Vài suy nghĩ về sửa đổi Hiến pháp 1992

Posted: January 16, 2013 in Uncategorized
Tags:

Đảng – Nhà nước – Hiến pháp: Vài suy nghĩ về sửa đổi Hiến pháp 1992
Hà Nội – Võng Thị, Nguyễn Trung ( Basam News ) Tác giả gửi cho viet-studies ngày 14-01-2013 …

I
Trong thực tiễn đời sống của hệ thống chính trị nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam kể từ khi Việt Nam là một quốc gia độc lập thống nhất cho thấy Đảng Cộng Sản Việt Nam – với đòi hỏi tự đặt cho mình là phải bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối của Đảng – đã và đang là người nắm quyền lực toàn diện và tuyệt đối mang tính độc quyền toàn trị đối với quốc gia.

Cùng với sự trói buộc của ý thức hệ và sự tha hóa trong thời bình, sự lãnh đạo của Đảng mang tính độc quyền toàn trị như thế trên thực tế đã biến dạng thành sự cai trị, Đảng mới là nhà nước đích thực: Nhà nước đảng trị. Sự tha hóa này khiến Đảng với danh nghĩa là đội ngũ tiên phong của giai cấp công nhân và nhân dân lao động… trở thành đảng thống trị.

Với vị thế và quyền lực như vậy của ĐCSVN, Nhà nước trở thành công cụ thực thi quyền lực và quyết định của Đảng, Hiến pháp trở thành công cụ hợp thức quyền lực và việc làm của Đảng. Để biện hộ cho hệ thống chính trị như vậy của đất nước, Hiến pháp 1992 xác định đấy là nhà nước pháp quyền định hướng xã hội chủ nghĩa.

Thiết kế như thế ngay trong Hiến pháp 1992, Đảng được đặt ở vị trí đứng trên Hiến pháp và trên nhà nước. Đây chính là nội dung cơ bản của Điều 4 trong Hiến pháp 1992. Trong một quốc gia với hệ thống chính trị như thế hoàn toàn không có không gian cho tiêu chí quyết định số một của nhà nước pháp quyền, đó là: Hiến pháp là quyền lực tối thượng.

Đem so sánh một bên là quyền lực mà Đảng giành cho mình[1] và được luật hóa trong Điều 4, và một bên là những được/mất trong quá trình phát triển mọi mặt của đất nước trong 37 năm độc lập thống nhất, đặc biệt là so với thực trạng nguy hiểm của đất nước hôm nay, vai trò lãnh đạo và phẩm chất của Đảng đối chiếu ngay với Cương lĩnh và Điều lệ của Đảng, cũng như so với chính Điều 4, kết quả rõ ràng không như Đảng đã cam kết với đất nước: Đảng không làm được nhiệm vụ tiên phong và lãnh đạo với đúng nghĩa, mà chủ yếu chỉ thực hiện được vai trò của người có quyền thống trị. Uy tín của Đảng cũng như lòng tin của nhân dân vào Đảng vì thế theo thời gian chưa bao giờ giảm sút như ngày nay. Như thế tự mình, Đảng đã không thực hiện nổi nhiệm vụ của mình như đã ghi cho mình trong Điều 4. Chính Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã phải nhận định sư hư hỏng của Đảng hiện nay đã đến mức thách thức sự tồn vong của Đảng và của hệ thống chính trị.

Với thực tế của cuôc sống đất nước 37 năm nay như vậy, và với nhận định của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng về thực trạng tha hóa hiện nay như vậy của Đảng, xin hỏi: Điều 4 còn lý lẽ gì để tồn tại?

Điều 4 trong dự thảo Hiến pháp sửa đổi lần này được chỉnh sửa chút ít, đó là Đảng “chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình”.

Đọc lại tất cả các văn bản Đại hội Đảng từ Đại hội IV (1976), có lúc nào Đảng không nhấn mạnh chịu sự giám sát của nhân dân, đẩy mạnh tự phê bình và phê bình… Trong toàn bộ hoạt động của Đảng kể từ khi thành lập, có lúc nào Đảng không cam kết trách nhiệm của mình trước đất nước, trước nhân dân? Sự cam kết trách nhiệm như vậy chính là tiền đề và là lẽ tất yếu cho sự ra đời và tồn tại của Đảng, vì thế nó không cần và không phải chờ đến khi phải được đưa vào Hiến pháp mới được thực hiện. Vì thế lúc nào cũng chỉ có vấn đề Đảng thực hiện được hay không cam kết của mình đối với đất nước mà thôi.

Nhìn nhận kết quả đợt vận động tự phê bình và tự phê bình được phát động từ Hội nghị Trung ương 4 khóa XI và sự xin lỗi chân thành của Bộ Chính trị trước nhân dân mà cả nước đã được nghe, hiển nhiên sẽ thấy: Việc bổ sung thêm chi tiết nói trên vào Điều 4 hoàn toàn không có khả năng xoay chuyển tình thế đất nước, bởi vì tư duy và đường lối của Đảng, hệ thống chính trị hiện hành, vị thế độc quyền toàn trị của Đảng đứng trên tất cả còn nguyên vẹn.

