúng chỉ được hưởng những quyền tự do dân chủ hạn chế. Mỗi người đều bị buộc chặt vào “đơn vị công tác” cố định của mình (ở nông thôn là công xã nhân dân). Các đoàn thể quần chúng đều do Đảng lập ra và lãnh đạo, chỉ là nơi quản lý, giáo dục họ tuân theo sự lãnh đạo của Đảng; công dân không được phép tự do lập hội đoàn của mình. Trong nước chỉ tồn tại hai khu vực là nhà nước (gồm chính quyền, đảng, đoàn thể quần chúng do đảng lập ra và lãnh đạo) và cá nhân, hầu như không tồn tại lĩnh vực trung gian là xã hội, hoàn toàn không thể có xã hội công dân.

Dân số 1,35 tỷ được coi là động lực phát triển của Trung Quốc, đồng thời cũng khiếp áp lực xã hội gia tăng nhanh chóng.

1. Quá trình hình thành và phát triển xã hội công dân tại Trung Quốc

Sau Hội nghị trung ương lần 3 khóa XI năm 1978, đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) bắt đầu tiến hành cải cách mở cửa, tạo ra sự thay đổi long trời lở đất trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội Trung Quốc.

Công cuộc cải cách thể chế kinh tế theo định hướng thị trường đã nâng cao đáng kể sức sản xuất xã hội và đời sống nhân dân. Đây là nguồn gốc sâu xa nhất làm cho các tổ chức dân gian có dịp phát triển nhanh chóng. Kinh tế thị trường yêu cầu các doanh nghiệp phải trở thành pháp nhân độc lập có quyền tự chủ kinh doanh, tự chịu lỗ lãi, vì thế chính quyền và doanh nghiệp phải tách khỏi nhau. Trong cơ chế đó, quyền tự chủ của doanh nghiệp tăng lên rõ rệt, tạo khả năng để một số hội đoàn ngành nghề và đồng nghiệp trở nên tương đối độc lập với chính quyền. Mặt khác, kinh tế thị trường làm tăng độ rủi ro của doanh nghiệp, giới doanh nhân phải lập ra các hội đoàn có tính ngành nghề để tự bảo vệ lợi ích của mình. Nhằm tìm kiếm môi trường cạnh tranh công bằng với khối doanh nghiệp quốc doanh, các chủ doanh nghiệp tư nhân cần lập các tổ chức tự nguyện để giúp đỡ nhau (như các câu lạc bộ doanh nhân).

Kinh tế thị trường thừa nhận sở hữu tư nhân, do đó tạo ra tầng lớp hữu sản, trong đó có tầng lớp trung lưu, vừa có của vừa có trí thức, họ hăng hái lập ra các đoàn thể tự nguyện để bảo vệ lợi ích của mình, đòi mở rộng tự do dân chủ và tham gia việc hoạch định chủ trương chính sách của nhà nước. Xét theo tiêu chuẩn trung lưu nêu trong báo cáo năm 2006 của Ngân hàng Thế giới là thu nhập đầu người hàng năm đạt 4.000~17.000 USD (GDP đầu người Trung Quốc năm 2010 là 4277 USD), năm 2008 tầng lớp trung lưu ở Trung Quốc chiếm 22-23% tổng số dân hoặc 300 triệu người và tăng hàng năm 1%.

Cải cách mở cửa đã nâng cao đáng kể đời sống nhân dân cả nước, nhờ đó công dân có điều kiện tham gia các hoạt động xã hội, văn hóa, thể thao, du lịch,.., qua đó tự phát lập ra các tổ chức công dân, hội ngành nghề, câu lạc bộ v.v… Cũng do đời sống khá nên họ có điều kiện cung cấp tài chính cho các tổ chức đó hoạt động.

Đồng thời Trung Quốc đã thực hiện những thay đổi lớn về chính trị, chủ trương tách rời chính quyền với xã hội, xây dựng nhà nước pháp trị:

– Nhà nước ngày càng tôn trọng pháp chế, pháp trị, như cho dân chúng thực hiện quyền tự do lập hội và mít tinh biểu tình (đã ghi trong Hiến pháp nhưng trước đây không thi hành);

– Nhà nước dần dần tách khỏi xã hội, trước hết là xã hội kinh tế (tức khối doanh nghiệp);

– Trung ương phân chia bớt quyền lực cho địa phương; chính quyền nới lỏng quản lý công dân. Từ giữa thập niên 80 bắt đầu thực hiện nông thôn tự quản, nông dân trực tiếp bầu ra Ủy ban Thôn dân để giải quyết mọi công việc trong làng.

– Tinh giản bộ máy nhà nước, giảm chức năng kinh tế, xã hội, tăng cường chức năng quản lý hành chính; chính quyền không còn quản lý sản xuất kinh doanh, các việc dân sự, văn hóa nghệ thuật, học thuật nữa, mà để các tổ chức dân gian (như các hội ngành nghề) tự quản lý.

Đã thực hiện thay đổi cách quản trị xã hội, như mở rộng dân chủ ở cơ sở, thực hiện công dân tự quản, chính trị trong suốt, xã hội giám sát chính quyền, công khai tài chính, tổ chức kiểm toán. Mở rộng dân chủ cơ sở là thành tích nổi bật nhất. Như đã mở rộng quyền trực tiếp bầu cử, ban hành Luật Bầu cử, quy định Hội đồng nhân dân (Quốc hội) từ cấp huyện trở xuống phải do cử tri trực tiếp bầu, không được đề cử ứng viên mà để dân tự chọn. Ban hành chế độ bầu cử trực tiếp Ủy ban Thôn dân tại mỗi làng xã, Ủy ban Dân phố tại mỗi khu phố ở thành thị, đều không được chỉ định sẵn ứng cử viên. Các Ủy ban này không phải là cơ quan chính quyền mà là tổ chức tự quản của dân. Việc thành lập Ủy ban Thôn dân và Ủy ban Dân phố, thực hiện công dân tự quản xã hội ở nông thôn và khu phố, là cải cách chính trị quan trọng nhất tại Trung Quốc kể từ thập niên 80, một bước tiến mạnh dạn tới thành lập XHCD ở nước này.

Tuy vậy nhiều cải cách dân chủ chỉ được thực hiện qua loa đại khái, hình thức; ban hành nhiều văn bản luật pháp nội dung tốt nhưng không chấp hành đúng. Chẳng hạn khi bầu cử vẫn chỉ bầu theo danh sách ứng cử viên đã chỉ định sẵn, hoặc không bầu trực tiếp mà chỉ để một số “đại biểu dân” bầu; nghĩa là bầu người đã được cấp trên lựa chọn; thực chất dân chưa được làm chủ.

