200 đại học hàng đầu châu Á

Posted: September 17, 2012 in Uncategorized
Tags:

Trần-Đăng Hồng ( Tia Sáng ) Hàng năm Công Ty Đánh Giá Đại Học – QS World University Rankings – công bố kết quả đánh giá đại học trên khắp thế giới dựa theo 6 tiêu chuẩn tuyển chọn: …

(1) Thang điểm về danh tiếng đại học (Academic reputation score), (2) thang điểm danh tiếng về tìm việc làm của sinh viên tốt nghiệp tại các doanh nghiệp nỗi tiếng (Employer reputation score), (3) thang điểm về sỉ số sinh viên/giáo sư (Faculty – student ratio score), (4) thang điểm về giảng dạy cho quốc tế (International Faculty score), (5) thang điểm về số lượng sinh viên quốc tế (International students score), và (6) thang điểm về tài liệu nghiên cứu (publication) được ghi trong tài liệu tham khảo (citations per Faculty score). Từ 6 thang điểm này kết hợp thành thang điểm tổng kết (Overall score) đánh giá của mỗi đại học.

Đầu tháng 9/2012, cơ quan đánh giá QS đã công bố kết quả toàn cầu (chi tiết xem tại: khoahocnet).

Theo đó danh sách quốc gia có tên trong danh sách 200 đại học hàng đầu Á Châu năm 2012 bao gồm:

1. Nhật Bản: 56 đại học.
2. Trung quốc: 48 đại học
3. Đại Hàn: 31 đại học (Nam Hàn)
4. Đài Loan: 20 đại học
5. Ấn Độ: 11 đại học
6. Thái Lan: 9 đại học
7. Hồng Kông: 8 đại học
8. Mã Lai: 8 đại học
9. Indonesia: 6 đại học
10. Phi Luật Tân: 4 đại học
11. Singapore: 2 đại học
12. Pakistan: 2 đại học

Trong đó các quốc gia không có thay đổi số lượng đại học trong danh sách trong 2 năm 2011 và 2012 là Hồng Kông (6 đại học), Mã lai (5 đại học), Philippines (2 đại học), Ấn Độ (8 đại học), Singapore (2 đại học), Pakistan (1 đại học).

Quốc gia có gia tăng đại học trong danh sách là Trung quốc (từ 14 năm 2011 lên 20 năm 2012), Hàn Quốc (từ 16 năm 2011 lên 19 năm 2012), và Đài Loan (từ 11 năm 2011 lên 12 năm 2012). Quốc gia giảm số đại học trong danh sách là Nhật Bản (từ 26 năm 2011 xuống 25 năm 2012), Thái Lan (từ 5 năm 2011 xuống 3 năm 2012), Indonesia (từ 4 năm 2011 xuống 1 năm 2012).

Quốc gia có đại học số 1 châu Á vẫn là Hồng Kông, năm 2012 là The Hong Kong University of Science and Technology (nhảy lên từ hạng 3 năm 2011) , trong lúc năm 2011 hạng 1 là University of Hong Kong, năm 2012 tụt xuống hạng 3 của Châu Á. National University of Singapore (NUS) của Singapore vẫn giữ hạng 2 suốt trong 2 năm.

Seoul National University số 1 của Hàn Quốc nhảy từ hạng 6 năm 2011 lên hạng 4 năm 2012, và đại học Korea Advanced Institute of Science & Technology nhảy từ hạng 11 năm 2011 lên hạng 7 năm 2012.

The University of Tokyo số 1 của Nhật tụt từ hạng 4 năm 2011 xuống hạng 8 năm 2012. Đại học Peking University số 1 của Trung quốc nhảy vọt từ hạng 13 năm 2011 lên hạng 6 năm 2012. Đại học dẫn đầu của Đài Loan là National Taiwan University (NTU) tăng từ hạng 21 năm 2011 lên hạng 20 năm 2012.

Đại học số 1 của Thái Lan là Mahidol University tụt từ hạng 34 năm 2011 xuống 38 năm 2012. Đại học số 1 của Mã Lai là Universiti Malaya (UM) tăng từ hạng 39 năm 2011 lên hạng 35 năm 2012. Đại học số 1 của Indonesia là University of Indonesia tụt hạng từ 50 năm 2011 xuống hạng 59 năm 2012. Đại học số 1 của Phi Luật Tân là University of the Philippines tụt từ hạng 62 năm 2011 xuống 68 năm 2012.