Chi tiết bổ sung như thế vào Điều 4 chỉ chứng minh: Đảng quyết cố thủ.

Hiến pháp 1992 có nhiều Điều, Khoản đúng, tốt về các quyền công dân cơ bản – như quyền sở hữu, các quyền về tự do, dân chủ và quyền con người…, về các quyền và nghĩa vụ của các bộ phận thuộc hệ thống nhà nước, vân vân…

Tuy nhiên, thực tế là hầu hết những Điều, Khoản đúng và tốt này không được và không thể thực thi, hiện tượng vi hiến ngày càng nhiều và nghiêm trọng trong đời sống đất nước ở mọi cấp và mọi nơi; chủ yếu vì các nguyên nhân chủ yếu sau đây:

(a) Hiến pháp có một số Điều được thiết kế không dứt khoát.

(b) Có một số Điều và Khoản trên thực tế là ngược hay phủ định nhiều Điều và Khoản khác trong Hiến pháp, hoặc gần như là phủ định toàn bộ Hiến pháp – trước hết chính là Điều 4, những Điều và Khoản về đất đai (rõ nét nhất là vấn đề “quyền sở hữu toàn dân” về đất đai…), về kinh tế quốc doanh… Đấy là nói về nội dung Hiến pháp 1992.

(c) Ngoài ra còn phải kể đến nguyên nhân thứ 3 vô cùng quan trọng và quyết định hàng đầu, đó là hệ thống quyền lực không coi trọng Hiến pháp, và ngay từ đầu trong hành động thực tế là bác bỏ nguyên tắc Hiến pháp là quyền lực tối thượng của quốc gia, chỉ sử dụng Hiến pháp ở những chỗ và những lúc khi quyền lực cần..

Trong tình hình như vậy, nếu không có các chi tiết bổ sung cho Hiến pháp 1992 sửa đổi đủ sức mạnh khắc phục cả 3 nguyên nhân nói trên, việc sửa đổi Hiến pháp 1992 sẽ trở nên vô nghĩa.

Và rõ ràng không có phép lạ nào viết ra được những chi tiết bổ sung có đủ sức mạnh như thế, ngoài việc viết ra Hiến pháp mới.

Giả định rằng có phép lạ viết ra được Hiến pháp mới hoàn hảo đến tuyệt đỉnh, song vẫn giữ nguyên Đảng với tư duy, tổ chức, vị thế, quyền lực, cùng với bộ máy chuyên chính tinh thần và bộ máy chuyên chính bạo lực của nó hiện nay như thế trong quốc gia, trong hệ thống nhà nước, trong kinh tế và trong đời sống văn hóa – xã hội.., gọi tất cả những thứ này dưới một cái tên chung tổng hợp là hiện tượng “đảng hóa”, Hiến pháp mới cũng sẽ chỉ có giá trị trang trí.

Có thể kết luận ngay: Sửa đổi Hiến pháp dù có thể làm tốt thế nào đi nữa, mà Đảng vẫn giữ nguyên đảng hóa và không thay đổi, sẽ vô ích.

Khi còn đương chức, cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt là người nhiều lần phê phán kịch liệt hiện tượng đảng hóa như thế. Sự phê phán này tổng hợp nhất và rõ nét nhất được nêu trong bức thư ngày 09-08-1995 gửi Bộ Chính trị.

Trong thư này, Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt đặt vấn đề: (1) phải nhìn nhận lại thế giới, (2) phải đánh giá lại đường lối phát triển đất nước, (3) phải xây dựng nhà nước pháp quyền, (4) phải xây dựng lại Đảng về đường lối và về tổ chức. Cả 4 đòi hỏi nêu trong thư này đến hôm nay vẫn còn nguyên giá trị và mức độ bức xúc khẩn thiết của nó.

Những năm cuối đời, Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã dành hết tâm huyết mình nhiều lần viết và nói trực tiếp với từng ủy viên Bộ Chính trị và toàn thể Ban Chấp hành Trung ương ĐCSVN, và nói với toàn dân: Phải từ bỏ mọi thứ chủ nghĩa, Đảng phải tự lột xác để trở thành đảng của dân tộc.

Nhân việc nhắc đến bức thư quan trọng này, xin cho phép hỏi trực tiếp trên ba triệu đảng viên của Đảng hôm nay: “Đảng CSVN hôm nay có còn cách nào phục vụ lợi ích quốc gia tốt hơn không? Có đảng viên nào hôm nay dám nói mình yêu Đảng, bảo vệ Đảng hơn đảng viên Võ Văn Kiệt không?”

Nếu lãnh đạo Đảng và Nhà nước hiện nay thành tâm mong muốn sửa đổi Hiến pháp lần này để cứu Đảng, cứu nước, nhất thiết phải đặt vấn đề cải cách thay đổi Đảng gắn kết hữu cơ với việc sửa đổi Hiến pháp trong tổng thể nhiệm vụ cải cách chính trị canh tân đất nước, đúng với tinh thần và nội dung như vừa trình bầy trên.

