Nợ xấu ngân hàng từ đâu?

Posted: September 21, 2012 in Uncategorized
Tags:

Thái Bình ( Bauxite VN ) Từ năm 2007 đến cuối năm 2011, Chính phủ Việt Nam điều hành nền kinh tế chạy theo chỉ số GDP. Hằng năm Chính phủ trình Quốc hội các chỉ tiêu kinh tế xã hội phát triển đất nước trong đó có chỉ số tăng trưởng GDP, kế hoạch của Chính phủ được Quốc hội ủng hộ, chỉ số GDP hằng năm càng cao càng tốt. Khả năng nền kinh tế có hạn trong khi chính phủ đưa ra chỉ số GDP cao và phấn đấu đạt bằng được với mọi giá mà không tính đến hậu quả. …

Để đạt được chỉ tiêu GDP (Gross Domestic Product) hằng năm bằng mọi giá phải tăng cường đầu tư, tỷ lệ vốn đầu tư trên tổng sản phẩm quốc nội tăng nhanh hằng năm và nay vào hàng cao so với các nước có cùng trình độ phát triển.

Trong khi nguồn vốn đầu tư có hạn, muốn hoàn thành được các hạng mục đầu tư phải tăng nguồn cung tiền cho nền kinh tế từ ngân sách, đi vay, phát hành trái phiếu, lạm phát, tín dụng tăng trưởng rất nóng…

Hậu quả là kinh tế vĩ mô bất ổn, thể hiện các mặt sau:

+ Nợ công tăng rất nhanh từ mức rất thấp (trên dưới 20% GDP) đến nay đã trên 50% GDP.

+ Tín dụng tăng trưởng nóng gây áp lực tăng giá và lạm phát.

+ Tăng cường đầu tư phải tăng cường nhập khẩu máy móc thiết bị, nguyên vật liệu khiến nhập siêu tăng nhanh có năm tới cả chục tỷ đô la Mỹ; nền kinh tế mất cân đối nghiêm trọng về thu chi ngoại tệ làm tỷ giá hối đoái tăng nhanh, đẩy chỉ số CPI (Consumer Price Index) tăng cao gây khó khăn cho sản xuất và đời sống người dân.

+ Chỉ số năm 2011 tăng lên mức kỷ lục châu Á (gần 19%).

+ Đầu tư dàn trải, nhiều dự án kém hiệu quả, mà tập trung nguồn lực lớn các Tập đoàn gây thất thoát lãng phí rất lớn, đóng góp tăng trưởng GDP của các Tập đoàn kinh tế không tương xứng với mức đầu tư.

+ Thị trường bất động sản tăng trưởng quá nóng, giá bất động sản phi mã.

+ Các ngân hàng thi nhau đổ tín dụng vào bất động sản nhằn hưởng lãi suất cao hơn các ngành khác.

+ Cùng với tác động xấu của kinh tế thế giới kết hợp với điều hành yếu kém của ta gây khó khăn cho sản xuất vì thế tăng trưởng GDP có xu hưởng giảm.

+ Năm 2011 nguồn vốn đầu tư nước ngoài của thế giới nói chung tăng trưởng rất tốt còn ViệtNamsuy giảm lớn.

+ Mặc dù GDP năm 2011 vẫn tăng trưởng trên 5%, nhưng đời sống người dân đi xuống, đặc biệt là tầng lớp nghèo, vì chỉ số CPI tăng quá lớn, gần 19% năm 2011.

Khi nhận ra tình hình bất cập trên, thay vì xử lý mềm mại từ từ, thì chính phủ không vận hành như vậy mà thắt chặt ngay chính sách tiền tệ, tài khoá vì thế tuy đạt được một số chỉ tiêu nhưng hậu quả rất nặng nề:

+ Hàng chục ngàn doanh nghiệp phá sản, những doanh nghiệp không phá sản nhưng đình đốn sản xuất tồn kho sản phẩm cao, hàng vạn lao động thất nghiệp.

+ Thị trường bất động sản bong bóng bị vỡ.

+ Cán cân xuất nhập khẩu 8 tháng đầu năm 2012 tương đối cân bằng, lý do chính không phải ta tăng trưởng được xuất khẩu mà là sản xuất trong nước đình trệ do vậy nhu cầu nhập khẩu thấp.

+ Tăng trưởng GDP sáu tháng đầu năm 2012 thấp nhất hơn mười năm qua.