Kinh tế thị trường đem lại sự phân hóa sâu sắc trong xã hội, đặc biệt là phân hóa giàu nghèo, làm tăng bất công xã hội và mâu thuẫn nội bộ. Xã hội chia làm các tầng lớp khác nhau về thu nhập, nguồn lực, địa vị, trình độ văn hóa. Một nghiên cứu mới đây của Viện Khoa học xã hội Trung Quốc cho biết hiện nay xã hội nước này hình thành 10 tầng lớp: cao nhất là tầng lớp cán bộ quản lý nhà nước và xã hội; thứ nhì là tầng lớp giám đốc doanh nghiệp quốc doanh; thứ ba là tầng lớp chủ doanh nghiệp ngoài quốc doanh; thứ 8, 9 là tầng lớp công nhân xí nghiệp, lao động nông nghiệp; thứ 10 là tầng lớp vô nghề nghiệp, thất nghiệp và nửa thất nghiệp.

Ba tầng lớp trên cùng thuộc vào quần thể đặc quyền đặc lợi; ba tầng lớp dưới cùng thuộc quần thể yếu thế, đông người nhất, nghèo nhất và lợi ích của họ bị xâm phạm nhiều nhất. Các phần tử xấu trong mấy tầng lớp trên cùng thường móc nối với nhau chiếm đoạt lợi ích của các tầng lớp dưới cùng, vì thế đa số dân chúng ngày càng bất mãn, mâu thuẫn nội bộ nhân dân ngày càng gay gắt, xã hội có xu hướng mất ổn định.

Kinh tế thị trường đẻ ra lối sống chạy theo đồng tiền, tạo điều kiện phát triển nạn tham nhũng trong giới quan chức nhà nước và thói kinh doanh mù quáng trục lợi trong giới doanh nhân; họ thường dùng cách hối lộ để móc nối với các quan chức nhằm kiếm lợi nhuận tối đa, gây thiệt hại lợi ích của nhân dân.

Công nghiệp hóa, đô thị hóa làm cho đất đai – nguồn sống của nông dân, bị thu hẹp, thiệt hại trực tiếp tới lợi ích của họ, trong khi lại làm cho giới doanh nhân kinh doanh bất động sản giàu lên.

Tất cả những điều đó đã làm dân chúng thức tỉnh ý thức tự bảo vệ quyền lợi của mình. Họ đã đứng dậy chống lại giới quan chức tham nhũng và giới doanh nhân trục lợi. Số vụ biểu tình phản kháng tăng lên: năm 1994 có 10 nghìn vụ, năm 2003 – 60 nghìn; quy mô biểu tình lớn dần: năm 1994 có 1.400 vụ có từ 100 người trở lên tham gia, năm 2002 – hơn 7000. Công đoàn Trung Quốc cho biết: thời gian 1992-1997 hàng năm bình quân có 1,26 triệu công nhân tham gia các vụ tranh chấp với chủ lao động. Năm 1995 ở 30 đô thị có hơn 1 triệu người tham gia biểu tình phản đối bất công xã hội; năm 1998 có 3,6 triệu người.

Trong tiến trình cải cách mở cửa ngày càng có nhiều lực lượng xã hội tách ra khỏi sự kiểm soát của nhà nước, dẫn đến quá trình phân hóa cơ cấu xã hội Trung Quốc theo diễn biến như sau: trước tiên là phân hóa giữa nhà nước chính trị với xã hội kinh tế mà đột phá khẩu là sự tách rời chính quyền với khối doanh nghiệp. Thứ hai là từ thập niên 90 trở đi tầng lớp trung lưu dẫn đầu dân chúng lập ra các đoàn thể tự nguyện để bảo vệ lợi ích của mình và góp phần tham gia quản lý xã hội, gọi chung là Tổ chức xã hội (TCXH), hình thành một khu vực tương đối độc lập, bắt đầu quá trình tách rời nhà nước chính trị với xã hội của công dân, chế độ “Hợp nhất chính trị và xã hội” bị xóa bỏ hoàn toàn.

Các cải cách về kinh tế và chính trị nói trên đã tạo điều kiện thuận lợi để xu thế thành lập các TCXH phát triển rất mạnh. Đây là cơ sở hình thành XHCD ở Trung Quốc.

Năm 1989 số lượng các TCXH có tính toàn quốc tăng lên tới 1600 đơn vị, các TCXH có tính địa phương bằng hơn 200 nghìn. Năm 1997, có hơn 180 nghìn các TCXH cấp huyện trở lên. Đến năm 2010 cả nước đã có 450 nghìn TCXH đăng ký hoạt động và 250 nghìn TCXH chuẩn bị đăng ký; nếu kể cả các tổ chức chưa đăng ký thì trên thực tế hiện có khoảng 3 triệu TCXH và con số này đang tăng lên với tốc độ mỗi năm 8-10%.

Như vậy bình quân 400 người có một tổ chức của công dân (ở Mỹ là 300 người). Điều đó nói lên XHCD Trung Quốc hình thành và phát triển nhanh mạnh tới mức đáng ngạc nhiên.

Cơ cấu tổng thể xã hội Trung Quốc đã phân hóa thành 3 khu vực độc lập tương đối với nhau: – Khu vực nhà nước với đại diện là quan chức chính quyền, cơ sở là tổ chức chính quyền; – Khu vực thị trường với đại diện là các chủ doanh nghiệp, cơ sở là tổ chức doanh nghiệp; – Khu vực các tổ chức xã hội của công dân, tức khu vực xã hội công dân (còn gọi là khu vực thứ ba) với đại diện là công dân, cơ sở là mấy triệu tổ chức xã hội nói trên.

Mới đây tiến sĩ Du Khả Bình Phó Cục trưởng Cục Biên dịch thuộc Trung ương Đảng CSTQ (Central Compilation & Translation Bureau) nhận xét: việc nghiên cứu XHCD ở Trung Quốc đang ngày một đi vào chiều sâu cho thấy không những XHCD đã trở thành một lực lượng lớn mạnh mà việc nghiên cứu XHCD cũng đã thành phong trào, thành sức mạnh.

Điều đó nói lên chân lý: bất cứ sự vật nào hợp quy luật phát triển xã hội và yêu cầu tiến bộ xã hội thì sẽ không thể nào ngăn cản được.

Giới học giả Trung Quốc cho rằng từ đầu thế kỷ XXI nước này đã hình thành xã hội công dân – thành quả vĩ đại của tiến trình cải cách mở cửa.