II
Sau 27 năm đổi mới, kinh tế đất nước đã hoàn thành thời kỳ phát triển ban đầu – thời kỳ phát triển theo chiều rộng. Song hiện nay, vì nhiều sai lầm và những yếu kém nhiều mặt trong quá trình phát triển này, nhất là những sai lầm trong đường lối lãnh đạo đất nước của Đảng và sự tha hóa của hệ thống chính trị, kinh tế nước ta chưa hội đủ mọi điều kiện phải có, để sẵn sàng đi vào thời kỳ phát triển mới cao hơn: Thời kỳ phát triển theo chiều sâu.

Từ 5 năm nay đất nước lại lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế – chính trị – văn hóa – xã hội toàn diện, đất nước chưa bao giờ đứng trước nhiều nguy cơ và thách thức bức xúc như bây giờ, nhất là trong một thế giới đang bước vào một thời kỳ phát triển mới với nhiều diễn biến khó lường..

Việc Trung Quốc đang trở thành siêu cường tác động nghiêm trọng vào trật tự thế giới hiện hành, và đồng thời thách thức gay gắt tất cả các nước láng giềng. Nhiều tác động tiêu cực của siêu cường đang lên Trung Quốc đang gây ra những vấn đề phức tạp mới như giành giật thị trường, vi phạm luật chơi chung, lôi kéo và tập hợp lực lượng (bao gồm cả chính trị, tôn giáo, sự can thiệp của quyền lực mềm…)… trong nhiều khu vực trên thế giới, lại trong thời kỳ tình hình thế giới đi vào một thời kỳ phát triển mới phức tạp, do đó hiện tượng siêu cường Trung Quốc đang lên trở thành vấn đề của cả thế giới trên nhiều phương diện. Đặc biệt là tính xung đột quyền lực siêu cường mang tịnh văn hóa Đại Hán tập trung vào khu vực châu Á, nhất là Đông Nam Á, vấn đề Trung Quốc càng trở nên đặc biệt nhạy cảm và nguy hiểm, nhất là đối với các nước nhỏ trong khu vực.

Với tính cách là chướng ngại vật tự nhiên đầu tiên nhất thiết phải khuất phục đối với siêu cường Trung Quốc trên đường của nó vươn ra Biển Đông, Việt Nam là nước bị uy hiếp nghiêm trọng nhất. Và chưa thể nói lãnh đạo của đất nước đã lường hết mọi nguy hiểm của sự uy hiếp này, thậm chí có không ít biểu hiện lúng túng, khiếp nhược.., càng không thể nói lãnh đạo của đất nước đã sẵn sàng phát huy tối đa sức mạnh toàn dân tộc trước thử thách mất còn này đối với đất nước…

Trong khi đó đất nước đang có nhiều khó khăn hiểm nghèo: Kinh tế khủng hoảng cơ cấu sâu sắc chưa có lối ra; những bức xúc và bất công xã hội vì tự do dân chủ bị đàn áp khiến lòng dân ngày càng phân tán; những lúng túng, không nhất quán hay không rõ ràng trong đối sách của lãnh đạo đối với Trung Quốc càng làm cho nhân dân mất tin tưởng; Đảng lãnh đạo lại ở trong thời kỳ thoái hóa nghiêm trọng nhất trong lịch sử của mình về chính trị và tính tiền phong chiến đấu, và hệ thống chính trị đang tha hóa trầm trọng.

Có thể nói sau 37 năm độc lập thống nhất, chưa bao giờ đất nước lâm nguy như bây giờ, Đảng yếu kém như bây giờ.

Giải quyết những khó khăn nội tại để mở ra một thời kỳ phát triển cho đất nước, tạo sức mạnh đối xử thành công mối quan hệ với Trung Quốc với tư cách nước ta là một đối tác được tôn trọng chứ không phải là một nước lệ thuộc hay một chư hầu kiểu mới, nhất là để Việt Nam không một lần nữa và vĩnh viễn không bao giờ trở thành chiến địa cho sự tranh hùng của các siêu cường, nắm bắt cơ hội chưa từng có trong bối cảnh quốc tế hôm nay làm cho Việt Nam hưng thịnh trở thành một thành viên tích cực của cộng đồng quốc tế dấn thân cùng với cả nhân loại tiến bộ, vì hạnh phúc và phát triển của chính quốc gia mình và của cả thế giới… Làm sao Việt Nam có thể thực hiện được những nhiệm vụ sống còn và có ý nghĩa vô cùng trọng đại ấy, nếu đất nước không có một thể chế chính trị dân chủ, thực hiện được hòa giải đoàn kết dân tộc, phát huy tối đa sức mạnh dân tộc, tranh thủ được sự hậu thuẫn của tất các các quốc gia, các lực lượng tiến bộ trên thế giới – kể cả trong lòng nhân dân Trung Quốc?

Tất cả những vấn đề nghiêm trọng sống còn đối với đất nước vừa trình bầy trên làm sao xử lý thành công được, nếu đất nước không có một thể chế chính trị dân chủ, thực hiện được hòa giải đoàn kết dân tộc, để cả nước làm được những việc phải làm, cho bây giờ và cho mãi mãi về sau?