Như vậy hàng chục ngàn doanh nghiệp phá sản, thị trường bất động sản đóng băng, các tập đoàn kinh tế nhà nước đa phần kinh doanh kém hiệu quả, trong đó một số tập đoàn làm thất thoát và lãng phí lớn vốn và tài sản như Vinashin, Vinaline… là nguyên nhân chính khiến các doanh nghiệp không có khả năng trả nợ ngân hàng làm hàng loạt ngân hàng có số nợ xấu tăng vọt. Nhưng âu cũng là nhân quả, đầu tư tín dụng vào bất động sản thời bong bóng với lãi suất cao ngất ngưởng, thu nhập của người làm trong lĩnh vực ngân hàng cũng rất cao, nay nợ xấu thì phải gánh chịu.

Việt Nam A và Việt Nam B
( Bauxite VN ) Nicholas Bequelin, một nhà quan sát chuyên về Trung Quốc đã từng nói nước này có Trung Quốc A, Trung Quốc B để phản ánh sự phân chia tầng lớp xã hội sau sự kiện “Thiên An Môn” năm 1989.

Tranh chấp lao động là biểu hiện của khác biệt cơ hội tại Việt Nam
Ông cho rằng sau biến cố Thiên An Môn, tại Trung Quốc hình thành thế giới: Trung Quốc A của những thành phố lớn, nơi ở của những doanh nhân và nơi các quan chức ngoại giao nước ngoài đến thăm.

Ở Trung Quốc A chỉ hiện hữu những vấn đề thường thấy ở bất kỳ một thành phố phát triển nào, như kẹt xe, tội phạm gia tăng.

Còn Trung Quốc B, vốn chiếm phần lớn dân số cũng như diện tích lãnh thổ, là những vùng kém phát triển, nghèo nàn, chất lượng giáo dục kém với những thiếu thốn về điều kiện sống cơ bản như nước, đất, tài nguyên kinh tế, cơ sở hạ tầng.

Việt Nam, với mô hình Đổi Mới gần giống với Khai Phóng của Trung Quốc, với mục đích xây dựng “nền kinh tế theo định hướng xã hội” với doanh nghiệp nhà nước đóng vai trò chủ đạo nhưng cũng cho tư doanh được sản xuất, đã và đang đối diện những vấn đề tương tự. Hai thập niên xây dựng quan hệ với phương Tây và Đông Á giúp Việt Nam đạt mức tăng trưởng đáng khen và đưa hơn 28 triệu người thoát nghèo, giảm tỷ lệ đói nghèo từ 58% năm 1993 xuống 12% trong năm 2011.

Tuy nhiên, điều rõ ràng là trong khi chuyển sang kinh tế thị trường, khoảng cách thu nhập ngày càng tăng đang biến Việt Nam thành một đất nước với hai thế giới tách biệt.

Khoảng cách ngày càng lớn

Chỉ số Gini-coefficient của Việt Nam, mặc dù thấp hơn một số nước trong khu vực như Malaysia, Thái Lan nhưng có dấu hiệu tăng đều qua các năm qua kết quả nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế của Đại học Liên Hiệp Quốc (UNU-WIDER).

Chỉ số này được sử dụng để do khoảng cách giàu nghèo ở mỗi nước, với phạm vi từ 0 đến 1. Con số Gini-coefficient gần đây nhất của Việt Nam được công bố là vào năm 2010, ở mức 0,43.

Tổng cục Thống kê Việt Nam (GSO) cho biết, chỉ số Gini-coefficient trên 0,4 được xem là báo động ở mức nguy hiểm đối với khoảng cách thu nhập tại một quốc gia.

Chỉ số Gini-Coefficient của Việt Nam

Chỉ số Gini-coefficient gần nhất của Trung Quốc là ở mức 0,412 từ năm 2000. Đã hơn 11 năm nay, Chính phủ Trung Quốc từ chối công bố chỉ số về khoảng cách giàu nghèo của mình.

Theo báo cáo của Cục thống kê Quốc gia Việt Nam cho thấy, khoảng cách thu nhập giữa người giàu và nghèo tại Việt Nam đã tăng từ 8,9 lần trong năm 2008 lên 9,2 lần trong năm 2011. Thu nhập trung bình của khu vực thành thị như thành phố Hồ Chí Minh trong năm 2012 là 300 đôla/tháng, cao hơn gần gấp 10 lần thu nhập trung bình dao động ở mức 30 đôla/tháng của nhóm thu nhập thấp.

Khảo sát của GSO cũng cho thấy chi tiêu giáo dục của tầng lớp giàu có tại Việt Nam cao hơn 6 lần, khoản chi tiêu cho y tế cao hơn 3,8 lần và các khoản chi tiêu vào giải trí, thể thao, văn hóa cao hơn đến 131 lần so với tầng lớp thu nhập thấp.

