Duy lý và bất duy lý của kiểm duyệt thông tin

Posted: July 24, 2012 in Uncategorized
Tags:

Ts Trần Vinh Dự ( VOA ) Kiểm duyệt thông tin là một cụm từ luôn gây nhiều tranh luận. Phía người bị kiểm duyệt thường nhìn nhận đây là công cụ của chính quyền nhằm hạn chế quyền tiếp cận thông tin của họ. Vì thế, nó hay được mô tả như một thứ công cụ xấu xa được dùng để chống lại đám đông quần chúng. …

Nhìn rộng ra, trong bất kỳ hình thái nhà nước nào, dưới bất kỳ chế độ nào, và bất kỳ giai đoạn lịch sử nào, kiểm duyệt thông tin luôn tồn tại. Sự tồn tại của nó dựa trên những lý do rất hợp lý, và nhiều khi là từ cả hai phía. Trong nhiều trường hợp, kiểm duyệt ít nhiều mang lại những lợi ích nhất định cho người bị kiểm duyệt và trong hầu như tất cả các trường hợp nó đều mang lại lợi ích cho người thực hiện việc kiểm duyệt.

Bài viết này nhằm thử tìm hiểu các lý do biện minh cho việc kiểm duyệt thông tin, và sau đó phân tích việc kiểm duyệt thông tin dưới góc độ của kinh tế học. Lợi ích đối với người bị kiểm duyệt:

Thứ nhất, kiểm duyệt nhằm ngăn chặn thông tin có thể gây tổn thương đến người khác. Thí dụ không cho trẻ nhỏ xem các bộ phim kích động bạo lực, rùng rợn, hoặc có nội dung kích dục, không đăng các bức tranh hay hình ảnh quá ghê sợ trên báo chí hoặc trên truyền hình. Dạng kiểm duyệt này thường được gọi là kiểm duyệt đạo đức (moral censorhip). Loại kiểm duyệt này thì ở đâu cũng có, trong mọi quốc gia và mọi nền văn hóa. Lý do này áp dụng đối với con trẻ thì hiếm có ai phản đối được. Tuy nhiên, có nhiều mức độ xác định thông tin nào cần được kiểm duyệt, thông tin nào được phép phổ biến dựa trên các tiêu chí về văn hóa, tôn giáo, chính trị, luật pháp, và các giá trị truyền thống, tập quan khác nhau. Vì thế nhiều khi có những tiêu chí kiểm duyệt tưởng như có lợi cho người bị kiểm duyệt nhưng trên thực tế không hẳn như vậy.

Thứ hai, kiểm duyệt nhằm lọc bớt các thông tin không thích hợp để giảm chi phí tìm kiếm. Thí dụ các công cụ tìm kiếm trực tuyến (search engines) như google, yahoo hay msn đều làm việc này. Kiểu kiểm duyệt này chỉ có ý nghĩa khi người thực hiện biết rõ người bị kiểm duyệt đang muốn tìm kiếm gì, và qua khả năng lọc tin của mình để giúp người bị kiểm duyệt tìm đúng cái mà họ muốn tìm. Không thể dùng lý do này để giải thích các trường hợp kiểm duyệt như một số trường hợp các quốc gia đã gây áp lực và yêu cầu google, yahoo và msn ngăn chặn công chúng của họ tìm kiếm các thông tin về một số chủ đề mà họ cho là nhạy cảm. Trung Quốc là điển hình của trường hợp kiểm duyệt qua các search engines này.

Thứ ba, kiểm duyệt đôi khi được giải thích là nhằm bảo vệ công chúng khỏi các thông tin sai lệch. Thí dụ trong nhiều trường hợp các phe chống đối nhau và sử dụng công cụ chuyền thông để tuyên truyền. Vì thế, để bảo vệ công chúng của mình khỏi các thông tin tuyên truyền của phía bên kia, các thông tin đó phải bị kiểm duyệt. Lý do này không hẳn không đúng, tuy nhiên vấn đề ở chỗ liệu người kiểm duyệt có thực sự đại diện cho lợi ích của đám đông hay không. Và ngay cả nếu người kiểm duyệt thực sự đại diện cho lợi ích của đám đông, thì là làm thế nào người kiểm duyệt luôn biết được thông tin nào đúng thông tin nào sai để ngăn cản các thông tin sai?