Tất cả những vấn đề nghiêm trọng sống còn vừa nêu trên chẳng lẽ không mảy may liên quan đến việc sửa đổi Hiến pháp hiện nay?

Chẳng lẽ ĐCSVN hôm nay không còn đủ tính tiền phong chiến đấu, để nhận thức được những vấn đề sống còn như thế đang đặt ra cho đất nước, không có trí tuệ và ý chí bắt tay vào nhiệm vụ phải làm như Đảng đã từng làm khi tiên phong khai phá con đường cứu nước?

Đảng phải tìm cho mình câu trả lời: Làm hay không làm? Làm thế nào? Trả lời thế nào, Đảng tự phơi bầy mình ra là thế nấy, chẳng có thế lực thù địch nào xuyên tạc nổi.

Còn nhân dân – qua không biết bao nhiêu kiến nghị, thư, lời kêu gọi… gửi cho Đảng… ít nhất từ 3 Đại hội Đảng toàn quốc liên tiếp cho đến nay – nghĩa là từ 15 năm nay – đã đặt ra cho mình những câu hỏi đúng, các câu trả lời đúng.

III
Đề nghị của người viết bài này với nhân dân và các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước

Có thể vì không thấy hết tầm vóc các việc phải làm cho sửa đổi Hiến pháp, hoặc là bị khuôn vào những nguyên tắc chỉ đạo của Tổng bí thư như sửa gì thì cũng phải trong khung khổ Cương lĩnh và Điều lệ Đảng, quyền lực của hệ thống chính trị là thống nhất, không có tam quyền phân lập, gác lại vấn đề sở hữu đất đai.., nên kế hoạch sửa đổi Hiến pháp như đang tiến hành vừa sơ sài về nội dung, (nặng về hình thức, chiếu lệ và không đi vào thực chất), coi như chẳng liên quan gì đến những nhiệm vụ trọng đại và nóng bỏng của đất nước trong giai đoạn hiện tại và xa hơn nữa, vừa không được bố trí đủ thời gian công sức lẽ ra phải đầu tư… Làm như thế làm sao mong được kết quả thực chất?

Hơn nữa, chỉ đạo như thế là đứng trên, là ban cho, là ông chủ của nhân dân, là đứng trên Hiến pháp mất rồi!

Ai mà không hiểu Hiến pháp viết như thế nào là quyền của nhân dân chứ! Lãnh đạo ở đây chỉ có một nghĩa, một nội dung duy nhất là giúp người dân có tri thức và quyền năng thực hiện tốt nhất quyền chủ nhân ông đất nước và sự lựa chọn của họ. Làm khác đi là ốp, là cưỡng bức.

Cũng nhân đây xin nói ngay, hàng ngày Bộ Chính trị có không ít những chỉ đạo như thế.

Có ít nhất 3 thiếu sót quan trọng cần chú ý khắc phục ngay trong quá trình tiến hành sửa đổi Hiến pháp lần này:

(1) Thiếu hẳn khâu chuẩn bị cho nhân dân, ví dụ không thông tin thông báo cho nhân dân:

– thực trạng đất nước, những thách thức và đòi hỏi cho giai đoạn phát triển mới, để suy nghĩ Hiến pháp sửa đổi lần này cần phải thiết kế như thế nào, phải đáp ứng thế nào những yêu cầu mới của đất nước về đối nội, đối ngoại, phát triển…

– gợi ý những vấn đề trọng đại nào trong Hiến pháp cần tập trung huy động trí tuệ và lấy ý kiến của nhân dân, hướng kiến nghị sửa đổi của Ban soạn thảo…

– vân vân…

(2) Về phía Đảng cũng coi việc sửa đổi Hiến pháp là một công việc cắt rời như đã cài sẵn trong lập trình để ở máy tính, nghĩa là chẳng dính dáng gì đến việc phải cải cách hay thay đổi Đảng như thế nào. Mà như thế, như đã nêu trong phần II: giả thử Hiến pháp được sửa thật tốt thế nào đi nữa, nhưng nếu hệ thống chính trị vẫn y nguyên, cái gì sẽ chờ đợi đất nước?

(3) Hầu như không có sự chuẩn bị gì cho việc nâng cao dân trí và quyền năng của nhân dân, để nhân dân có thể làm tốt quyền và nghĩa vụ công dân của mình trong việc góp ý kiến vào Hiến pháp, trong việc thực hiện quyền phúc quyết… Cũng xin nói ngay, không thực hiện nghiêm túc với chất lượng cao quyền thảo luận tham gia ý kiến và quyết định (nhất là đối với những vấn đề quan trọng), quyền phúc quyết của nhân dân, Hiến pháp sửa đổi hay Hiến pháp mới sẽ giảm hẳn giá tri cũng như khả năng thực thi.

