Internet – bài toán nan giải của Đông Nam Á

Posted: September 27, 2012 in Uncategorized
Tags:

Mong Palatino ( BaSamNews )– Người dịch: Đan Thanh – Sự phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông đã không chỉ tạo ra một cuộc cách mạng trong cách thức con người tương tác với nhau, mà còn buộc nhiều chính quyền phải vận hành trong một khung cảnh chính trị có rất nhiều thay đổi lớn. …


Camera giám sát ở các quán café Internet, các webmaster phải tuân theo quy định giải trình rất gắt gao, và bóng ma tự kiểm duyệt ám ảnh, tất cả đã đặt ra rất nhiều câu hỏi về tương lai của tự do Internet.

Trong một số trường hợp, chính quyền có thể góp phần giải phóng toàn bộ tiềm năng của một không gian Internet tự do và cởi mở; chẳng hạn, bằng việc bảo đảm rằng ai cũng có thể vào được Internet. Mặt khác, chính quyền lại cũng có thể tìm cách để ngăn chặn đường vào đó.

Khả năng thứ hai có lẽ đang xảy ra ở Đông Nam Á, nơi mà, núp dưới cái vỏ truy quét tội phạm mạng, các chính quyền ban hành vô số luật phá hoại tự do Internet và tự do dân sự của người dân.

Chẳng hạn, chính quyền Campuchia đang thực thi một dự thảo luật được đưa ra hồi đầu năm nay, theo đó, các quán café Intenet phải lắp đặt hệ thống camera giám sát và phải đăng ký người sử dụng. Luật này được cho là một biện pháp ngăn ngừa tội phạm, nhưng những người phản đối cho rằng nó xâm phạm quyền riêng tư. Nó còn có thể dễ dàng được sử dụng để quấy nhiễu những người chỉ trích chính phủ trên không gian mạng. Nỗi lo sợ đó của họ có lẽ không hoàn toàn vô căn cứ, khi mà cách đây một năm, chính phủ đã chỉ thị cho các nhà cung cấp dịch vụ (ISP) sở tại chặn một số website đối lập.

Trong khi đó, ở Singapore, Bộ Quy tắc Ứng xử dự kiến dành cho các blogger – vốn dĩ không nhận được phản ứng tích cực từ cộng đồng Internet sở tại – cuối cùng đã bị chính quyền bác bỏ theo đề nghị của một Hội đồng Tri thức Truyền thông. Thành lập hồi tháng 8 vừa qua, hội đồng này có nhiệm vụ nâng cao nhận thức của cộng đồng về truyền thông và ứng xử trên mạng. Tuy thế, những người chỉ trích đã đặt nghi vấn về sự thiếu minh bạch trong việc chỉ định các thành viên của hội đồng – cơ quan bị một số người xem như là một công cụ kiểm duyệt Internet kiểu khác. Họ lo ngại rằng hội đồng có thể khuếch trương một cách diễn giải hạn hẹp và méo mó khái niệm “tri thức truyền thông”, từ đó ngăn cản quyền tự do thể hiện quan điểm và cảm xúc của các công dân mạng.

Gần đây, Philippines ban hành Luật Chống Tội phạm mạng, nhằm ngăn không gian mạng biến chất thành “một xứ sở không luật pháp”. Nhưng các nhà báo – những người phản đối việc đưa điều khoản về tội bôi nhọ (libel – bôi nhọ, phỉ báng) vào trong luật, vào phút cuối cùng – thì cho rằng luật này là một mối đe dọa đối với tự do báo chí. Thay vì hợp pháp hóa hành động tố cáo, vốn là yêu cầu của nhiều nhóm truyền thông trong nhiều năm qua, thì chính quyền lại ban hành một đạo luật tăng số năm phạt tù cho tội phỉ báng. Hơn thế nữa, các luật sư cũng trích dẫn một điều khoản từ luật này, theo đó Bộ Tư pháp có quyền đóng tất cả các hệ thống dữ liệu máy tính vi phạm luật. Cũng vậy, Bộ Tư pháp có quyền kiểm duyệt ngay lập tức mọi nội dung có hại hoặc bị cấm, ngay cả khi không có đủ bằng chứng thuyết phục để trình chính quyền.

