Những nền giáo dục tốt nhất thế giới

Posted: December 6, 2012 in Uncategorized
Tags: ,

Minh Trung ( TN ) Phần Lan và Hàn Quốc lần lượt chiếm vị trí số 1 và 2 trong bảng xếp hạng hệ thống giáo dục của 40 quốc gia, vùng lãnh thổ có nền kinh tế phát triển. …


Hình bài viết Hệ thống giáo dục ở Hàn Quốc
Bảng xếp hạng trên nằm trong một nghiên cứu hệ thống giáo dục của 40 quốc gia, vùng lãnh thổ vừa được công ty giáo dục Mỹ Pearson công bố. Nghiên cứu này so sánh từ chi tiêu công cho giáo dục, tuổi đến trường, lương giáo viên, tỷ lệ biết chữ, tỷ lệ tốt nghiệp THPT và đại học, theo báo The Telegraph. Nghiên cứu còn so sánh tỷ lệ thất nghiệp quốc gia, GDP, tuổi thọ… Theo đó, Phần Lan và Hàn Quốc đang nổi lên là “những cường quốc giáo dục”, dù hệ thống giáo dục của họ khác nhau.

Hàn Quốc được cho là có hệ thống giáo dục cứng nhắc và chú trọng thi cử, trong khi hệ thống giáo dục Phần Lan lại linh hoạt hơn. Tuy nhiên, cả hai quốc gia này đều chú trọng đào tạo giáo viên giỏi, xem trọng trách nhiệm và có một “sứ mệnh đạo đức” nhằm đề cao nỗ lực đào tạo.

Theo sau Phần Lan và Hàn Quốc lần lượt là Hồng Kông, Nhật, Singapore, Anh, Hà Lan, New Zealand, Thụy Sĩ và Canada. Trong khi đó, Úc và Mỹ lần lượt được xếp ở vị trí 13 và 17.

Ở khu vực Đông Nam Á, ngoài Singapore, Thái Lan và Indonesia cũng lọt vào bảng xếp hạng nói trên, lần lượt chiếm vị trí 37 và 40. Trưởng cố vấn giáo dục Michael Barber của Pearson nhận định với BBC rằng những nước được xếp hạng cao cọi trọng giáo viên và có một “văn hóa” giáo dục. Theo nghiên cứu, sự thành công của các nước, vùng lãnh thổ ở châu Á trong bảng xếp hạng trên phản ánh giá trị cao của giáo dục và những kỳ vọng của cha mẹ. Nghiên cứu được đăng tại http://thelearningcurve.pearson.com.

Nghiên cứu còn nêu ra một số bài học cho các nhà hoạch định chính sách. Theo đó, ném tiền vào giáo dục hiếm khi cho ra kết quả như ý muốn và thay đổi mang tính cá nhân cũng ít có tác động lớn. Giáo dục đòi hỏi sự chú ý mang tính hệ thống, tập trung, nhất quán và lâu dài mới có thể đạt sự tiến bộ. Kế đến là giáo viên giỏi rất quan trọng đối với nền giáo dục chất lượng cao. Việc phát hiện và giữ chân họ chưa hẳn là vấn đề lương cao. Thay vào đó, giáo viên cần được đối xử như những nhà chuyên nghiệp, chứ không phải là những kỹ thuật viên trong cổ máy giáo dục khổng lồ. Ngoài ra, hệ thống giáo dục cần xem xét những kỹ năng nào mà người học cần trong tương lai để dạy.

Máy móc “soán ngôi”, trí tuệ con người về 0?
Việt Nam có quá nhiều tiến sĩ, nhưng ít phát minh
( GD ) Hiện nay, Việt Nam được xếp vào nước có nhiều tiến sĩ trong khu vực nhưng nghiên cứu khoa học lại nằm trong nhóm thấp nhất Đông Nam Á. Chúng ta vẫn thiếu các công trình khoa học có tầm cỡ khu vực và ít các sáng chế.