Quá trình soạn thảo sửa đổi Hiến pháp hay xây dựng Hiến pháp mới lẽ ra nhất thiết còn phải là lúc làm cho cả nước có cơ hội học tập để nâng cao hiểu biết, nâng cao quyền năng của công dân, giác ngộ nhân dân những vấn đề trọng đại của đất nước, gắn bó người dân hơn nữa với vận mệnh đất nước… Nhà nước pháp quyền chính đáng nào mà lại không mong muốn công dân của mình có trình độ giác ngộ cao nhất?

Vân vân…

Ngoài ra, cá nhân người viết bài này xin có những đề nghị như sau:

1. Nếu chỉ sửa đổi sơ sơ như dự thảo đã công bố, thì nên tạm dừng lại chưa đi tới phần kết thúc như thời khắc biểu đã định, riêng việc lấy ý kiến nhân dân phải tiến hành có chất lượng và nên kéo dài tới cuối năm 2013, để có thời gian bổ khuyết 3 việc còn sót chưa làm nói trên.

2. Trong khoảng thời gian kéo dài thêm, nên thực hiện ngay một số Điều đúng, đã có sẵn trong Hiến pháp 1992, như các Điều quy định các quyền về tự do, dân chủ của công dân, quyền con người, về tự do ngôn luận, về báo chí..; đình chỉ ngay mọi hoạt động có tính chất khủng bố, trấn áp, hay đàn áp nhân dân, thả ngay những người bất đồng chính kiến đang phải thụ án tù hay đang bị xét xử, làm ngay một số việc khác như 71 trí thức đã nêu trong kiến nghị ngày 06-08-2012.

3. Bãi bỏ việc sửa đổi Hiến pháp theo kiểu chắp vá như đang làm, đặt vấn đề xây dưng Hiến pháp mới lần này là một trong những bộ phận quan trọng nhất của chương trình cải cách triệt để và toàn diện chế độ chính trị của đất nước.

4. Lãnh đạo Đảng và Nhà nước phát huy trí tuệ và tâm huyết cả nước xây dựng chương trình cải cách toàn diện hệ thống chính trị, kế hoạch và lộ trình thực hiện. Thông qua cuộc cải cách chính trị này Đảng thực hiện cải tổ lại chính mình cả về đường lối, về tổ chức để trở thành Đảng của dân tộc phù hợp với những tiêu chí của một nhà nước pháp quyền dân chủ.

5. Thông qua cải cách chính trị lần này Đảng trang trải hai món nợ, hai nhiệm vụ lịch sử đối với nhân dân, đối với tổ quốc mà Đảng đã để trễ 37 năm sau khi đất nước độc lập thống nhất:

– Xây dựng một thể chế chính trị dân chủ của nhà nước pháp quyền để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân.

– Thực hiện hòa giải đoàn kết dân tộc để phát huy tối đa sức mạnh toàn diện của đất nước.

IV
Vài suy nghĩ thay lời kết

Qua cải cách chính trị lần này, một nước Việt Nam dân chủ ra đời[2] từ nước Việt Nam độc lập thống nhất kể từ 30-04-1975 – nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam – đấy sẽ là sự đổi đời của chính nước ta, để từ nay và mãi mãi mở mày mở mặt cùng đi được với cả thiên hạ, để có khả năng là bạn và là đối tác được tôn trọng của cả thiên hạ. Song sự kiện này sẽ làm thế giới chấn động, vì nó góp phần củng cố hòa bình, có lợi cho hợp tác và cùng phát triển ở Đông Nam Á, với nhiều ảnh hưởng lan tỏa rất khích lệ cho cái thiện, cái tốt ở mọi nơi. Có thể nói ngay, cả thế giới sẽ vui mừng với chúng ta – trong đó có không ít những bộ phận nhân dân trong lòng đất nước Trung Quốc. Còn Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa chắc chắn sẽ không như thế. CHNDTH sẽ như thế nào, điều này còn tùy thuộc vào nhiều thứ dễ thấy ngay từ bây giờ… Song việc nước ta phải làm thì nước ta cứ phải làm, đủ sức làm, và làm được, chẳng lẽ cứ phải ngó nghiêng hay xin phép Trung Quốc? Mà dù ta có ngoan ngoãn, ngó nghiêng hay xin phép… chắc gì được yên thân? Khi cần và thấy trên bàn cờ quốc tế là có thể – bất kể là ta yếu hay mạnh, cương hay nhu, ngoan hay bướng… – thì CHNDTH vẫn sẵn sàng ra tay đối với ta, lần nào cũng rất rắn. Chiếm Hoàng Sa của ta năm 1974 là như thế, cuộc chiến tranh Campuchia và cuộc chiến tranh đánh ta tháng 2-1979 là như thế, lấy thêm một số đảo của ta ở Trường Sa năm 1988 là như thế, bây giờ đang muốn lấn chiếm ta tiếp trên Biển Đông cũng là như thế – giữa lúc ta vẫn đang gồng lên nhẫn nhục gìn giữ đại cục, 4 tốt và 16 chữ đấy thôi!..