‘Việt Nam B’

Sản xuất lúa gạo vẫn đóng vai trò quan trọng trong kinh tế Việt Nam, với số lượng lao động chiếm gần 30% tổng số lao động cả nước. Cho đến đầu năm 2012, Việt Nam xuất khẩu 7 triệu tấn gạo, đưa nước này thành nước xuất khẩu gạo thứ nhì trên thế giới, chỉ đứng sau Thái Lan, nâng tổng kim ngạch xuất khẩu gạo của Việt Nam lên hơn 3,5 tỷ đôla, theo số liệu của Hiệp hội Lương thực Việt Nam.

Ngân hàng Thế giới nhận xét: “Nông dân Việt Nam được giao nhiệm vụ nuôi cả dân tộc. Họ đã làm được và vượt mục tiêu này”.

Tuy nhiên hiện tại đến 90% những người nghèo tại Việt Nam (3/4 dân số) sống ở khu vực nông thôn, cơ quan này đánh giá. Ngân hàng Thế giới cũng ghi nhận đa số hộ trồng lúa ở Việt Nam có quy mô rất nhỏ.

Ở Đồng bằng Sông Cửu Long, nếu tính trên cơ sở 30% lợi nhuận từ làm lúa giữ lại, thu nhập của mỗi người nông dân trồng lúa chỉ ở mức 316.000 đồng/tháng, thấp hơn cả mức thấp nhất của ngưỡng nghèo hiện nay (400.000 đồng/tháng).

Giống với Trung Quốc, Việt Nam không có hệ thống kiểm soát sự cân bằng đầu tư giữa thành thị và nông thôn. Khu vực nông thôn luôn phải chịu những bất cập về nguồn nước sạch, giáo dục, cơ sở hạ tầng và diện tích đất canh tác cũng như việc làm ngày càng bị thu hẹp trong quá trình công nghiệp hóa.

Thống kê của Bộ Lao động Thương binh Xã hội nói Việt Nam những năm qua đã mất khoảng 200.000 ha đất cho các dự án công nghiệp, sân golf, căn hộ, biệt thự. Điều này có nghĩa là gần 2,5 triệu lao động mất việc làm và người nông dân có tới 3-4 tháng nông nhàn mỗi năm.

Nông dân sau khi mất đất cũng không được giải quyết việc làm triệt để. Một ví dụ ở Vinh cho thấy trong tổng số hơn 3000 lao động nông nghiệp được giải quyết việc làm, chỉ có khoảng 1/10 được vào làm việc tại các nhà máy, khu công nghiệp với mức thu nhập từ 1,8 triệu đến 2,5 triệu đồng.

Lao động nông thôn ra thành thị làm bị trả công rẻ mạt và thường xuyên phải làm việc trong điều kiện rất kém. Một điểm giống nhau nữa giữa Việt Nam và Trung Quốc, đó là hệ thống “hộ khẩu” (hukou trong tiếng Trung).

Nicholas Bequelin, làm việc cho Human Righst Watch, đã lên án sự cố ý phân biệt đối xử với lao động nông thôn bằng cách không cho phép người nông dân đăng ký hộ khẩu tại thành phố qua hệ thống này: “Đây là một sự phân biệt lớn trong hệ thống đăng ký thường trú”.

“Điều này giải thích tại sao Trung Quốc có thể tập trung nhiều tiền của và phát triển tại các thành phố, những tòa nhà hào nhoáng mà chúng ta thấy ở khắp nơi, tất cả sự thịnh vượng, trật tự và sạch sẽ này; bởi vì họ đã bỏ mặc tất cả những người góp phần xây dựng chúng”.

Khát vọng công bằng

Những tấm hình chụp những người tàn tật, già cả hay những em bé hành khất trên những con đường sầm uất, cạnh những tòa cao ốc hiện đại của các thành phố lớn ở Việt Nam có thể được tìm thấy ở bất cứ đâu trên mạng.

Và cũng không phải là khó để tìm thấy hình ảnh con cái hoặc những người có quan hệ thân cận với những quan chức cấp cao trong hàng ngũ Đảng Cộng sản trong những bộ cánh sang trọng, dù là ở những bữa tiệc, họp báo hay khảo sát một công trình của công ty mà họ được bổ nhiệm vị trí lãnh đạo ở độ tuổi còn rất trẻ.

Giáo sư Carl Thayer, một nhà nghiên cứu nổi tiếng về Việt Nam bình luận: ”Có một sự phẫn uất ngày càng tăng cao từ những người nghèo đối với tầng lớp giàu có”.