Thứ tư, kiểm duyệt nhằm không truyền bá các thông tin có thể gây phẫn nộ cho một nhóm người. Thí dụ không đăng các bức tranh, cartoon hay phim ảnh đả kích các vấn đề dân tộc, tôn giáo hay giới tính. Có một nhánh trong khái niệm kiểm duyệt này thường được nhắc đến là kiểm duyệt tôn giáo (religious censorship). Ví dụ nổi bật về vụ này là trường hợp tờ Jyllands-Posten đăng bức hình cartoon về nhà tiên tri của người Hồi Giáo – Muhammad. Vụ này đã dẫn tới các cuộc biểu tình và động loạn ở khắp nơi trên thế giới với khoảng hơn trăm người bị bắn chết.

Thứ năm, kiểm duyệt nhằm Bảo vệ lợi ích quốc gia: Với một số thể chế độc đoán như Bắc Hàn hay trước đây là Myanmar, việc kiểm duyệt thông tin còn nhằm để bảo vệ chế độ đương quyền. Thí dụ trong thời căng thẳng cao điểm hồi tháng 9 năm 2007, chính quyền Than Shwe đã cắt internet và mạng điện thoại di động để người dân không còn công cụ thông tin cho nhau. Ở các nước khác, ngay cả Mỹ, người ta cũng hay viện lý do “national security” (an ninh quốc gia) để kiểm duyệt các tin bị cho là nhạy cảm – thí dụ như tin liên quan đến việc quân đội Mỹ đánh đập tù nhân hay những chuyện không mấy hay ho tương tự như vậy. Kiểm duyệt để bảo vệ lợi ích quốc gia đôi khi cũng là một việc làm chính đáng, tuy nhiên nó đôi khi không có cơ sở rõ ràng và dễ bị khai thác một cách tùy tiện bởi những người cầm quyền.

Đó là 5 lý do thông dụng nhất thường được dùng để biện minh cho hành vi kiểm duyệt. Thế nhưng việc kiểm duyệt thông tin có thực sự có lợi cho xã hội hay không? Có lẽ sẽ không có một câu trả lời triệt để, nhưng đứng dưới một góc nhìn cụ thể thì có thể sẽ có câu trả lời cho câu hỏi này.

Nếu dùng góc nhìn của kinh tế học chính thống để nhận định về kiểm duyệt thì hầu như không có gì nhiều để nói. Con người mà kinh tế học chính thống nghiên cứu là con người duy lý thuần túy. Người duy lý thuần túy không thể tức giận hay phẫn nộ vì thông tin, cũng không thể tổn thương vì thông tin. Chỉ có một hướng duy nhất để biện minh cho kiểm duyệt đứng dưới góc độ kinh tế học là nó nâng cao chất lượng thông tin. Nghiên cứu về chất lượng thông tin là một hướng nghiên cứu đang bùng nổ trong kinh tế và nhiều khả năng trong tương lai sẽ có người nhận giải Nobel từ các khám phá trong lĩnh vực này.

Một hướng khác của kinh tế học là không nhìn nhận con người như những chủ thể duy lý tuyệt đối. Người ta gọi những nghiên cứu này là kinh tế học hành vi (behavior economics). Nhánh behavior economics đã phát triển được một đoạn khá dài và đã động đến một số vấn đề thú vị trong cái bất duy lý của hành vi của con người như bounded rationality (duy lý hạn chế – chỉ suy nghĩ được ở mức độ nhất định chứ không thể quá phức tạp), bounded willpower (bản lĩnh kém – đôi khi làm những việc mà về lâu dài không có lợi cho mình) và bounded self-interest (vị kỷ hạn chế – không phải lúc nào cũng chỉ nghĩ đến mình). Tuy nhiên nếu muốn dùng behavior economics để giải thích lý do cần kiểm duyệt thì buộc phải thừa nhận là có những người duy lý hơn người khác, chính quyền duy lý hơn công chúng… và vì tôi coi giả định như vậy là tương đối vô căn cứ, tôi sẽ không bàn thêm theo hướng này nữa.