Công trình chuẩn khoa học trong nước cũng rất hiếm

Theo thống kê của Bộ Khoa học – Công nghệ (KH-CN), hiện nay cả nước có 24.300 tiến sĩ (TS) và 101.000 thạc sĩ. So với năm 1996 đội ngũ này tăng trung bình 11,6%/năm, trong đó TS tăng 7%/năm, thạc sĩ tăng 14%/năm.

PGS-TS Phạm Bích San, Phó tổng thư ký Liên hiệp Các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam (VUSTA), cho biết: “Số giáo sư, TS chúng ta nhiều nhất Đông Nam Á nhưng không có trường ĐH Việt Nam nào được đứng trong bảng xếp hạng 500 trường ĐH hàng đầu thế giới. Số lượng các bài báo công bố quốc tế của cả nước gần 90 triệu dân trong một năm chỉ bằng số lượng của một trường ĐH ở Thái Lan”.

Thống kê của Bộ KH-CN và các chuyên gia cho thấy trong 5 năm (2006 – 2010) cả nước chỉ có khoảng 200 bằng sáng chế, giải pháp hữu ích được cấp tại Cục Sở hữu trí tuệ và chỉ có 5 bằng sáng chế được đăng ký tại Mỹ, trung bình mỗi năm có một bằng sáng chế; riêng năm 2011, nước ta không có bằng sáng chế nào được đăng ký tại đây. Trong khu vực Đông Nam Á, Singapore (4,8 triệu dân) có 647 bằng sáng chế. Đứng thứ hai là Malaysia (27,9 triệu dân) với 161 bằng sáng chế; Thái Lan (68,1 triệu dân) có 53 sáng chế. Còn một nước có số dân và trình độ phát triển tương đương nước ta là Philippines cũng có tới 27 bằng sáng chế.

Tại buổi đóng góp ý kiến cho luật KH-CN sửa đổi vào tháng 10 năm nay tại Hà Nội, TS San nhấn mạnh: “Chúng ta gần như không có ai có nghiệp khoa học, tức là những người lao động quên mình trong khoa học và được ghi nhận bằng các giải thưởng khoa học quốc tế tầm cỡ”. PGS-TS Hồ Uy Liêm, nguyên Phó chủ tịch VUSTA, cũng cho rằng: “Ngay các công trình chuẩn khoa học của nước nhà cũng rất ít. Việt Nam chưa bao giờ thống kê được có bao nhiêu đề tài khoa học được nghiên cứu, bao nhiêu phần trăm đề tài đó được ứng dụng trong cuộc sống. Người làm đề tài ít để ý cái mình làm có bị trùng hay không. Thậm chí, người đi sau làm trùng đề tài lại được đánh giá tốt hơn…”.

Đề tài cũ hơn thế giới vài chục năm

Trong một diễn đàn hiến kế cho KH-CN vào tháng 10.2005, PGS-TS Đặng Xuân Thi, Viện Nghiên cứu cơ khí, cho rằng: “Tuyệt đại nội dung các đề tài mà chúng ta tiến hành nghiên cứu là ứng dụng những thành tựu của thế giới vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Những vấn đề mà chúng ta chọn làm mục tiêu nghiên cứu đối với thế giới thường là quá cũ, có khi cũ đến hai, ba hoặc cũng có thể tới bốn chục năm. Tên đề tài thường chung chung, không có giới hạn cụ thể. Tỷ lệ kết quả nghiên cứu được ứng dụng vào sản xuất có lẽ chỉ khoảng vài ba phần trăm. Đề cương nghiên cứu của đề tài thường “rộng”, nhiều nội dung nhưng kết quả đạt được thì quá khiêm tốn, lặp đi lặp lại, bảo vệ đạt “xuất sắc” nhưng không để làm gì ngoài việc nộp cho Bộ KH-CN và gấp bỏ tủ!”.

