Tiên đoán thị trường BĐS năm 2013

Posted: December 1, 2012 in Uncategorized
Tags:

( 24h ) Một tiên đoán cho rằng, thị trường bất động sản (BĐS) năm 2013 sẽ có biến cố cùng cực.

Không còn biện pháp nào khác là giảm giá Bất động sản (BĐS). Bởi hình thành nên giá BĐS trong thời gian qua là vô cùng phi lí . Và những bất hợp lí đó người dân phải gánh chịu. Hậu quả vẫn tiếp tục kéo dài vì tất cả mọi ngành nghề kinh tế xã hội đều bị ảnh hưởng của chi phí đất đai lên giá thành sản xuất. …


Hệ thống ngân hàng lao đao vì nợ xấu bất động sản, hàng loạt dự án dở dang, văn phòng cho thuê ế ẩm, Bloomberg nhận định những tòa cao ốc trống rỗng tại Việt Nam đang biến giấc mơ thủa nào thành đống đổ nát.

Ngay cả lạm phát cũng có tác động của việc giá đất tăng cao. Đến ngày hôm nay chúng ta chưa hề thấy bất kỳ một chủ đầu tư nào nghĩ đến việc làm cách nào giảm chi phí trong quá trình sản xuất ra sản phẩm BĐS. Mà chỉ có các động tác thổi giá làm cho bong bóng BĐS phình quá to vượt sức chịu đựng của người mua như hiện nay. Hoặc chia nhỏ BĐS tạo cảm giác ảo là giá rẻ.

Một tiên đoán cho BĐS năm 2013 sẽ có biến cố cùng cực của thị trường này.

1. Chính phủ đã hết tiền, ngân hàng đã hết tiền, các công ty BĐS đã hết tiền. Người dân còn khoảng 50 tỷ USD (vàng và ngoại tệ) và Việt kiều có thể rót thêm 15 USD tỷ mỗi năm, nhưng không ai có “niềm tin” vào tình hình bất động của BĐS đến thế này. Giải pháp in tiền bừa bãi không khả thi vì sẽ gây lạm phát phi mã và kết cuộc sẽ đến nhanh hơn dự đoán.

2. Khi giá BĐS xuống dưới 50%, nợ xấu ngân hàng sẽ tăng gấp 3 lần hiện nay vì 67% dư nợ của ngân hàng dựa trên thế chấp BĐS. Các con nợ thường ngưng trả tiền vay khi tài sản họ mất có trị giá thấp hơn tổng số tiền vay.

3. Nếu bong bóng BĐS không nổ vì bất cứ lý do gì, sự trì trệ cho nền kinh tế sẽ kéo dài ít nhất 8 năm nữa. Số lượng căn hộ tồn kho và các căn hộ đang xây dở dang phải mất đến 10 năm mới thanh lý hết.

4. Ánh sáng le lói dưới đường hầm là gói cứu trợ của IMF (chính phủ đã bác bỏ giải pháp này). Không ai ngoài Chính phủ có thông tin để dự đoán chính xác hướng đi sắp tới của chúng ta.

5. Chúng ta vẫn đang cố gắng làm những gì chúng ta đã làm trong quá khứ – cơ chế quan liêu Xin và Cho.

Chúng ta đang nằm yên chờ động thái mới cho hành động tiếp theo của Chính phủ và một trong những điều đó là: “Nghị quyết của Quốc hội về kế hoạch kinh tế – xã hội 2013" Quốc hội tiếp tục yêu cầu khắc phục bất cập trong quản lý và ổn định thị trường vàng, nhằm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp về tài sản của người dân. Về nguyên tắc, Nhà nước không ngăn cấm hoạt động kinh doanh, mua bán vàng miếng, bảo đảm quyền sở hữu hợp pháp của người dân.