Nhưng nếu ta không quyết tâm đổi đời đất nước lần này, chắc chắn nước ta sẽ rơi sâu hơn nữa không có lối thoát vào con đường nô dịch của siêu cường Đại Hán như đã vương vào từ Hội nghị Thành Đô năm 1990 đến nay gỡ chưa ra. Không chỉ có thế, rơi vào vòng tay Trung Quốc, nước ta một lần nữa sẽ trở thành chiến địa mới của nhiều nước, nội chiến cũng sẽ nổ ra trong lòng tổ quốc chúng ta!

Song làm sao thực hiện được cuộc đổi đời như vậy của đất nước, nếu không có sức mạnh của trí tuệ và từ trong tâm huyết và ý chí của hòa giải đoàn kết dân tộc?

Cần nói thẳng thắn với nhau hòa giải đoàn kết dân tộc như thế đến nay vẫn hầu như là không thể, nhưng lại là đòi hỏi tất yếu, là đòi hỏi đầu tiên để đổi đời đất nước.

Làm sao có thể thực hiện được sự hòa giải đoàn kết dân tộc như thế đã để muộn mất 37 năm rồi, nếu không có một thể chế chính trị dân chủ của đất nước làm cái nôi sinh thành và nuôi dưỡng nó?

Về ĐCSVN tôi muốn nói thế này: Chắc chắn người Việt Nam nào có ý thức với đất nước đều thiết tha mong mỏi một cuộc đổi đời của đất nước như vậy. Đấy chính là cái đích ngàn đời mà vì nó cả nước đã đi theo Đảng bước vào Cách mạng Tháng Tám. Chẳng lẽ nào bây giờ đứng trên đỉnh cao của quyền lực, Đảng không còn khả năng nhận ra cái đích này? Và chỉ vì thế, có phải là Đảng muốn tự chọn con đường đối kháng với cái đích ngàn đời mong ước này của dân tộc hay không?

Không ai có thể thay Đảng trả lời câu hỏi này.

Bốn cuộc chiến tranh, khoảng 7 triệu sinh mạng người dân nước ta (có số liệu nói 10 triệu) bị cướp đi, cùng với biết bao nhiêu tổn thất khác không bao giờ lấy lại được nữa, những vết thương trong lòng dân tộc như đang muốn không bao giờ lành lại nữa, gần một nửa thế kỷ[3] đất nước chìm đắm trong khói lửa giữa lúc thế giới đi lên đỉnh cao phát triển mới, rồi những sai lầm đổ vỡ do chính tự tay ta bên này và bên kia gây nên…

Chừng nấy mất mát và đau thương còn chưa đủ hay sao nếu để xảy ra đổ vỡ nồi da xáo thịt một lần nữa?

Chừng nấy mất và đau thương còn chưa đáng để toàn dân tộc ta nắm tay nhau hòa giải và cùng nhau bước về phía trước?

Chừng nấy mất mát và đau thương không đáng để cho mỗi người Việt chúng ta khép lại quá khứ, không ngoái lại quá khứ, cùng đoàn kết giúp nhau dấn lên, đổi đời chính mình, và đổi đời của đất nước hay sao?

Cuối cùng, xin nói lời đề nghị quan trọng nhất:

Tôi thiết tha mong từng người dân Việt chúng ta học lại quá khứ của chính mình, của đất nước – học tất cả, để hiểu những điều tốt và xấu, thành và bại, ác và thiện, cái ngu dốt và sự minh triết, sự thù hận và lòng khoan dung… Không chờ và không cần ai ban bảo mình hay nhồi nhét cho mình học cái gì! Mà hãy đem tất cả nỗi thương đau của chúng ta về số phận đất nước, đem tất cả ý chí của mình mong mỏi đổi đời đất nước, để tự tìm tòi học lại tất cả những cái phải học, học thêm những cái mới…

Xin hãy học tất cả những điều phải học như thế, trước hết để chiến thắng chính mình, chiến thắng nỗi sợ và những yếu kém của mình. Học như thế để đổi đời của chính mình và quyết tâm cùng nhau đổi đời đất nước.

Bởi vì: Thực hiện bằng được hòa giải dân tộc để cứu tổ quốc đang lâm nguy, mở ra một thời kỳ phát triển mới của đất nước là trách nhiệm thiêng liêng không của riêng một ai trong cộng đồng dân tộc Việt Nam chúng ta!
***
[1] Xin đừng lúc nào quên một thời nhân dân dành cho Đảng quyền lãnh đạo, song chưa bao giờ có chuyện nhân dân của một nước độc lập dân là chủ lại dành cho Đảng quyền lực cai quản đất nước, Đảng cũng chưa bao giờ dám ghi vào Cương lĩnh và Điều lệ của mình việc giành quyền lực như thế – vì sẽ danh không chính ngôn không thuận, mặc dù Đảng làm việc này với tất cả.
[2] Tôi không dám lạm bàn về tên gọi của quốc gia, vì đấy sẽ là quyền của nhân dân, khi nào được hỏi tôi sẽ nói đề nghị của mình.
[3] 1945 –1989, khi kết thúc chiến tranh Campuchia.