Tại hội thảo khoa học quốc gia về đổi mới hoạt động KH-CN vào tháng 1.2010 tại Trường ĐH Kinh tế quốc dân Hà Nội, PGS-TS Đào Duy Huân, Trường ĐH Tài chính – Marketing TP.HCM, thẳng thắn nhận xét: “Các kết quả nghiên cứu của các đề tài khối ngành kinh tế đạt loại giỏi, loại xuất sắc không có tính triển khai ứng dụng, nên không được các doanh nghiệp mua, thậm chí không được đăng tải trên các tạp chí khoa học. Hầu hết các đề tài nghiệm thu xong bỏ vào tủ lưu giữ trong phòng quản lý khoa học dùng làm chứng từ thanh toán, tính điểm công trình để ứng cử vào các chức danh giáo sư, phó giáo sư. Điều này gây lãng phí lớn hàng chục tỉ đồng cho ngân sách nhà nước”.

Lãng phí đầu tư

Bộ trưởng Bộ KH-CN Nguyễn Quân cho biết: “Chúng ta hình dung trong 2% ngân sách nhà nước (khoảng 13.000 tỉ đồng) chi cho KH-CN, thì 90% trong số này dành cho đầu tư phát triển và chi thường xuyên. Tức nguồn này chủ yếu để nuôi sống bộ máy các cơ quan nghiên cứu của nhà nước (hơn 60.000 người làm nghiên cứu khoa học và 1.600 tổ chức KH-CN từ trung ương đến địa phương) và đầu tư trang thiết bị… Trong khi phần dành cho hoạt động nghiên cứu chỉ 10% thôi (của 13.000 tỉ đồng) và chi cho tất cả các đề tài cấp nhà nước, cấp bộ đến cấp tỉnh, cấp cơ sở…”. Ông Quân nhấn mạnh: “Kinh phí nói trên dàn trải. Nguồn ngân sách thì ít trong khi số người và số tổ chức rất lớn. Chính vì thế không có điều kiện tập trung đầu tư cho một sản phẩm nào cho đến khi trở thành sản phẩm chủ lực của quốc gia được”.

Trường ĐH không đóng góp nhiều cho nghiên cứu khoa học

Nước ta hiện có hơn 400 trường ĐH, CĐ với hơn 7.000 TS. Với số lượng này, giáo dục ĐH là nơi cung cấp một lực lượng lớn cán bộ trình độ cao. Tuy nhiên, theo đánh giá của Bộ KH-CN thì một bộ phận không nhỏ nhân lực trình độ cao không trực tiếp làm nghiên cứu và phát triển, nhất là các GS, PGS và giảng viên trong các trường ĐH. Bộ trưởng Bộ KH-CN Nguyễn Quân cho rằng: "Việt Nam đang rất lãng phí nguồn lực chất xám ở các trường ĐH”. Là nơi tập trung rất đông nguồn nhân lực trình độ cao với nhiều GS, PGS, TS nhưng các trường ĐH hiện nay gần như không đóng góp nhiều cho kết quả nghiên cứu khoa học của đất nước, trong khi các trường ĐH trên thế giới lại là nơi sản sinh ra các giải Nobel, sáng chế…

Theo quy định của Bộ GD-ĐT, mỗi giảng viên ĐH ngoài việc đảm bảo 900 giờ giảng dạy phải có 500 giờ dành cho nghiên cứu khoa học/năm. Đối với GS, PGS và giảng viên chính thì số giờ dành cho nghiên cứu khoa học từ 600 – 700 giờ/năm. Tuy nhiên, hiện nay đa số giảng viên các trường ĐH chỉ đào tạo mà không nghiên cứu khoa học. Các trường ĐH không có biên chế làm khoa học chuyên nghiệp. Việc nghiên cứu chỉ được coi là hoạt động làm thêm của cán bộ giảng dạy.