Đầu năm 2009, một tờ báo CHLB Đức đăng bài Trung Quốc đã tiến sang xã hội công dân. Tác giả cho rằng đó là do: – Tăng trưởng kinh tế và cải cách mở cửa tại Trung Quốc đã dẫn đến các thay đổi lớn về mặt xã hội; – Tầng lớp trung lưu đã chiếm tỷ lệ khá lớn trong xã hội, họ tự hào vì có căn hộ, xe hơi, có đầu tư chứng khoán và có phong cách sống gần như dân đô thị Âu Mỹ; – Dân chúng đô thị Trung Quốc đã quan tâm tới các tầng lớp không có đặc quyền (như nông dân, dân công, người thất nghiệp), tới vấn đề môi trường và tham nhũng, họ bắt đầu bàn thảo về luật pháp, đòi có quyền phát ngôn, phản biện về các chính sách của nhà nước; dân chúng đã lập ra các tổ chức phi chính phủ và hội đoàn giúp lẫn nhau. – Mạng Internet và các công cụ thông tin hiện đại thúc đẩy dân chúng hăng hái bàn bạc mọi vấn đề, qua đó ảnh hưởng tới quyết sách của chính quyền.

XHCD Trung Quốc có các đặc trưng tổng quát là: – Tương đối độc lập với nhà nước và chính quyền; – Có chủ thể là các tổ chức dân lập phi chính phủ và phi lợi nhuận; – Là sản phẩm tất nhiên của kinh tế thị trường và yêu cầu tất nhiên của nền chính trị dân chủ; – Có quy luật vận hành khác với hệ thống chính quyền và hệ thống thị trường (hệ thống kinh tế); – Có ảnh hưởng lớn tới sự phát triển kinh tế thị trường và chính trị dân chủ.

Sự phát triển nhanh chóng về kinh tế và khoa học kỹ thuật, trong đó có công nghệ thông tin, công nghệ mạng Internet đã tăng tốc quá trình hình thành và phát triển XHCD. Trung Quốc năm 2011 có 513 triệu dân mạng (135 triệu ở nông thôn) và 850 triệu hộ dùng điện thoại di động, hơn 250 triệu người dùng microblog (weibo) để phát biểu quan điểm của mình, tố cáo tham nhũng, bất công và nạn chính quyền giấu thông tin, qua đó đóng góp rất quan trọng hình thành XHCD. Như trong vụ tai nạn đường sắt cao tốc ở Ôn Châu (23/7/2011), họ đã vạch ra cách xử lý sai lầm của ngành đường sắt, qua đó giúp chính phủ giải quyết vụ này một cách hợp tình hợp lý, tìm ra và khắc phục được nhiều sai sót trong quản lý nhà nước.

Công dân và các TCXH của họ đã góp phần quan trọng đấu tranh gìn giữ quyền lợi của mình, tham gia quản lý xã hội, giám sát cán bộ và cơ quan nhà nước.

Đặc biệt nông dân Trung Quốc đã tiến hành đấu tranh quyết liệt đòi quyền làm chủ xã hội, đòi giữ lại đất nông nghiệp. Họ đấu tranh với chính quyền địa phương theo nhiều cách, từ biểu tình ngồi ở trước trụ sở cơ quan chính quyền tới diễu hành trên đường phố hoặc kéo lên ngồi kín đường cao tốc, đường xe lửa. Tuy chính phủ đã có quy định cấm dùng vũ lực đàn áp dân biểu tình nhưng chính quyền một số nơi vẫn dùng cảnh sát để đối phó, gây xung đột bạo lực với người biểu tình.

Điển hình nhất là vụ 11000 nông dân xã Ô Khảm (Quảng Đông) đấu tranh chống bầu cử dân chủ giả hiệu, chống tham nhũng, chống bán đất của dân, bắt đầu từ vụ biểu tình ngày 21/9/2011 tố cáo chính quyền địa phương bán mảnh đất tập thể cuối cùng của xã. Đấu tranh diễn biến phức tạp, tới mức dân biểu tình đánh lại cảnh sát đàn áp, gây thương vong cả hai bên; tiếp đó dân làng đuổi hết cán bộ và cảnh sát; đối lại, chính quyền phong tỏa làng, cắt lương thực, điện nước và thông tin liên lạc. Ngày 20/12 chính quyền tỉnh Quảng Đông đã nhượng bộ, cử Tổ Công tác do Ủy viên Ban Kỷ luật Trung ương Đảng kiêm Phó Bí thư Tỉnh ủy dẫn đầu xuống xã gặp dân trao đổi ý kiến và tuyên bố: “Các khiếu nại chủ yếu của quần chúng là hợp lý”, “Một số hành vi quá khích của đa số quần chúng là có thể thông cảm và tha thứ được, Đảng và chính phủ không truy cứu trách nhiệm của họ” và cách chức cán bộ lãnh đạo chi bộ và Ủy ban Thôn dân (một tổ chức tự quản của nông dân Trung Quốc đã được Hiến pháp 1982 xác nhận và có Luật thực hiện từ năm 1988) hiện có, đồng ý để dân bầu lại Ủy ban Thôn dân theo cách toàn dân xã trực tiếp bỏ phiếu kín, không có đề cử ứng cử viên kiểu Đảng cử dân bầu như trước kia. Kết quả một người lãnh đạo cuộc biểu tình được bầu làm chủ nhiệm Ủy ban; từ đó cuộc đấu tranh chấm dứt. Cuộc bầu cử này đã chứng minh chỉ cải cách kinh tế thôi thì không thể giảm được mâu thuẫn xã hội mà dứt khoát còn phải cải cách chính trị, thực sự để dân làm chủ.

Ngày 19/2/2012, Trung tâm Nghiên cứu Xã hội công dân trường Đại học Bắc Kinh công bố kết quả bình chọn 10 sự kiện xã hội công dân lớn năm 2011 của Trung Quốc, trong đó vụ Ô Khảm được xếp hạng thứ nhất với số phiếu 100%.

Tiến trình xây dựng XHCD ở Trung Quốc khá phức tạp. Đó là do: – Lĩnh vực tư nhân và bảo đảm quyền tư nhân chưa phát triển, thiếu bảo đảm pháp lý; – Các TCXH vẫn chịu sự chỉ đạo của nhà nước; chính quyền vẫn còn nghi kị các tổ chức này; – Chưa hình thành môi trường xã hội cho các TCXH tham gia và bàn bạc công việc chung.

Khoảng 253 triệu người dân xuất thân từ các vùng nông thôn đang sống tại các thành phố lớn có rất ít hoặc không có khả năng tiếp cận các dịch vụ công cộng.

2. Thay đổi nhận thức về xã hội công dân

Tuy từ thập niên 80 các hình thái manh nha của XHCD đã hình thành và lớn mạnh dần nhưng thuật ngữ Xã hội công dân vẫn bị coi là rất nhạy cảm; quan chức Đảng và chính quyền, kể cả đa số học giả Trung Quốc còn chưa hiểu rõ và có thái độ hoài nghi về XHCD (tương tự tình hình ở Việt Nam hiện nay).