Nhận xét hệ thống Trung Quốc A, Trung Quốc B, Nicholas Bequelin nói: “Chính phủ Trung Quốc nghĩ rằng có thể hy sinh một phần dân số. Họ hiểu rằng phép màu của nền kinh tế Trung Quốc đến từ đội ngũ lao động trẻ, đông đảo và rẻ mạt với khả năng đáp ứng lại nhu cầu của các tập đoàn sản xuất cũng như các loại công việc cần được đáp ứng ở các thành phố và khu vực phát triển”.

“Việc không chấn chỉnh hệ thống hộ khẩu phục vụ một mục đích: xây dựng một đội ngũ hạ lưu dễ nhân nhượng khi không có quyền thường trú … Họ sẽ đến, sẽ làm việc và hưởng những khoản lương bèo bọt”.

Giới phân tích nhận xét suốt những năm qua, tăng trưởng Việt Nam cũng đã dựa vào lực lượng lao động trẻ dồi dào với giá rẻ mạt. Và cho đến nay, trước hệ thống hộ khẩu hiện tại và hoạt động thu hẹp đất nông nghiệp liên tục những năm qua, dường như nguồn cung cấp lực lượng này không hề thiếu.

Sự thao túng của Nhà nước trong chính sách kinh tế, xã hội, chính trị đang gần như không cho người dân một sự lựa chọn. (…)
Nguồn: BBC/vietnamese/business/

Việt Nam cần ‘tự do kinh tế và tư duy độc lập’
( Bauxite VN ) Đến thăm Hà Nội và phát biểu trước các sinh viên Đại học Kinh tế Quốc dân, Phó Thủ tướng Đức gốc Việt, ông Philipp Roesler đã kêu gọi nước chủ nhà cải cách dân chủ đầy đủ, trao tự do cho nhân dân cả trong lĩnh vực kinh tế và xã hội.

Ông Roesler đã nhận bằng tiến sỹ danh dự ở Hà Nội
Là một lãnh tụ trẻ tuổi của đảng Tự do Dân chủ (FDP) trong chính phủ liên minh ở Đức, ông Roesler, người sinh ra năm 1973 tại Nam Việt Nam, đã nói về tự do hôm 18/9/2012 khi nhận bằng tiến sỹ danh dự viên Đại học Kinh tế Quốc dân ở Hà Nội. Ông hối thúc chính quyền Việt Nam không chỉ tư nhân hóa và mở cửa thị trường, mà cần trao cho người dân thêm quyền tự do:

“Với những người không được tự do để chọn cho mình cách suy nghĩ và hành động độc lập, thì sẽ không có kinh doanh, và thiếu tự do kinh tế cũng sẽ không có tự do xã hội”.

Nhắc đến cơ hội cho bản thân là một người sinh tại Việt Nam nhưng trưởng thành tại Đức, ông coi đó là ví dụ về sức mạnh của tự do: “Một đứa trẻ mồ côi thời chiến tại Việt Nam được nhận làm con nuôi mà có cơ hội vươn lên trong một xã hội dân chủ như vậy, và gánh vác trách nhiệm lớn thì đó là bằng chứng nền dân chủ có thể tạo ra sức mạnh như thế nào”.

Là Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Kinh tế và Công nghệ, ông Roesler cũng nhấn mạnh với diễn giả trong buổi lễ ở Đại học Kinh tế Quốc dân, về vai trò của khu vực tư nhân trong nền kinh tế, cũng như nói về sở hữu tư nhân. Ông cũng nói điều kiện cho đầu tư là chữ tín của hợp đồng và niềm tin của đối tác với hợp đồng. Theo hãng tin Đức DPA, các công ty Đức thường phàn nàn về việc thực hiện hợp đồng tại Việt Nam.

Khi trao đổi với chính giới Việt Nam, ông Roesler cũng mang theo một danh sách 5 tù nhân lương tâm theo Thiên Chúa giáo bị bệnh mà Bộ Ngoại giao Đức nhờ ông chuyển cho các lãnh đạo Việt Nam, yêu cầu thả tự do cho họ, theo DPA. Được biết chính phủ Đức cũng bày tỏ quan tâm vụ phóng viên Hoàng Khương của báo Tuổi Trẻ bị bốn năm tù. Berlin cũng theo dõi vụ xử ba blogger Điếu Cày, Phan Thanh Hải, Tạ Phong Tần, đã ba lần đình hoãn và theo tin mới nhất, có thể diễn ra vào ngày 24/9.

Cùng đi với ông Roesler đi thăm Việt Nam và Thái Lan lần này có khoảng 50 đại diện các công ty Đức.
Nguồn: BBC/vietnamese/vietnam/

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s