Tọa lạc trên một quả đồi nhìn ra vịnh Clearwater của bán đảo Sai Kung thuộc Hong Kong, Đại học Khoa học và Công nghệ Hong Kong là một trong những trường có khuôn viên đẹp nhất thế giới và đào tạo quản trị kinh doanh tốt nhất châu Á.

Vị trí của Đại học Việt Nam

Việt Nam không có trong danh sách 100 đại học hàng đầu châu Á năm 2011, cũng không hiên diện trong số 200 đại học hàng đầu Á Châu năm 2012. Nếu truy tầm thêm trong danh sách tới 300 đại học Á Châu thì Viêt Nam có 1 đại học duy nhất là Vietnam National University Hanoi, trong lúc đó Hàn Quốc có 55 đại học, Mã Lai 15 đại học, Thái Lan 12 đại học, Indonesia 10 đại học và Philippines 5 đại học nằm trong danh sách 300 đại học hàng đầu châu Á.

Đại học Quốc Gia Việt Nam tại Hà Nội với 4 ngàn năm văn hiến nằm đồng hạng với các đại học tỉnh lẻ như Walailak University của Thái Lan, hay University of Brawijaya và Diponegoro University của Indonesia.

Harvard University
Xem hình ảnh Danh sách 100 trường Đại học xuất sắc nhất thế giới tại GDVN

700 Đại học hàng đầu thế giới: Việt Nam chỉ có một trường
(GDVN) – Đại học Quốc gia Hà Nội là trường duy nhất của Việt Nam lọt vào danh sách 700 trường đại học hàng đầu thế giới. Đứng đầu là Học viện Công nghệ Massachusetts (MIT) của Mỹ.

Quacquarelli Symonds Ltd. (QS) vừa công bố bảng xếp hạng cho 700 trường đại học trên toàn thế giới cùng danh sách 250 đại học hàng đầu châu Mỹ Latin và 300 đại học hàng đầu châu Á năm 2012. Đại học Quốc gia Hà Nội chỉ đứng ở trong danh sách từ 201-250. Trong khi đó, đứng đầu trong danh sách 300 của châu Á là Đại học Khoa học và Công nghệ Hồng Kông, tiếp sau là Đại học Quốc gia Singapore (NUS) và thứ ba là Đại học Hồng Kông.

Việt Nam tụt hạng về chỉ số trí tuệ
( TN ) Năm 2012, Việt Nam tụt hạng trên bảng chỉ số đổi mới toàn cầu (Global Innovation Index) của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (World Intellectual Property Organization – WIPO) thuộc Liên Hiệp Quốc.

9.000 giáo sư không có sáng chế, tại sao nông dân có?
( phapluattp ) Tuần qua, Dự luật Khoa học và công nghệ (KHCN) sửa đổi đã được Bộ KH&CN giải trình trước Ủy ban Thường vụ QH, trong đó trọng tâm là sửa đổi cơ chế tài chính.

Khoản ngân sách trị giá 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm được Bộ trưởng Bộ KH&CN Nguyễn Quân đánh giá là mặc dù ở mức thấp nhưng sử dụng lại còn không hiệu quả.

Trong khi đó, theo Chủ nhiệm Văn phòng QH Nguyễn Hạnh Phúc, do vướng bận các thủ tục hành chính về thanh quyết toán mà “các nhà khoa học lo về tiền còn vất vả hơn nghiên cứu, dẫn đến hiệu quả hạn chế, làm xong ứng dụng thực tế thì ít mà lưu kho thì nhiều, trong khi chính người nông dân lại tự sáng tạo ra nhiều máy móc phục vụ sản xuất hiệu quả”.

Vấn đề miếng bánh ngân sách đầu tư cho KHCN còn thấp và cơ chế tài chính nhiều bó buộc, nhiêu khê đối với nhà khoa học là một thực tế. Việc Nhà nước ôm chặt các cơ sở nghiên cứu khoa học cả về kế hoạch nghiên cứu, kế hoạch nhân sự lẫn kế hoạch chi tiêu dẫn đến hạn chế về chất lượng nghiên cứu cũng là một thực tế. Tình trạng thiếu một cơ chế tự do học thuật để các nhà khoa học có thể độc lập về đường lối nghiên cứu và đi đến cùng trong khoa học cũng là một thực tế. Tuy nhiên, nếu đổ hết lỗi lầm của một nền khoa học yếu kém cho cơ chế như vậy thì vai trò của các nhà khoa học nằm ở đâu?