Sửa đổi Hiến pháp Việt Nam phải bắt đầu với việc bỏ điều 4
Thanh Phương ( RFI ) Kể từ ngày 02/01 cho đến ngày 30/03/2013, người dân Việt Nam được mời tham gia đóng góp ý kiến cho bản dự thảo sửa đổi Hiến pháp. Theo dự thảo sửa đổi Hiến pháp, có 8 nội dung sửa đổi được lấy ý kiến nhân dân, trong đó có Lời nói đầu của Hiến pháp; chế độ chính trị; quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; bộ máy Nhà nước; hiệu lực của Hiến pháp, v.v…
Trong cuộc họp báo ngày 29/12 vừa qua, ông Phan Trung Lý, trưởng ban biên tập dự thảo sửa đổi Hiến pháp đã tuyên bố là nhân dân có thể cho ý kiến đối với mọi nội dung trong bản dự thảo, kể cả điều 4 của Hiến pháp Việt Nam, « không có cấm kỵ gì cả ». Cho tới nay, ở Việt Nam, điều 4 Hiến pháp vẫn là chủ đề cấm kỵ và cựu chủ tịch Nước Nguyễn Minh Triết khi còn tại chức đã từng tuyên bố rằng : « Bỏ điều 4 Hiến pháp là tự sát ».

Trong bản hiến pháp 1992, điều 4 quy định vai trò của Đảng là « lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội », đồng thời khẳng định : « Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. ». Trong bản dự thảo sửa đổi Hiến pháp, điều 4 vẫn quy định Đảng lãnh đạo Nhà nước, chỉ có thêm một câu: « Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình. » Theo nhận định của ông Nguyễn Thanh Giang, một nhà bất đồng chính kiến ở Hà Nội, những câu viết thêm đó không mang lại thay đổi căn bản nào cho điều 4 Hiến pháp :

« Đằng đẵng suốt từ 1980 đến nay Điều 4 vẫn tiếp tục ngự trị Hiến pháp Việt Nam, nhưng phải nói rằng, so với Hiến pháp 1980, Điều 4 lần này đã bớt độc tài hơn khi không còn quy định: “ĐCSVN … là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội” mà chỉ ghi: “ ĐCSVN … là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”

Điều 4 lần này dài hơn Điều 4 Hiến pháp 1992 vì có ghi thêm hai điều ràng buộc:

Một là: “Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình”.

Hai là: “Các tổ chức của Đảng và đảng viên hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.

Thêm thắt chút ít cho uyển chuyển hơn, song điều cốt lõi này thì vẫn đó và không thể nào chấp nhận được: “ĐCSVN …lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”.

Sao lại cưỡng bức nhân dân Việt Nam phải chấp nhận một “lực lượng lãnh đạo” bắt họ phải “lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí minh làm nền tảng tư tưởng”, trong khi, chính cái nền tảng tư tưởng ấy đã đẻ ra cái chủ trương phản động nhất, cái khẩu lệnh phi lý, bất lương nhất trong lịch sử nhân loại: “Trí, Phú, Địa, Hào, đào tận gốc, trốc tận rễ”.

Chính cái “nền tảng tư tưởng” ấy đã xui ĐCSVN làm cải cách ruộng đất tàn sát hàng vạn đồng bào mình, trong đó có rất nhiều tinh hoa dân tộc.

Chính cái “nền tảng tư tưởng” ấy đã nẩy nòi ra những “lãnh tụ cộng sản” kiểu như ông Đỗ Mười, ngay sau 1975, hăng hái tiến vào SàiGòn triệt hạ công thương nghiệp bằng bàn tay chuyên chính vô sản tàn bạo, phi pháp, bất nhân.

“Đảng … chịu sự giám sát của nhân dân” thật ư? Nhân dân nào được giám sát mà lại chịu để cho ông TBT Đảng Nông Đức Mạnh mời Trung Quốc vào đóng chốt ở Tây Nguyên, chịu để cho ông TBT Lê Khả Phiêu nhượng bao nhiêu đất, bao nhiêu biển cho Trung Quốc.

“Đảng … chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình” mà sao không tự xử thích đáng, không không tự bãi nhiệm, từ chức trước những sai lầm tệ hại như chủ trương công nghiệp nặng làm then chốt đã từng tàn phá nền kinh tế, đẩy đất nước vào kiệt quệ, nhân dân chịu đói nghèo; như chủ trương mở đường Hồ Chí Minh và khu lọc dầu Dung Quất đã gây lãng phí hàng trăm, nghìn tỷ đồng …

Điều 4 còn đấy nên đã ràng buộc Điều 70 một cách vô lý:

“Lực lượng vũ trang nhân dân phải tuyệt đối trung thành với Đảng cộng sản Việt Nam, Tổ quốc và nhân dân, có nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, cùng toàn dân xây dựng đất nước và thực hiện nghĩa vụ quốc tế”.

Quân đội được nhân dân sinh ra và tốn công tốn của nuôi nấng thì phải phục vụ nhân dân, bảo vệ giang sơn đất nước chứ đâu “phải tuyệt đối trung thành với ĐCSVN” để rồi phải tuyệt đối trung thành và xả thân bảo vệ cái nền tảng tư tưởng Mac-Lênin. Tệ hại hơn, đôi khi vì cái nền tảng tư tưởng ma quái ấy mà phải dấn thân làm đồ đệ cho một “mẫu quốc” nào đó!