Cũng như Philippines, Malaysia vừa đưa vào luật một số sửa đổi có tác dụng thu hẹp tự do Internet. Theo khoản 114A trong Luật Bằng chứng năm 1950 sửa đổi, các cơ quan hành pháp có quyền xác định người phải giải trình vì đã tải lên (upload) hoặc đã xuất bản nội dung trên Internet. Đó là những người sở hữu, quản trị và biên tập nội dung website, blog, diễn đàn mạng. Luật sửa đổi cũng điều chỉnh cả những cá nhân cung cấp dịch vụ lưu trữ web (webhosting) hoặc cung cấp dịch vụ truy cập Internet. Điều này có nghĩa là, blogger hoặc người quản trị (mod) của diễn đàn nào mà để cho các bình luận (comment) mang tính kích động xuất hiện trên trang của mình thì sẽ phải chịu trách nhiệm theo luật đó. Một chủ quán café Internet sẽ phải chịu trách nhiệm nếu khách hàng của ông ta đưa nội dung bất hợp pháp lên mạng thông qua hệ thống wifi của quán. Chủ sở hữu điện thoại di động hoàn toàn là đối tượng tình nghi nếu các nội dung bôi nhọ được phát hiện là bắt nguồn từ thiết bị di động của anh ta. Những người cổ súy cho tự do truyền thông đã cảnh báo rằng, luật sửa đổi này có thể buộc các cây viết trên mạng phải tự kiểm duyệt còn các quản trị mạng (mod) thì phải cấm mọi bình luận có tính phê phán, để tránh bị truy tố hoặc bị kiện tụng lằng nhằng.

Có lẽ cả Philippines và Malaysia đều lấy cảm hứng từ kinh nghiệm của Thái Lan. Thái Lan đã bị tai tiếng vì sử dụng luật pháp rất nghiêm khắc để trừng trị những người chỉ trích chính phủ. Điều 112 bộ luật hình sự Thái Lan thường được đánh giá là luật lèse majesté khắc nghiệt nhất thế giới (lèse majesté, tiếng Pháp, nghĩa là chống xúc phạm hoàng gia – ND). Đạo luật gây tranh cãi này thường được viện dẫn để kiểm duyệt nội dung web và đóng cửa website. Ngoài các webmaster ra thì ngay cả dân thường cũng có thể bị tống giam nếu bị buộc tội là đã gửi các tin nhắn xúc phạm hoàng gia. Giới học giả và các nhà hoạt động đã và đang đòi thay đổi đạo luật không còn hợp thời này, song chính quyền đã giải tán phong trào kiến nghị.

Ở một nơi khác, Việt Nam đang tự nổi bật lên như là quốc gia đứng đầu trong khu vực về số lượng nhà báo bị bỏ tù (trên thế giới, chỉ có Iran và Trung Quốc có số nhà báo bị tù nhiều hơn, theo báo cáo của tổ chức Phóng viên Không Biên giới). Thậm chí đến Thủ tướng cũng công khai phê phán một số blogger có khuynh hướng đối lập, kết tội họ kích động, gây mất đoàn kết. Chính phủ cũng đã quen thói thỉnh thoảng lại chặn các mạng xã hội phổ biến và bắt giam những blogger bị buộc tội tuyên truyền lật đổ.

Chính quyền các nước trong khu vực bao biện cho việc áp đặt những chính sách quản lý web rất nghiêm khắc, rằng họ làm như thế là để bảo vệ quyền của người sử dụng Internet bình thường và để duy trì đạo đức công cộng. Trong khi bày tỏ cảm tình với những điều kỳ diệu được Internet tạo ra, thì họ cũng lo ngại về vô vàn tội lỗi trên không gian mạng.

Chẳng hạn, Cơ quan Phát triển Truyền thông Singapore biện hộ cho việc thành lập Hội đồng Tri thức Truyền thông bằng cách nhấn mạnh nhu cầu tuyên truyền nhận thức về sự gia tăng các hoạt động bất hợp pháp trên mạng, làm hại thanh thiếu niên. “Các vấn đề xã hội như hành hạ, xúc phạm, lợi dụng thanh thiếu niên, cùng những lời bình luận chưa phù hợp đã tìm ra đất sống và sinh sôi nảy nở thông qua nhiều tầng lớp tác động của Internet và truyền thông xã hội” – cơ quan này cảnh báo như vậy.

Tương tự, chính quyền Campuchia viện dẫn đến khái niệm phúc lợi công cộng. Họ nói thêm rằng, các hành động khủng bố và tội phạm xuyên biên giới gây ảnh hưởng tới truyền thống và giá trị văn hóa của mỗi nước đều được thực hiện thông qua dịch vụ viễn thông.