Nông dân Nguyễn Kim Chính (trái) – người say mê sáng tạo bên sản phẩm trưng này tại HC.
Chúng ta có hàng trăm trường đại học, hàng nghìn cơ sở nghiên cứu, hàng chục nghìn cán bộ nghiên cứu, hàng chục nghìn tiến sĩ, hơn 9.000 giáo sư nhưng cuối cùng người sáng chế ra chiếc máy gặt lúa, máy thu hoạch hoa quả, máy cắt tỉa cành lại là một người nông dân.

Cho đến nay ông Nguyễn Kim Chính ở Bình Định đã sở hữu tới ba sáng chế liên quan đến các loại máy nông nghiệp và ngày 13-9 vừa qua, ông tiếp tục công bố sáng chế máy tuốt đậu phộng mà theo ông là chưa có mặt trên thị trường Việt Nam. Riêng sản phẩm máy gặt lúa của ông đã bán được tới 200 chiếc cho các khách hàng trong nước và cả nước ngoài, tính từ năm 1998 đến nay. Tất cả kết quả này của ông Chính đến từ khoản đầu tư 15 triệu đồng mua máy gặt lúa hồi cuối những năm 1990 của gia đình ông. Ông Chính mới chỉ học hết lớp 7 trường làng và tự mày mò làm lấy tất cả.

Trong khi đó, năm 2011 và 2012, riêng kinh phí cấp phát cho các đề tài nghiên cứu cấp nhà nước đã là 3.667 tỉ đồng. Nếu tính đến các khó khăn về cơ chế, tài chính thì thời đại nào và ở đâu các nhà khoa học cũng gặp phải. Xét một cách khách quan thì điều kiện nghiên cứu ngày nay đã tốt hơn hẳn và thuận lợi hơn hẳn so với các thời kỳ trước đây. Lý do sử dụng kinh phí không hiệu quả, trước hết phải hỏi các nhà khoa học.

9.000 giáo sư và một lời nói dối
Đào Tuấn ( daotuanddk ) Tháng trước, Vụ trưởng Vụ Pháp chế Bộ Khoa học- công nghệ, tổ trưởng tổ biên tập Dự án Luật khoa học công nghệ đã có câu nói để đời: Cơ chế tài chính (cho nghiên cứu khoa học) này buộc người ta nói dối, chấp nhận cho người ta nói dối và khuyến khích người ta nói dối.

Cái cơ chế tài chính đó là sự bọt bèo khi cả nền khoa học, công nghệ nước nhà hàng năm “ngửa tay, mỏi mồm” để được 2% tổng chi NSNN, có nghĩa chưa tới 0,6 GDP, có nghĩa chỉ hơn 13 ngàn tỷ mỗi năm, tương đương mức đầu tư cho một cái…Viện bảo tàng lịch sử. Cái cơ chế đó là việc cấp phát tài chính theo năm tài khóa, trễ đến nỗi các nhà khoa học chưa kịp nhận tiền đã phải quyết toán.

Và sự buộc, chấp nhận, khuyến khích các vị giáo sư, tiến sĩ nói dối còn ở một chế độ tài chính “không theo giá thị trường” khiến các nhà khoa học phải bịa ra báo cáo đề tài, hóa đơn chứng từ, khai khống ăn ở để có đủ hồ sơ quyết toán.

Nhưng rõ ràng, tiền không phải là vấn đề duy nhất của công tác nghiên cứu khoa học tại Việt Nam.

Tuần rồi, khi dự án luật này được đưa ra thảo luận, Bộ trưởng Bộ KH-CN Nguyễn Quân đánh giá 2% GDP cho nghiên cứu khoa học, công nghệ vừa “ở mức thấp” và vừa “sử dụng lại còn không hiệu quả”…

Theo số liệu của Ủy ban khoa học, công nghệ và môi trưởng của QH, Việt Nam có hơn 5 vạn cán bộ nghiên cứu khoa học đang “nghiên cứu” trong hơn 1.100 viện, cơ sở nghiên cứu các loại. Nhưng rút cục, đến cái máy tuốt lạc nông dân vẫn cứ phải trông vào một nhà nghiên cứu không phải giáo sư, cũng chẳng tiến sĩ khi mà nền công nghiệp của một đất nước đông giáo sư tiến sĩ như Việt Nam thậm chí còn không làm nổi một chiếc vít, theo đúng nghĩa đen của từ này, cho Canon Việt Nam.