Ngân hàng Nhà nước độc quyền nhập khẩu và sản xuất vàng miếng cung ứng cho thị trường, đồng thời có trách nhiệm ổn định thị trường, đảm bảo giá trong nước bám sát thế giới. Như vậy, thay vì “đảm bảo giá vàng trong nước liên thông giá thế giới”, Nghị quyết đã chuyển thành “bảo đảm giá vàng trong nước sát với giá thế giới”.
Theo Ngọc Bút (Đầu tư tài chính)

Buông lỏng và chèn lấn
Nguyễn Vạn Phú – Mỗi khi nói đến những yếu kém của khu vực kinh tế nhà nước, người ta thường quên vai trò của các bộ, ngành được giao làm đại diện chủ sở hữu các doanh nghiệp nhà nước. Giả thử các nơi này chỉ cần làm đúng chức trách được giao, tuân thủ nghiêm khắc các quy định sẵn có, các tập đoàn, tổng công ty nhà nước cũng không đến nỗi lâm vào tình trạng nợ nần chồng chất như bây giờ.
Lấy ví dụ, theo Thông tư 242/2009 hướng dẫn thi hành quy chế quản lý tài chính của công ty nhà nước và quản lý vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp, các tập đoàn, tổng công ty nhà nước… không được tự ý vay vốn làm cho hệ số nợ phải trả trên vốn điều lệ vượt quá ba lần mà phải báo cáo đại diện chủ sở hữu nhà nước xem xét quyết định.

Thế nhưng, theo báo cáo của Chính phủ trước Quốc hội về tình hình tài chính và hoạt động sản xuất kinh doanh của 91 tập đoàn, tổng công ty nhà nước năm 2011, có đến 30 tập đoàn, tổng công ty có tỷ lệ nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu lớn hơn 3 lần, trong đó có 8 tập đoàn, tổng công ty trên 10 lần! Chẳng hạn, Tổng công ty đầu tư phát triển Đường cao tốc vay nợ đến 56,47 lần so với vốn, Tổng công ty Xây dựng công trình giao thông 1 – 21,85 lần, Tổng công ty Hàng hải Việt Nam – 15,07 lần! Báo cáo không nói là một khi tỷ lệ này vượt ba lần như quy định, các bộ, ngành làm đại diện chủ sở hữu có nhắc nhở gì các tập đoàn, tổng công ty hay không, họ quyết định cho vay vượt mức như thế nào và có báo cho Bộ Tài chính theo quy định hay không.

Để tránh nợ nần chồng chất, Thông tư 242 quy định công ty nào không được phép huy động vốn vượt mức ba lần như nói ở trên nhưng liên tục hai năm liền có hệ số nợ phải trả vượt vốn điều lệ ba lần thì phải có kế hoạch cơ cấu lại nguồn vốn như điều chỉnh vốn điều lệ, chuyển nhượng các khoản đầu tư tài chính, đa dạng hóa sở hữu các đơn vị thành viên, thu hồi vốn đầu tư vào các lĩnh vực ngoài ngành kinh doanh chính hoặc kém hiệu quả. Liệu đã có tập đoàn, tổng công ty nào trong 30 đơn vị nói trên bị yêu cầu thực hiện những biện pháp này? Bộ Tài chính thay mặt Chính phủ báo cáo với Quốc hội nhưng liệu trước đó đã có biện pháp yêu cầu các đơn vị thực hiện đúng theo tinh thần Thông tư 242?

Vì sự buông lỏng này, tình hình nợ nần ở các tập đoàn, tổng công ty đã lên đến mức báo động. Năm 2011, tổng số nợ phải trả của tập đoàn, tổng công ty là 1.292.400 tỷ đồng, tăng 18,9% so với năm 2010. Gần 1,3 triệu tỷ đồng, tức là gần bằng một nửa tổng dư nợ tín dụng của toàn nền kinh tế, chỉ ở 90 tập đoàn, tổng công ty nhà nước! Vẫn biết nợ của các doanh nghiệp bao gồm nhiều dạng như trái phiếu chứ không chỉ tín dụng ngân hàng nhưng với con số và tỷ lệ lớn như thế, còn đâu tín dụng cho các thành phần khác của nền kinh tế.