Vụ động đất lớn ở Tứ Xuyên (12/5/2008) đánh dấu sự thay đổi rõ rệt về thái độ đối với XHCD. Khi ấy dân chúng và các TCXH của họ bắt đầu tự động làm những việc do trách nhiệm công dân thôi thúc (chứ không chờ lãnh đạo chỉ thị rồi mới làm như trước kia), họ hăng hái tham gia cứu chữa và quyên góp cứu tế với quy mô lớn. Đồng thời họ đòi quyền được thông tin chính xác tình hình, quyền được tham gia và giám sát công tác cứu chữa, cứu tế. Tuy vậy vẫn chưa hình thành một XHCD chín muồi. Phần lớn các TCXH chưa biết cần làm gì để cứu giúp đồng bào bị nạn và khi tiến hành cứu giúp thì lại làm việc không chuyên nghiệp. Nhà nước vẫn nghi ngờ và hạn chế hoạt động của các tổ chức này, như quy định mọi nguồn quyên góp phải đưa vào kênh do nhà nước chỉ định; xe chở đồ cứu tế đều bị khám xét kỹ, có giấy phép mới được vào vùng tai nạn.

Sau vụ này, Chính phủ Trung Quốc nhanh chóng nhận thấy tác dụng to lớn của XHCD và đưa ra quan điểm “Nhà nước khuyến khích công dân, pháp nhân và các tổ chức khác tích cực tham gia công tác khôi phục tái thiết sau tai nạn động đất”. XHCD trở thành đề tài thảo luận rất rộng rãi, không còn bị kiêng kị nữa.

Nhận thức của ĐCSTQ về XHCD đã trải qua một quá trình từ phủ định tới khẳng định. Như chính ĐCSTQ thường nói, có nhiều sự vật nảy sinh không tùy thuộc vào ý chí của con người, mà XHCD là một thí dụ.

Trên thực tế một XHCD tương đối độc lập đã xuất hiện và trưởng thành không thể nào ngăn cản, đồng thời nó có ảnh hưởng ngày một quan trọng đối với tình hình chính trị, kinh tế và văn hóa của Trung Quốc. Từ thập niên 90 giới học thuật Trung Quốc triển khai mạnh mẽ đợt thảo luận về XHCD, kết quả là tính hợp pháp của XHCD (hoặc xã hội thị dân, theo cách gọi hồi ấy) được xã hội thừa nhận.

Hiện tượng đó về khách quan đã yêu cầu ban lãnh đạo Trung Quốc phải thừa nhận tính hợp pháp và tác dụng của XHCD, đồng thời có các biện pháp tích cực để dẫn dắt XHCD trưởng thành một cách lành mạnh.

Sau thập niên 80, Chính phủ Trung Quốc đã đẩy mạnh thực hiện cơ chế tự quản tại các cơ sở, chủ yếu trên 3 lĩnh vực: nông dân tự quản tại nông thôn, dân phố tự quản khu phố ở đô thị và tự quản ngành nghề. Ủy ban Thôn dân, Ủy ban Dân phố và các Hội ngành nghề là 3 loại TCXH của công dân thực hiện việc tự quản đó.

Hiến pháp và luật pháp quy định các Ủy ban thôn dân và Ủy ban dân phố không phải là một cấp cơ quan chính quyền mà là tổ chức dân gian (tức TCXH) và tổ chức tự quản.

Tháng 6/1998, Bộ Dân chính chính thức đổi tên Nha quản lý đoàn thể xã hội thành Cục quản lý các tổ chức dân gian. Tháng 10/2008, Chính phủ ban hành Điều lệ quản lý đăng ký các đoàn thể xã hội, trên cơ sở điều lệ cũ được sửa đổi lớn; đồng thời lần đầu công bố Điều lệ quản lý các đơn vị phi doanh nghiệp dân lập. Hai văn bản pháp lý này đã thay đổi cơ chế quản lý hành chính các TCXH của công dân (tức tổ chức dân gian) trước đây thành cơ chế lãnh đạo hai nấc là ngành Dân chính và đảng phụ trách, trong đó cơ quan Dân chính chịu trách nhiệm tổ chức đăng ký, cơ quan đảng chịu trách nhiệm quản lý.

Sự tồn tại hàng triệu tổ chức xã hội của công dân đã ảnh hưởng lớn đến đời sống chính trị – kinh tế ở Trung Quốc và trên mức độ nhất định đã làm thay đổi tình hình quản trị xã hội, nâng cao đáng kể sự tham gia chính trị của công dân, nâng cao mức độ liêm khiết và hiệu suất làm việc của các cơ quan đảng, chính quyền.

3. Hoạt động và vai trò tác dụng của các tổ chức xã hội

Trong cơ chế hai tầng quản lý, hầu hết các tổ chức xã hội (TCXH) của công dân đều vừa phục tùng sự lãnh đạo của đảng và chính quyền lại vừa giữ tính độc lập tự chủ của mình, ngoài ra, nhằm tăng cường quyền lợi của mình, họ còn cố gắng ảnh hưởng tới chính sách của đảng và chính phủ.

Thí dụ các tổ chức dân cư địa phương thường sử dụng các biện pháp kéo dân chúng lên gặp cấp trên phản ảnh tình hình, tố cáo, khiếu nại, thỉnh nguyện, thậm chí biểu tình ngồi hoặc mít tinh tuần hành, bao vây cơ quan đảng, chính phủ, đòi hỏi giải quyết các yêu cầu thiết thân của họ. Tình hình này thường xảy ra khi địa phương có việc cưỡng chế dỡ nhà giao đất, hoặc khi trật tự trị an kém, môi trường bị phá hoại.

Ngày càng có nhiều TCXH, nhất là tổ chức có thành viên là giới trí thức, muốn tham gia quá trình quyết sách của đảng và nhà nước. Hình thức chủ yếu họ sử dụng là tiến hành phản biện, góp ý phê phán, đề nghị cải tiến hoàn thiện các chủ trương chính sách của nhà nước. Thí dụ năm 2000, Viện Nghiên cứu kinh tế Thiên Tắc, tổ chức Những người bạn của thiên nhiên, Nhà sách Tam Vị đã công bố nhiều kiến nghị xây dựng về các vấn đề chính trị, kinh tế, ngoại giao, môi trường và đã có ảnh hưởng lớn trong xã hội.