Nghị sĩ Philippines, ông Edgardo Angara, tác giả chính của Luật Phòng chống Tội phạm mạng, rất tự tin rằng luật này là cần thiết để mang lại lợi ích cho cộng đồng Internet. “Nhờ luật này, chúng tôi hy vọng sẽ khuyến khích việc sử dụng không gian mạng vào các mục đích thông tin, giải trí, học tập, thương mại. Bảo vệ tất cả người dùng Internet khỏi bị lạm dụng và lợi dụng, chúng tôi sẽ giúp cho các công dân mạng sử dụng Internet một cách hiệu quả hơn. Việc ban hành luật Phòng chống Tội phạm mạng gửi một thông điệp mạnh mẽ ra thế giới, rằng Philippines rất nghiêm túc giữ gìn an toàn trên không gian mạng” – ông Angara nói.

Đối với các chính phủ trong khu vực, thật tiện lợi nếu có thể thổi phồng bóng ma tội phạm mạng và vấn nạn lạm dụng mạng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, họ đã phóng đại quá đáng các nguy cơ và áp đặt những biện pháp mang tính trừng phạt cao cũng như hoạt động kiểm soát truyền thông rất chặt chẽ. Mục tiêu chính của họ có thể là thuần dưỡng không gian mạng và điều tiết nó theo cái cách mà họ đã sử dụng để kiểm soát thành công báo chí truyền thống. Việc điều tiết mạng được coi là cần thiết, bởi lẽ sự tồn tại của một nền truyền thông mới, không kiểm soát được, đã đe dọa độc quyền lãnh đạo (nguyên văn: political hegemony, bá quyền chính trị – ND) của tầng lớp tinh hoa chính trị.

Cho đến nay, các phong trào trên mạng đã khá thành công trong việc bóc trần động cơ xấu của những chính trị gia muốn kiểm duyệt Internet, tuy nhiên vẫn chưa ngăn được chính quyền thực thi những chiến dịch và đạo luật hạn chế quyền tự do ngôn luận trên không gian mạng. Dường như chính quyền các nước Đông Nam Á đã rất chủ động nghiên cứu luật về Internet trong khu vực và tích cực trao đổi kinh nghiệm kiểm soát hiệu quả sức mạnh tiềm ẩn đáng sợ của Internet. Đã đến lúc cư dân mạng ở Đông Nam Á phải chống lại khuynh hướng gây xáo trộn mang tính khu vực này bằng chính các phong trào hoạt động trên mạng của họ.


Tự do Internet tại Việt Nam: Mối quan hệ trực tuyến kỳ quặc
Hồng Phúc chuyển ngữ ( TCPT ) Bà Hillary Clinton, Ngoại trưởng Hoa Kỳ, phần lớn đã thể hiện được sự chào đón rất nồng nhiệt tại Việt Nam trong chuyến thăm nước này hồi tháng trước. Tuy nhiên, không phải tất cả những điều bà ấy nói đều mang lại nụ cười trên các khuôn mặt của những người tổ chức tại đây. Trong thời gian ngắn ngủi một ngày Hà Nội, bà đã nhắc lại mối quan tâm của Hoa Kỳ về hồ sơ nhân quyền nói chung và đặc biệt bà đã nhắc đến sự “hạn chế tự do phát biểu trực tuyến” tại Việt Nam.

Tỷ lệ sử dụng Internet ở một số quốc gia châu Á. Nguồn: Cimigo
Ít lâu sau thì một sự kiện khủng khiếp xảy ra vào ngày 30 tháng Bảy. Một người mẹ tên Đặng Thị Kim Liêng đã châm lửa tự thiêu ngay bên ngoài văn phòng Ủy ban Nhân dân ở Bạc Liêu để phản đối phiên toà sắp tới của con người gái, bà Tạ Phong Tần. Bà Tần là một blogger, người đã viết về các vụ công an lạm quyền và nhiều vấn đề nhạy cảm khác. Đáng tiếc, bà Liêng đã qua đời trên đường đưa đến bệnh viện.