Thử nhìn vào các tập đoàn có nợ phải trả lớn như Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam, nợ phải trả 286.817 tỷ đồng; Tập đoàn Điện lực Việt Nam, nợ phải trả 275.278 tỷ đồng; Tập đoàn Công nghiệp xây dựng Việt Nam, nợ phải trả 69.577 tỷ đồng; Tổng công ty Hàng hải Việt Nam, nợ phải trả 61.768 tỷ đồng; Tập đoàn Công nghiệp Than – khoáng sản Việt Nam, nợ phải trả 71.112 tỷ đồng, không thể nào hình dung nổi một đơn vị không thôi có số nợ bằng một phần mười tổng dư nợ của toàn nền kinh tế. Cứ lấy chi phí vay nợ thấp nhất mà tính cũng sẽ thấy rằng các đơn vị này chạy đủ tiền để trả lãi cũng đã hết sức rồi, còn đâu trả nợ gốc hay có lãi trừ phi được ưu đãi hết mức.

Chúng ta còn nhớ đã có nhiều quy định khống chế mức đầu tư ngoài ngành của doanh nghiệp nhà nước cũng như những yêu cầu doanh nghiệp nhà nước phải thoái dần vốn ra khỏi những nơi đã đầu tư trái ngành. Thế mà các tập đoàn, tổng công ty nhà nước trong năm 2011 vẫn tăng đầu tư vào các lãnh vực chứng khoán, quỹ đầu tư, bảo hiểm, ngân hàng và bất động sản lên đến 23.744 tỷ đồng (tăng 15% so với năm 2010).

Một điểm cuối cùng cũng có thể gây bất ngờ ở nhiều người. Theo báo cáo của Chính phủ gởi Quốc hội, năm 2011, thuế thu nhập doanh nghiệp mà các tập đoàn, tổng công ty nộp cho nhà nước là 47.710 tỷ đồng (tổng số thuế thu nhập doanh nghiệp của khu vực doanh nghiệp nhà nước mà Bộ Tài chính công bố trong cân đối thu chi ngân sách năm 2011 là 56.265 tỷ đồng). So với tổng thu thuế thu nhập doanh nghiệp của tất cả mọi thành phần là 184.481 tỷ đồng, thì các tập đoàn, tổng công ty chỉ chiếm 25,8%. Tín dụng, đất đai, chính sách ưu đãi, nhiều nguồn lực khác, cái nào các doanh nghiệp nhà nước cũng chiếm tỷ lệ cao nhưng nộp thuế thì chỉ chiếm một phần tư – có lẽ câu hỏi về hiệu quả đã có câu trả lời.

Kinh tế Việt Nam 2013 vẫn sẽ “nhùng nhằng’
( kinhtevadubao.vn ) Thực trạng hiện nay của kinh tế Việt Nam ra sao? Liệu nền kinh tế sẽ tiếp tục diễn biến xấu đi hay đã bước vào thời điểm hồi phục? Đó là những vấn đề vĩ mô “nóng bỏng” được thảo luận trong cuộc Tọa đàm giữa các học giả Việt Nam và WorldBank với chủ đề “Kinh tế Việt Nam trong thời điểm thách thức” tại Hà Nội ngày 28/11.

Ông Deepak Mishra, chuyên gia kinh tế trưởng của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, mong muốn được các học giả cho biết về thực trạng nền kinh tế hiện nay, những nguyên nhân kìm hãm tăng trưởng kinh tế hiện nay của Việt Nam, hậu quả và những bất ổn kinh tế vĩ mô, nhất là sự tác động tới công cuộc xóa đói giảm nghèo mà WB đã và đang hỗ trợ cho Việt Nam.

Hầu hết các học giả, chuyên gia kinh tế đều có chung nhận định về thực trạng kinh tế Việt Nam. Đó là tuy vĩ mô đã đạt được những dấu hiệu tích cực nhưng con đường tiến lên của Việt Nam là rất khó khăn, nền kinh tế khó có thể hồi phục trở lại và sẽ xấu đi một cách từ từ. Nền kinh tế chắc chắn không đổ vỡ, khủng hoảng nhưng sẽ “nhùng nhằng” trong trạng thái xấu.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.