XHCD Trung Quốc đã góp phần thực sự vào việc xây dựng ĐCSTQ trong sạch, xứng đáng với danh hiệu đội tiên phong của giai cấp công nhân và dân tộc Trung Hoa. XHCD xuất hiện đã làm cho ĐCSTQ từ một đảng chỉ lãnh đạo đường lối chiến lược, chuyển sang đóng vai trò một đảng cầm quyền. Tổng Bí thư Đảng đồng thời là Chủ tịch nhà nước, trực tiếp chịu trách nhiệm đối nội đối ngoại của quốc gia. Cùng với sự phát triển XHCD, ý thức dân chủ, ý thức phục vụ nhân dân, ý thức làm cầu nối của xã hội, ý thức nguy cơ và ý thức pháp trị của ĐCSTQ cũng được tăng cường không ngừng. Chẳng hạn, ý thức nguy cơ của Đảng sẽ được tăng cường bởi lẽ sự phản biện và giám sát của các TCXH đối với hoạt động của Đảng sẽ làm cho Đảng thấy được nguy cơ có thể tự đánh mất quyền lãnh đạo nếu Đảng không giữ được tính tiên phong và tỏ ra có năng lực tổ chức tốt mọi công việc của nhà nước. Như vậy sự phát triển XHCD sẽ giúp ĐCSTQ xây dựng được ý thức cầm quyền; ngược lại việc đó cũng có lợi cho sự phát triển XHCD.

Bản thân các TCXH, nhất là các tổ chức có tính độc lập tự chủ cao, cũng tỏ ra có những ưu điểm trội hơn các tổ chức của nhà nước về mặt tổ chức quản lý nội bộ và hiệu quả công tác. Điều đó đã làm cho vai trò tác dụng của các TCXH ngày càng được nâng cao. Thí dụ các hội người cao tuổi, các tổ chức dân cư (thôn dân, dân phố) lại làm được nhiều việc hơn các tổ chức đoàn thể quần chúng nặng màu sắc nhà nước như Đoàn Thanh niên cộng sản, Hội Phụ nữ. Quỹ Thanh Thiếu niên Trung Quốc là một sản phẩm của Đoàn Thanh niên cộng sản lại đạt được mức độ nhất trí nội bộ cao hơn Đoàn, hoạt động quyên góp từ thiện có kết quả cao hơn, và hăng hái phản biện các chủ trương chính sách của nhà nước, trong khi Đoàn TNCS không làm được chức năng này.

Xét về mặt công khai trong suốt hoạt động nội bộ, các TCXH của công dân cũng làm tốt hơn các tổ chức nhà nước. Thí dụ các Ủy ban Thôn dân ở nông thôn, Ủy ban dân phố ở thành thị đã thực hành rộng rãi công khai hóa mọi hoạt động và chi tiêu tài chính của mình, có mức độ trong suốt chính trị cao hơn hẳn các tổ chức chính quyền cơ sở. Tại Thượng Hải, cán bộ Ủy ban dân phố đi làm đều phải đeo biển chức danh; mọi công tác, thời hạn hoàn thành, chương trình làm việc, tên người phụ trách… đều phải viết thành biểu bảng treo trên tường cho dân biết Tại thôn Đông Thăng tỉnh Phúc Kiến, Ủy ban thôn dân công khai toàn bộ các nội dung: tiền lương, tiền thưởng và phụ cấp của cán bộ thôn; tình hình thu chi tài chính, thực hiện sinh đẻ có kế hoạch, tình hình nhận thầu đất đai ao hồ vườn cây, xí nghiệp; tình hình gọi thầu các dự án xây dựng; phân phối nhà đất; trưng dụng đất đai và bồi thường v.v…Công khai hóa được thực hiện bằng hai hình thức: viết thành biểu bảng treo trên tường và đọc trên hệ thống truyền thanh xóm. Ngoài ra còn đặt một số hòm thư bên lề đường để dân phản ảnh ý kiến.

Hoạt động công khai hóa nói trên đưa lại kết quả là cán bộ phụ trách các TCXH có tính độc lập tự chủ cao thường trong sạch liêm khiết hơn hẳn cán bộ chính quyền, qua đó có tác dụng đẩy mạnh giám sát chính quyền và phòng chống tham nhũng trong cán bộ chính quyền địa phương.

Hoạt động quản trị nội bộ của các TCXH còn có ưu điểm là mức độ dân chủ hóa cao. Toàn bộ cán bộ lãnh đạo các tổ chức này đều được bầu lên chứ không chỉ định. Các chủ trương chính sách đều được trưng cầu ý kiến dân trước rồi mới quyết định. Ngoài ra đều áp dụng cơ chế giám sát nội bộ khá nghiêm ngặt.

Những mặt trội nói trên thể hiện sự quản trị hoàn hảo của các TCXH đã có ảnh hưởng lớn tới đời sống chính trị của toàn xã hội Trung Quốc, thể hiện trên các mặt tạo dư luận đồng thuận để nhân dân tham gia quá trình quyết sách, tự quản lý xã hội, đòi chính quyền công khai hóa các hoạt động, phòng chống tham nhũng v.v…

Sự ra đời rất nhiều tổ chức dân gian đã hình thành XHCD ở Trung Quốc, đây là cầu nối quan trọng giữa chính quyền với công dân. Xã hội chỉ được quản trị hoàn hảo khi chính quyền và dân hợp tác tốt với nhau, nhưng sự hợp tác đó không phải bao giờ cũng là hợp tác trực tiếp mà phải thông qua sự điều phối của một tổ chức trung gian, đó là các tổ chức dân gian (còn gọi là tổ chức xã hội TCXH). Các TCXH này kịp thời tập trung mọi yêu cầu, nguyện vọng, đề nghị và ý kiến phê bình của dân chúng và chuyển tới cơ quan chính quyền.

Thực tế cho thấy các TCXH này đã thực hiện được sự tham gia chính trị ở mức độ cao hơn nhiều so với sự tham gia của các cá thể công dân, nhất là ở tầng nấc cơ sở tại nông thôn và thành thị.

Các TCXH trở thành nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới quyết sách của chính quyền và là động lực to lớn đẩy mạnh quá trình cải cách chính trị. Ngày một nhiều TCXH, nhất là các hội đoàn nghiên cứu học thuật có tính chuyên ngành, đảm nhiệm vai trò tư vấn tham mưu cho chính quyền khi nghiên cứu hoạch định các chủ trương chính sách, góp phần xúc tiến dân chủ hóa quyết sách.

Các TCXH ở Trung Quốc thường dùng những cách sau đây để tham gia quá trình quyết sách của chính quyền:

1- Phản ánh vấn đề, nêu kiến nghị, yêu cầu nhằm đưa ra các chủ trương chính sách thích hợp;
2- Tiến hành phản biện góp ý kiến đối với việc hoạch định và thực thi quyết sách;
3- Khi chủ trương chính sách của chính quyền gây thiệt hại cho lợi ích của thành viên TCXH, các tổ chức này đứng ra giao thiệp với ban ngành liên quan của chính quyền để giải quyết.