Việc các nhà khoa học lo tiền, để nghiên cứu, còn vất vả, khốn khổ hơn cả việc nghiên cứu là một hiện thực. Nhưng có một hiện thực khác còn trái tai gai mắt hơn nhiều. Đó là việc, nói như Chủ nhiệm Văn phòng QH Nguyễn Hạnh Phúc: nghiên cứu xong “ứng dụng thực tế thì ít mà lưu kho thì nhiều”.

Chuyện nghiên cứu cái máy tuốt lạc ở Bình Định hay chiếc vít cho Canon, có lẽ không đơn thuần vì ít tiền, vì thiếu tiền. Bởi sự “chất đống trong kho” của các nghiên cứu khoa học, bỏ mặc khoảng trống mênh mông ngoài thực tế, suy cho cùng là vì ít nhiệt huyết và thiếu trách nhiệm của các nhà khoa học, các giáo sư, tiến sĩ, với những đồng tiền nghiên cứu, dù còn ít ỏi, nhưng là tiền thuế mồ hôi nước mắt của không ít trong đó là nông dân.

Hơn 9.000 giáo sư sao không có bằng sáng chế?
( VNN ) Từ năm 2006 – 2010, Việt Nam chỉ có 5 bằng sáng chế được đăng ký tại Mỹ, trung bình mỗi năm có 1 bằng sáng chế. Trong khi đó, năm 2011, chúng ta không có bằng sáng chế nào được đăng ký.

Không bằng sáng chế là chuyện… bình thường?!

Một chỉ số quan trọng và khách quan để đánh giá thành tựu khoa học của một nước là số bằng sáng chế. Số bằng sáng chế không chỉ phản ánh hiệu quả thực tiễn của các kết quả nghiên cứu lý thuyết, mà còn cho biết tiềm lực về nghiên cứu ứng dụng. Thực tế cho thấy những nước có nhiều bằng sáng chế thì thường xuất khẩu những sản phẩm công nghệ cao và thu được nhiều lợi nhuận.

Bằng sáng chế là hình thức sở hữu trí tuệ. Nó bao gồm một tập hợp các quyền độc quyền được cấp bởi một nhà nước có chủ quyền cho một nhà phát minh, hoặc nhận chuyển nhượng của họ trong một khoảng thời gian giới hạn để đổi lấy việc công bố công khai một kết quả sáng chế. (…)

Tiêu chuẩn để đề bạt GS, PGS
Nguyễn Văn Tuấn (Viện Nghiên cứu Y khoa Garvan – Úc) ( NLĐ ) Hy vọng những đề nghị cải cách này sẽ góp một phần vào việc nâng cao sự hiện diện khoa học Việt Nam trên trường quốc tế và đưa các đại học Việt Nam hội nhập quốc tế. Thông tư của Bộ GD-ĐT có nói đến tiêu chuẩn về công bố khoa học nhưng theo tôi thấy vẫn còn khá chung chung và có thể ứng dụng khác nhau theo cách hiểu và diễn giải của từng trường đại học (ĐH).

Để tối thiểu hóa vấn đề này, tôi đề nghị 4 tiêu chuẩn chung: Thứ nhất là thành tựu nghiên cứu khoa học – Thứ hai là giảng dạy – Thứ ba là phục vụ cho chuyên ngành – Thứ tư là đóng góp vào các hoạt động cộng đồng.(…)

Phải phù hợp với chuẩn quốc tế Chức danh GS mang tính quốc tế và cách đề bạt cũng như tiêu chuẩn phải phù hợp với chuẩn mực quốc tế. Một người có chức danh này phải xứng đáng với danh xưng đó, qua những thành tựu khoa học, giảng dạy và phục vụ cho chuyên ngành và cộng đồng. Tôi nghĩ công chúng không đòi hỏi GS Việt Nam phải đáp ứng các tiêu chuẩn GS quốc tế (vì điều này rất khó và không thực tế) nhưng ít ra tiêu chuẩn chung và quy trình đề bạt phải phù hợp với những gì các trường ĐH trong vùng và trên thế giới đã và đang làm.


Trương Duy Nhất bình: Nhận giải thưởng nhà nước cao quí vinh hạnh thế, sao không ngửa mặt thẳng đầu lên, lại phải cúi mặt khom mình đến vậy? Tư thế người trí thức hèn mạt đến vậy sao? Hiền tài là nguyên khí quốc gia. Người đáng ôm tay cúi đầu trong trường hợp này phải là Chủ tịch nước Trương Tấn Sang.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.