Bây giờ quay lại vấn đề chất lượng thông tin. Thông thường khi nói đến thông tin, người ta thường đặt câu hỏi “biết đến đâu? biết tới mức nào?” và mô hình hóa nó dưới dạng một hàm số xác suất. Với mô hình này, người ta có thể nói: “mặc dù tôi không biết chính xác chuyện gì sẽ diễn ra, tôi có thể biết khả năng xảy ra của một biến cố bất kỳ là bao nhiêu” dựa trên các thông tin mà tôi có. Thí dụ một chàng trai đi hỏi vợ thời xưa có khi không biết mặt vợ chưa cưới. Nhưng nếu chàng trai nghe nhiều người nói cô nàng xinh đẹp, tính tình dễ thương, thông minh…và những thông tin này không mâu thuẫn nhau, thì chàng có thể hình dung ở mức tương đối đại khái nàng sẽ như thế nào.

Mô hình này sẽ gặp phải vấn đề nếu trong mớ thông tin của người ra quyết định có các thông tin trái ngược, lẫn lộn với nhau. Trong trường hợp trên, giả như chàng trai gặp phải 2 luồng thông tin trái chiều, một số người thì cho biết nàng rất được, và trên cơ sở đó chàng trai tưởng tượng ra một khả năng tới 80% là nàng xinh đẹp, 20% là nàng cũng ưa nhìn, và 0% là nàng xấu. Trong khi một số người khác thì lại đưa ra những thông tin là 90% xấu, 10% trung bình, và 0% là đẹp.

Như vậy trong trường hợp này chàng có đến 2 hàm số phân phối xác suất khác nhau. Kinh tế học gọi là ambiguity[1] (- tạm dịch là nhiễu loạn- đây là một hướng nghiên cứu rất mới). Giả như thông tin quá nhiễu loạn và bạn có tới hàng trăm hàm phân phối xác suất khác nhau thì ngay như người ra quyết định là một người duy lý thì cũng rất khó để có thể thực hiện tối ưu hóa và chọn ra một quyết định tối ưu nhất.

Trong những trường hợp thông tin bị nhiễu loạn như vậy, giả như có một thể chế [nhà nước chẳng hạn] có khả năng “phá nhiễu”, và kiểm duyệt hết các thông tin sai lệch để chỉ còn lại những thông tin đúng thì việc ra quyết định của các cá nhân sẽ đơn giản hơn, và vì thế cuộc sống sẽ tốt đẹp hơn. Việc kiểm duyệt này nhìn bề ngoài có vẻ hợp lý, vì nó giảm chi phí giao dịch trong các hoạt động của đời sống xã hội, làm cuộc sống đơn giản hơn. Thế nhưng, không phải là nó không có mặt trái.

Mặt trái rõ ràng nhất của nó là làm cách nào để phân định được thông tin nào “đúng” và thông tin nào là “sai”. Ai hoặc thể chế nào có năng lực để biết và quyền phán quyết đúng/sai trong mỗi trường hợp có các luồng thông tin mâu thuẫn nhau?

Mặc trái khác, quan trọng hơn, là khi người kiểm duyệt kiểm soát thông tin của ngườ khác, cũng có nghĩa là người kiểm duyệt kiểm soát suy nghĩ và hành vi của người khác. Điều này rất dễ thấy qua ví dụ chàng trai đi hỏi vợ ở trên. Giả sử luồng thông tin “nàng xinh” bị kiểm duyệt đi và chàng là một người duy lý thì chàng sẽ không đi hỏi cưới cô gái kia. Đảo lại, nếu luồng thông tin “nàng xấu” bị kiểm duyệt đi thì chàng sẽ đi hỏi cưới. Biết được điều này, người kiểm duyệt có thể điều khiển hành vi của chàng như điều kiển một con rối thông qua việc quyết định cho chàng trai biết gì và không biết gì.

Tóm lại, đứng dưới góc nhìn của kinh tế học chính thống, hành vi kiểm duyệt là hành vi không thể biện minh, ngay cả khi nó dựa trên lập luận rất thuyết phục là giảm nhiễu thông tin. Tuy nhiên, kinh tế học phải dựa trên giả định là con người là tư duy không phụ thuộc vào cảm xúc, và có khả năng tư duy để tìm ra giải pháp tối ưu nhất dựa trên các nguồn thông tin mà họ có.

Màn hình tại một quán Internet tại Việt Nam,
cảnh báo khách hàng không được truy cập những trang web "phản động" hay "đồi trụy"

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s