Nhìn chung các TCXH của công dân đã góp phần quan trọng xúc tiến nâng cao độ trong suốt chính trị của xã hội Trung Quốc. Trong nhiều trường hợp, công dân muốn nắm được thông tin về hoạt động của chính quyền thì chỉ có thể thông qua TCXH sở tại để gây sức ép đòi chính quyền cung cấp tin; cá thể công dân không đủ sức gây được sự chú ý của chính quyền. Ngoài ra các TCXH (như các hội nghiên cứu, tư vấn, hội học thuật) thường tổ chức hội họp thường kỳ, là những dịp quan trọng để cung cấp thông tin cho công dân. Một số TCXH còn lập cơ quan truyền thông của mình, như ra báo, tạp chí, báo điện tử, lập trang mạng để truyền bá các thông tin. Các hiệu sách tư nhân cũng có ảnh hưởng lớn tới việc mở rộng kênh thông tin, thay đổi cơ chế quản lý truyền phát thông tin.

Trên lĩnh vực công việc công ích, các TCXH của công dân đã phát huy tác dụng không thể thay thế. Thí dụ trong công tác từ thiện, xóa đói giảm nghèo, giúp người già yếu tàn tật v.v…các TCXH như Tổng hội Từ thiện Trung Hoa, Quỹ Tống Khánh Linh, … đã có tác dụng rất lớn. Việc làm của các TCXH đã cải thiện hình ảnh của xã hội Trung Quốc, xúc tiến sự hòa hợp giữa dân với chính quyền. Thí dụ “Dự án Hy vọng” do Quỹ Thanh thiếu niên Trung Quốc tổ chức thực hiện, Quỹ này đã tổ chức quyên góp được nguồn kinh phí lớn, giúp hàng triệu trẻ em nghèo được đi học. Quỹ này sinh ra từ hệ thống Đoàn Thanh niên cộng sản Trung Quốc, nhưng Đoàn không làm được việc này.

Hệ thống các TCXH của công dân trở thành lực lượng có tác dụng chế ước chính quyền. Về nguyên tắc, quyền lực và hoạt động của bất cứ chính quyền nào cũng phải được chế ước. Trước cải cách mở cửa việc này là do nội bộ chính quyền tự thực thi. Sau khi hàng loạt TCXH của công dân ra đời, chính quyền bắt đầu chịu sự giám sát và chế ước từ bên ngoài. Một số TCXH khi phát hiện thấy các bất hợp lý trong chủ trương chính sách đã tiến hành hoạt động ngăn cản một cách có tổ chức.

Trong nhiều trường hợp trước sức ép của các TCXH này, chính quyền đã sửa đổi chủ trương chính sách. Nơi nào các TCXH lớn mạnh thì chính quyền càng chịu sức ép lớn, hiện tượng cán bộ nhà nước tham nhũng và làm bậy giảm rõ rệt.

Thực tế cho thấy tầng lớp nông dân đấu tranh hăng hái nhất nhằm bảo vệ quyền lợi của họ (nhất là quyền giữ đất), chống tham nhũng và suy thoái trong giới quan chức địa phương. Các cuộc đấu tranh của họ nặng về tự phát và thiếu lý trí, dễ dẫn đến tình trạng dùng bạo lực. Đó là do nông dân còn chưa thành lập được nhiều TCXH của mình. Cũng cùng với mục tiêu như vậy nhưng tầng lớp trung lưu ở thành thị đấu tranh văn minh, ôn hòa hơn; đó là do họ có nhiều TCXH của mình hướng dẫn, tổ chức.

4. Quy mô của các tổ chức xã hội công dân Trung Quốc

Tính đến năm 2003 đã có 8.031.344 tổ chức xã hội của công dân được thành lập. Trong đó đã đăng ký 266.000, chưa đăng ký – 290.000 tổ chức; các đoàn thể do nhà nước lập ra như công đoàn, đoàn Thanh niên Cộng sản, Hội Phụ nữ có 5.378.424 tổ chức cơ sở; Hội người tàn tật, Hội Sinh đẻ có kế hoạch, Hội Liên hiệp văn nghệ có 1.338.220 tổ chức cơ sở; ngoài ra còn 758.700 các đoàn thể học sinh, văn nghệ giải trí thể thao v.v….

Một nguồn số liệu khác cho biết năm 2010 Trung Quốc có 450 nghìn TCXH đăng ký hoạt động và 250 nghìn TCXH chuẩn bị đăng ký; nếu kể cả các tổ chức chưa đăng ký thì trên thực tế hiện có khoảng 3 triệu TCXH và tăng với tốc độ mỗi năm 8-10%.

Sở dĩ các số liệu khác nhau vì mấy lý do: – Tiêu chuẩn xét TCXH không thống nhất, thí dụ có người nói các đoàn thể quần chúng do nhà nước lập ra (gần 5.4 triệu tổ chức cơ sở) không phải là TCXH; – Rất khó thống kê vì nhiều tổ chức không đăng ký.

Các TCXH này có mặt trong hầu như mọi hoạt động công ích và môi giới, dịch vụ xã hội: văn hóa, y tế vệ sinh, lao động, thể thao, bảo vệ môi trường, pháp lý, từ thiện v.v..,, sơ bộ hình thành một hệ thống. Riêng hơn 60 nghìn hội ngành nghề đã có hơn 20 triệu hội viên; hơn 40 nghìn hội học thuật tập họp hơn 5 triệu học giả; các hội chuyên ngành liên kết hơn 10 triệu thành viên. Sức mạnh kinh tế của các TCXH tăng đáng kể: tính tới cuối năm 2010 các tổ chức này có vốn cố định gần 109 tỷ RMB (Nhân dân tệ; 1 USD tương đương 7 RMB)), thu nhập hàng năm khoảng 124,7 tỷ RMB; thực ra những con số này rất nhỏ so với thực tế.

Gần đây các TCXH Trung Quốc bắt đầu quốc tế hóa; hiện nay các TCXH có tính toàn quốc của Trung Quốc đã đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo trong 122 tổ chức quốc tế, chức vụ ủy viên chấp hành trong 92 tổ chức quốc tế. Đây là một phát triển đáng chú ý của XHCD Trung Quốc.

Các TCXH đang phát huy tác dụng ngày càng quan trọng trong đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa.

Các tổ chức này tích cực tham gia mọi hoạt động kinh tế, thúc đẩy hợp tác và phát triển kinh tế. Bản thân họ tạo ra việc làm: trong các TCXH hiện có 5,4 triệu nhân viên chuyên trách, hơn 5 triệu nhân viên kiêm chức và hơn 25 triệu tình nguyện viên có đăng ký.

Về chính trị, các TCXH là kênh quan trọng để công dân tham gia quản lý xã hội, là cầu nối chính quyền với công dân, giúp tăng cường sự tín nhiệm giữa quan chức nhà nước với dân. Các TCXH đang tích cực tác động, xúc tiến sự khoa học hóa và dân chủ hóa quá trình quyết sách của các cấp chính quyền. Gần đây nhiều TCXH cấp địa phương bắt đầu gánh vác một phần dịch vụ công cộng của chính quyền sở tại, góp phần nâng chất lượng các dịch vụ này.