Phiên toà của bà Tần là sự kiện mới nhất trong một loạt các nỗ lực của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam nhằm kiểm soát tình hình internet đang ngày càng nở rộ. Một dự luật mới lần đầu tiên được soạn thảo vào tháng Tư và đã dự tính có hiệu lực vào tháng Sáu vừa qua (phiên bản dự thảo đã bị hoãn lại trước đó). Theo bản dự thảo thì luật này yêu cầu các blogger như bà Tạ Phong Tần phải cung cấp tên thật, các nhà cung cấp dịch vụ phải có trách nhiệm loại bỏ nội dung bất đồng ý kiến và buộc các công ty internet muốn kinh doanh tại Việt Nam – chẳng hạn như Facebook (trong khi đó trang mạng xã hội này đã bị Việt Nam ngăn chặn từ nhiều tháng nay) hay Google – phải hợp tác với các doanh nghiệp nội địa, mở văn phòng và có thể phải có đặt trung tâm dữ liệu ở ngay trong nước.

Rõ ràng điều này không còn nghi ngờ gì khác ngoài mục tiêu phục tùng chế độ một đảng tại Việt Nam sau sự cố 3, 000 công an chống bạo động đụng độ với khoảng 1,000 dân làng tại Văn Giang được dấy lên bởi việc thù hồi đất đai để phát triển khu đô thị trong thời gian vừa qua. Các báo chí, truyền hình và đài phát thanh chính thống hầu như không hề đề cập gì đến sự kiện trên, nhưng các clip video đã được tải lên YouTube và nhanh chóng thu hút rất nhiều sự quan tâm.

Mặt khác, các video này được lan truyền nhanh chóng cũng cho thấy việc thực thi quy định mới về cách sử dụng internet sẽ rất khó khăn trong khi internet đang bùng phát mạnh mẽ tại đây. Hàng triệu trang blog đã xuất hiện rộng rãi tại Việt Nam kể từ khi Yahoo! giới thiệu phiên bản blog đầu tiên vào năm 2005. Theo một báo cáo gần đây của Cimigo, một công ty nghiên cứu thị trường, thì Việt Nam có dân số phát triển internet nhanh nhất trong khu vực, và đang bắt kịp với Thái Lan và Trung Quốc về tỷ lệ người sử dụng internet. Một trong ba người tại Việt Nam hiện nay có truy cập vào internet, và Cimigo cũng dự đoán con số này sẽ tiếp tục gia tăng với khoảng 2 triệu cho đến 3 triệu mỗi năm trong thời gian sắp tới. Tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, số lượng người sử dụng internet chiếm đến 95%, đa số từ độ tuổi 15 đến 22. Phần lớn trong số này truy cập các trang mạng để tải âm nhạc và cập nhật hay bàn tán về những ngôi sao nổi tiếng hơn là đi xúi giục nổi loạn.

Số lượng người sử dụng Internet tại Việt Nam từ năm 2003-2010. Nguồn: vnnic.vn

Sử dụng Internet theo độ tuổi. Nguồn: Cimigo

Truy cập Internet bằng điện thoại di động theo độ tuổi. Ảnh: Cimigo
Đảng Cộng sản đã từ lâu biết rõ tâm lý hai luồng của việc sử dụng internet. Ngay cả khi họ [nhà nước] cố gắng thắt chặt các hoạt động trực tuyến, họ vẫn hiểu và nhìn nhận internet là một phần của “kỷ nguyên tri thức” mà Việt Nam buộc phải gia nhập nếu muốn duy trì phát triển kinh tế. Giáo sư Carlyle Thayer, chuyên gia về Việt Nam tại Học viện Quốc phòng Úc ở Canberra, điểm ra rằng luật mới về internet có thể cản trở những nỗ lực của Việt Nam trong việc gia nhập Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương do phía Hoa Kỳ dẫn đầu, trong đó khẳng định các thành viên tham gia phải cho phép thông tin được phổ biến một cách tự do.

Một số hậu quả lộn xộn về chính sách internet của cơ quan chức năng Việt Nam đã được nhìn thấy ngay trước mặt. Theo giáo sư Thayer, mặc dù có khoảng 200 trường đại học Hoa Kỳ đã ký kết các thỏa thuận hợp tác với các trường đại học ở Việt Nam, tuy nhiên, Hoa Kỳ đang lo ngại về việc sinh viên của họ bị hạn chế truy cập internet và điều này trong thực tế có thể sẽ làm hỏng các kế hoạch của cả hai phía.

H.C. viết từ Hà Nội, The Economist
© Bản tiếng Việt TẠP CHÍ PHÍA TRƯỚC 2012 (14/08/2012 )

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s