Giáo dục Việt Nam tìm đường thoát khỏi yếu kém và lạc hậu
(GDVN) – Ngay từ những năm sau 1975, giáo dục không được quan tâm đúng mức, không có một sự định hướng phát triển thực sự rõ ràng: "Dạy gì, học gì, đạt mức độ nào và để làm gì", luẩn quẫn trong sự khó khăn của kinh tế. Chưa có chính sách ưu tiên thu hút nhằm phát triễn nguồn nhân lực cho giáo dục vì thế chất lượng đội ngũ ngày càng giảm, không đáp ứng được yêu cầu phát triển giáo dục.

Chúng ta luôn nói rằng "Giáo dục là quốc sách hàng đầu", nhưng có lẽ đó mới là điều mong mỏi, điều mà chúng ta sẽ hướng tới, còn trên thực tế thì chưa có chiến lược rõ ràng. Chính vì thế các lần cải cách giáo dục không mang lại kết quả mong muốn, chất lượng giáo dục yếu kém. Sự yếu kém của đội ngũ đã dẩn đến những sai lầm cơ bản ngay từ nội dung, chỉ đạo, và quá trình thực hiện các đợt cải cách…

Vật vờ nghiên cứu khoa học: Quá nhiều trói buộc
(GDVN) – Đánh giá nguyên nhân nghiên cứu khoa học của Việt Nam kém phát triển dù mức đầu tư của ngân sách không nhỏ, nhiều chuyên gia cho rằng cần phải xem lại chính sách tạo động lực cho các nhà khoa học.

…Theo các chuyên gia, việc phân bổ kinh phí từ ngân sách nhà nước cho KHCN còn nhiều bất cập bởi chưa dựa trên các tiêu chí cạnh tranh minh bạch cũng như nền tảng của nhu cầu thực tiễn. Tuy nhà nước có chủ trương ưu tiên phát triển hoạt động KHCN nhưng quản lý và phân bổ bất cập nên 2% ngân sách dành cho hoạt động này thường không sử dụng được hết, đành phải trả lại.

Việc phê duyệt nội dung nghiên cứu đáng lẽ phải do giới khoa học chủ động nhưng lại được quyết định từ trên xuống; kinh phí nghiên cứu được giao cho các bộ ngành khác nhau không dựa trên những tiêu chí rõ ràng; các quy định về thanh quyết toán không hợp lý và mất nhiều thời gian làm nản lòng người nghiên cứu. Chính Bộ trưởng Bộ KH-CN Nguyễn Quân cũng thừa nhận: “Chúng ta vẫn lập kế hoạch, chờ cấp tiền, đến khi có tiền thì có thể đề tài đã lỗi thời, mà KHCN trên thế giới phát triển như vũ bão”.

Trường "trăm tỉ" chỉ dạy 10 học sinh
Trần Thanh Phong (TNO) – Đó chính là thực trạng tại Trường trung cấp nghề Bạc Liêu (thuộc Sở LĐ-TB-XH tỉnh Bạc Liêu) đóng trên địa bàn xã Long Thạnh, H.Vĩnh Lợi. Đầu năm 2011, Trường trung cấp nghề Bạc Liêu được xây dựng mới khang trang trên khuôn viên rộng lớn hơn 7,2 ha với tổng vốn đầu tư trên 105 tỉ đồng. Mục tiêu đào tào của trường gồm các ngành trung cấp như kỹ thuật điện, sửa chữa lắp ráp máy lạnh, may thời trang, sửa máy nổ, điều hòa không khí và thiết kế đồ họa…

Phía trước cổng Trường trung cấp nghề Bạc Liêu

Trường đầu tư trên 100 tỉ nhưng chỉ có khoảng chục học sinh đăng ký học

Các nhà xưởng cửa đóng then cài

Cây cỏ mọc um tùm trước một nhà xưởng của trường
Máy móc tại phòng thực hành điện công nghiệp trong cảnh “trùm mền”

Cảnh tượng ngổn ngang tại một phòng thực hành khác

Phòng thực hành may thời trang trong tình trạng ngổn ngang
và đặc biệt là chưa từng được sử dụng

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.