Các TCXH thường xuyên đảm nhiệm công tác xóa đói giảm nghèo, làm từ thiện. Do họ chủ động tích cực cứu trợ vụ tai nạn động đất Tứ Xuyên, các cấp chính quyền đã đánh giá tốt về họ và bắt đầu thực sự hợp tác với họ.

Về văn hóa, các TCXH có nhiều đóng góp về mặt xây dựng lối sống mới trật tự, vệ sinh, có văn hóa, đã tổ chức nhiều hoạt động văn hóa, thể thao ở địa phương.

5. Đặc điểm của xã hội công dân Trung Quốc

1. Do chính quyền chủ đạo: vì hầu hết các TCXH là do nhà nước lập ra và chỉ đạo, nhất là các TCXH đã đăng ký hợp pháp và có ảnh hưởng lớn như các tổ chức ngành nghề, đồng nghiệp, đoàn thể nghiên cứu, đoàn thể lợi ích. Tuy đảng và nhà nước cố gắng tăng cường tính tự chủ của các TCXH, quy định cán bộ lãnh đạo đảng và nhà nước không được nhận chức vụ lãnh đạo các tổ chức này nhưng trên thực tế các TCXH quan trọng đều tiếp nhận sự chỉ đạo của đảng, chính phủ.

Đó là do: – Điều lệ đăng ký và quản lý TCXH quy định các tổ chức này phải dựa vào một ngành chủ quản là một cơ quan đảng/nhà nước; – Hầu hết các TCXH có ảnh hưởng lớn đều do nhà nước lập ta, cho dù cuối cùng họ dần dần tách ra khỏi cơ quan sáng lập nhưng hai bên vẫn có quan hệ khăng khít; bên sáng lập vẫn là ngành chủ quản của TCXH đó; – Tuy chính phủ đã có quy định các TCXH về nguyên tắc phải tự lo kinh phí hoạt động, nhưng thực tế một số TCXH quan trọng vẫn được nhà nước cấp kinh phí, tức về tài chính vẫn ỷ lại nhà nước.

2. Môi trường cơ chế của Trung Quốc về vĩ mô tuy khuyến khích XHCD nhưng về vi mô thì chủ yếu vẫn hạn chế sự phát triển của XHCD. Việc đăng ký hoạt động và quản lý các TCXH còn rắc rối, thí dụ TCXH phải tiếp nhận sự quản lý của hai cơ quan chính quyền ngang cấp là cơ quan của Bộ Dân Chính và cơ quan quản lý cùng ngành.

3. So với phương Tây, các TCXH của Trung Quốc còn rất không chín muồi, chưa thể hiện rõ tính chất tự chủ, tự nguyện, phi chính phủ; còn nặng tính quá độ, tương ứng với thực tế xã hội Trung Quốc đang ở thời kỳ chuyển đổi.

4. Sự phát triển các TCXH còn chưa quy chế hóa tuy là năm 1998 Bộ Dân Chính đã ban hành Điều lệ mới về quản lý các tổ chức này.

Cụ thể: – Các TCXH quan trọng đã hành chính hóa cao độ như Công đoàn, Đoàn Thanh niên Cộng sản, Hội Phụ nữ trên thực tế không khác gì các cơ quan hành chính nhà nước, họ trực tiếp chịu sự lãnh đạo của cơ quan đảng và chính quyền các cấp, không phải đăng ký với Bộ Dân Chính. – Các TCXH đã tương đối hành chính hóa như các hội quản lý ngành nghề (Hội Công thương, Hội người tiêu dùng …) có biên chế nhất định, được coi là một cấp hành chính nhất định, người phụ trách do các cấp đảng và nhà nước cử. – Các TCXH về cơ bản là dân gian hóa, như các hội học thuật, hội nghiên cứu thì phần lớn chưa có biên chế chuyên trách, người lãnh đạo do họ tự bầu lên rồi trình cơ quan chủ quản duyệt, không được hưởng chế độ cấp bậc hành chính. – Các đơn vị dân lập phi doanh nghiệp là những TCXH rất đặc biệt, không có cấp bậc hành chính, trình độ hành chính hóa rất thấp, ngoài nghiên cứu chuyên môn và trao đổi ra còn làm một số dịch vụ chuyên ngành, như Viện Quản lý nghiên cứu Trung Quốc, Viện nghiên cứu phát triển Trung Quốc, Viện nghiên cứu văn hóa Trung Quốc.

5. Sự phát triển của các TCXH rất không cân đối, địa vị và ảnh hưởng trong đời sống kinh tế chính trị rất khác nhau, chủ yếu do khác nhau về nguồn lực, về cơ sở văn hóa, về thực lực kinh tế, về uy tín của người lãnh đạo.

6. Phương hướng phát triển xã hội công dân ở Trung Quốc hiện nay

Nhìn chung thái độ của xã hội Trung Quốc đối với các TCXH đã từ chỗ phủ nhận và nghi ngờ tiến tới khẳng định và ủng hộ. Tuy vậy vẫn còn không ít ý kiến lệch lạc. Điển hình nhất là quan điểm cho rằng các TCXH là đối thủ tự nhiên của chính quyền, vì thế một số cán bộ chính quyền có thái độ thiếu hợp tác với các tổ chức này. Nhà nước cũng chưa ban hành đầy đủ các văn bản pháp quy về hoạt động của các TCXH, do đó gây khó khăn cho họ..

Báo cáo chính trị của Đại hội Đảng CSTQ lần thứ XVII đề xuất: Phát huy tác dụng tích cực của các TCXH trên mặt mở rộng sự tham gia của quần chúng, phản ánh các khiếu nại của quần chúng, tăng cường chức năng tự trị xã hội. Sau đại hội, mối quan hệ giữa Đảng và chính phủ với các TCXH dần dần chuyển biến từ kiểm soát sang giúp các TCXH đào tạo cán bộ và khuyến khích họ hoạt động. Đề cương Kế hoạch 5 năm lần thứ XII lần đầu tiên chính thức nêu ra yêu cầu phải “tăng cường xây dựng các TCXH” – đây là một chuyển biến thực sự, quan trọng. Chính quyền các cấp bắt đầu tăng tài trợ cho các TCXH và giao cho họ bao thầu một số dịch vụ xã hội. Các nguồn tài trợ từ dân gian cho các TCXH cũng tăng dần. Tuy vậy nhìn chung nguồn lực của các tổ chức này hãy còn yếu và thiếu nhiều.

Phương hướng phát triển XHCD ở Trung Quốc hiện nay là tiếp tục xúc tiến toàn xã hội, nhất là quan chức đảng và nhà nước các cấp, nhận thức rõ ý nghĩa chiến lược của XHCD, qua đó có thái độ khuyến khích và hợp tác với các TCXH. Cần hoàn thiện các văn bản pháp lý liên quan, một mặt quản lý các TCXH theo luật, một mặt tăng tốc nới lỏng sự kiểm soát các tổ chức đó, tăng cường giúp họ đào tạo cán bộ và khuyến khích họ hoạt động. Chính quyền các cấp cần tích cực thu hút các TCXH tham gia việc hoạch định chính sách công, phát huy tác dụng của họ trong quản lý xã hội, cố gắng thực hiện nhà nước và nhân dân cùng quản lý xã hội.

Có thể khẳng định công dân tích cực tham gia sinh hoạt chính trị là con đường cơ bản thực hiện dân chủ; không ngừng mở rộng sự tham gia chính trị một cách có trật tự của công dân là mục tiêu của Đảng và Nhà nước Trung Quốc. Sự tham gia chính trị tốt nhất không phải là tham gia một cách tự phát, rời rạc mà là tham gia có tổ chức, thông qua các TCXH. Như vậy đỡ gây rắc rối và tốn kém cho chính quyền, đồng thời thể hiện được nguyện vọng của dân và cáng tăng được nhiệt tình tham gia của dân. Một XHCD kiện toàn là nền tảng của chính trị dân chủ, là hậu thuẫn vững chắc cho quyền dân chủ của dân.

Phát triển XHCD nhằm mục đích cuối cùng là thực hiện sự cai trị hoàn hảo (good government) mà người Trung Quốc cổ đại gọi là Thiện chính hoặc Nhân chính; đại để gồm mấy yếu tố: luật pháp nghiêm minh, quan chức thanh liêm, hiệu suất hành chính cao, dịch vụ hành chính tốt.

Trung Quốc hiện đang tích cực xây dựng xã hội hài hòa. Mâu thuẫn lợi ích là trở ngại lớn nhất của việc xây dựng xã hội hài hòa. Phát triển XHCD chính là biện pháp thúc đẩy xây dựng xã hội hài hòa, trong đó các TCXH có tác dụng quan trọng; không có XHCD lành mạnh thì không thể có một xã hội thực sự hài hòa.

Phát triển XHCD còn góp phần nâng cao năng lực cầm quyền của ĐCSTQ, trong đó có việc nâng cao hiệu suất công tác quản lý; muốn vậy cách hữu hiệu nhất là giao nhiều công việc xã hội cho các TCXH quản lý.

7. Hoạt động nghiên cứu xã hội công dân ở Trung Quốc

Trung Quốc bắt đầu nghiên cứu XHCD từ thập niên 80, khi khởi sự tiến trình cải cách mở cửa. Mới đầu chỉ có các nghiên cứu cá nhân với điểm xuất phát thấp; từ đầu thập niên 90 lần lượt xuất hiện các tổ chức chuyên nghiên cứu về XHCD, như Trung tâm XHCD ở một số trường đại học, xuất bản các tạp chí, lập các website về đề tài này.

Năm 1986 khi Trung ương ĐCSTQ xuất bản sách Hướng dẫn việc Xây dựng Nền Văn minh Tinh thần, trong đó nhấn mạnh việc “phát huy ý thức công dân xã hội chủ nghĩa,” giới học giả thấy đây là một cơ hội tốt để bắt đầu công khai thảo luận về khái niệm XHCD hồi ấy ai cũng cho là một vấn đề “nhạy cảm” tránh nói tới. Lấy ý tưởng từ đề tài “Ý thức công dân”, tạp chí Khoa học xã hội Thiên Tân đặt vấn đề xét lại cách dịch từ tiếng Đức burgerliche Gesellschaft trong tác phẩm Tháng 18 sương mù của Karl Marx. Từ này trước đây vẫn được dịch là xã hội tư sản, nay một học giả đề nghị dịch là xã hội thị dân. Nhiều người tham gia phát biểu ý kiến, nổ ra cuộc tranh luận về thị dân, công dân và xã hội công dân.

Giới học giả bình luận: Trước cải cách mở cửa, Trung Quốc thực hành cơ chế chính trị đơn nguyên hóa cao độ, “chính (quyền) xã (hội) hợp nhất”, hầu như công và tư, nhà nước và xã hội, chính quyền và dân hoàn toàn hợp nhất làm một; công nhấn chìm tư, nhà nước nhấn chìm xã hội, chính quyền nhấn chìm dân. Trong một xã hội toàn trị như vậy nhiều người hiểu xã hội thị dân nói trong tác phẩm của Marx là xã hội tư sản, “xã hội công dân” hoặc “xã hội dân gian” là thứ đối lập với chính quyền, Trung Quốc không thể cho phép tồn tại.

Sáng kiến của tạp chí Khoa học xã hội Thiên Tân làm cho khái niệm XHCD được đưa ra bàn thảo công khai mà không còn bị coi là vấn đề “nhạy cảm, cấm kỵ” nữa.

Tác phẩm đầu tiên viết về XHCD là cuốn Xây dựng xã hội thị dân Trung Quốc xuất bản năm 1992. Tác giả cho rằng quá trình nghiên cứu XHCD ở Trung Quốc có thể chia hai giai đoạn: – Thời kỳ 1992-2000: nghiên cứu vấn đề Trung Quốc có tồn tại XHCD hay không; có thể xây dựng được XHCD không; mối quan hệ giữa XHCD với hiện đại hóa XHCN. – Từ sau năm 2000 trở đi: chú trọng nghiên cứu lý luận XHCD của giới xã hội học phái tả phương Tây.

Tháng 1/2009, Nhà xuất bản Đại học Bắc Kinh phát hành Sách Xanh về sự phát triển xã hội công dân Trung Quốc, nhận định sự hình thành XHCD là một thành tựu vĩ đại của 30 năm cải cách mở cửa.

Tháng 4/2011, Trung tâm nghiên cứu XHCD của Đại học Bắc Kinh đã tổ chức cuộc hội thảo khoa học XHCD và xã hội hài hòa, thảo luận 3 đề tài: – XHCD và xã hội hài hòa; – Mối quan hệ giữa XHCD với chính quyền; – Con đường tự sinh trưởng của XHCD Trung Quốc.

Nhiều học giả đã phát biểu ý kiến

Cho tới nay giới học giả Trung Quốc vẫn tranh cãi nhiều về các vấn đề như: Thế nào là XHCD, Trung Quốc hiện nay có bao nhiêu TCXH, các tổ chức đó có tác dụng như thế nào, XHCD Trung Quốc có đặc điểm gì khác XHCD phương Tây, môi trường sinh tồn và phát triển của XHCD Trung Quốc ra sao, v.v…

ĐCSTQ đặc biệt quan tâm hướng dẫn cuộc thảo luận về XHCD nói trên. Cục Biên dịch thuộc Trung ương Đảng CSTQ đã viết nhiều tài liệu có giá trị về XHCD./.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s