Điều 4 làm khổ nghèo nhân dân, làm nguy hại đất nước như vậy mà sao cứ để nó đóng gông mãi vào Hiến pháp Việt Nam cho được! »

Trong chỉ thị 22 mà Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng vừa ký ban hành, lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam đã xem việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân cho bản dự thảo Hiến pháp là « một đợt sinh hoạt chính trị quan trọng, rộng lớn trong toàn Đảng, toàn dân và cả hệ thống chính trị ». Thế nhưng, ngay trong chỉ thị đó, ông Nguyễn Phú Trọng đã yêu cầu công an và quân đội phải « ngăn chặn những hành vi lợi dụng dân chủ việc lấy ý kiến nhân dân để tuyên truyền, xuyên tạc, chống phá Đảng và Nhà nước. »

Lời răn đe này chắc chắn là khiến chẳng có mấy ai dám góp ý về những vấn đề nhạy cảm trong bản dự thảo sửa đổi Hiến pháp, như điều 4, sợ rồi sẽ bị khép vào tội « tuyên truyền chống Nhà nước », theo điều 88 Bộ luật Hình sự Việt Nam.

Trong « Lời kêu gọi thực thi quyền con người theo Hiến pháp tại Việt Nam », đề ngày 28/12/2012, một số nhân sĩ trí thức có tên tuổi ở Việt Nam đã yêu cầu hủy bỏ điều 88 này, một điều luật mà theo họ « thực chất là bóp nghẹt quyền tự do ngôn luận đã được Hiến pháp Việt Nam và Công ước quốc tế về những quyền chính trị và dân sự ghi nhận và bảo đảm ».

Trong bản dự thảo được công bố để lấy ý kiến nhân dân, đó là có một điều mới quy định về Hội đồng Hiến pháp, được mô tả là « cơ chế phán quyết về những vi phạm Hiến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp. Nhưng đối với ông Nguyễn Thanh Giang, nếu thật sự có vai trò như thế thì Hội đồng Hiến pháp này trước hết phải xóa bỏ những điều luật như điều 88 và điều 79 Bộ Luật Hình sự :

« Dự trù thành lập Hội đồng Hiến pháp như trong Điều 120 cũng là một nét tiến bộ đáng hoan nghênh của dự thảo Hiến pháp mới. Điều 120 xác định quyền hạn và nhiệm vụ của Hội đồng Hiến pháp là kiểm tra tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội, Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành; kiến nghị Quốc hội xem xét lại văn bản quy phạm pháp luật của mình khi phát hiện có vi phạm Hiến pháp; yêu cầu Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật của mình hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền hủy bỏ văn bản vi phạm Hiến pháp; kiểm tra tính hợp hiến của điều ước quốc tế được ký kết nhân danh Nhà nước trước khi trình Quốc hội, Chủ tịch nước phê chuẩn.

Hy vọng Hội đồng này nếu có chút phẩm giá thì việc trước tiên là nên yêu cầu Nhà nước hủy bỏ ngay điều 88 và điều 79 ở Bộ Luật Hình sự.

Nói vậy để được mơ màng thôi. Chừng nào còn ĐCSVN thì Điều 88 và Điều 79 kia phải được duy trì để bảo vệ Điều 4 chứ!"

Nếu có một điểm gì thật sự mới so với Hiến pháp hiện hành, thì đó là trong bản dự thảo sửa đổi, người ta không còn ghi kinh tế Nhà nước là chủ đạo nữa, mặc dù vẫn Việt Nam vẫn được xem là « nền kinh tế thi trường định hướng XHCN », một khái niệm cho tới nay còn rất mơ hồ. Đối với ông Nguyễn Thanh Giang, đây là một điểm tiến bộ nổi bật của Hiến pháp sửa đổì lần này :

« Điều 54 của Dự thảo Hiến pháp sửa đổi đã được ghi:

1. Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế.

2. Các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân, cùng phát triển lâu dài, hợp tác, bình đẳng và cạnh tranh theo pháp luật”.

Đây là điểm tiến bộ nổi bật của Hiến pháp sửa đổi lần này. Nhớ lại rằng, Hiến pháp 1992 còn sủng tôn hết kinh tế nhà nước đến kinh tế tập thể mà kỳ thị kinh tế tư nhân. Điều 55 HIếN PHÁP 1992 ghi: “ …kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Kinh tế tập thể với các hình thức hợp tác được củng cố và phát triển. Kinh tế tư nhân là một trong những động lực của nền kinh tế. Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển”.

Tôi phấn khởi hoan nghênh và nhiệt liệt đón mừng điểm tiến bộ này. Suốt gần hai mươi năm qua, tôi đã viết vài nghìn trang chính luận góp phần bàn thảo nhiều vấn đề quốc sự, trong đó có ba điều trăn trở nhất. Ngoài vấn đề nên thiết lập mối liên minh liên kết với thế giới tiên tiến nói chung và với Hoa Kỳ nói riêng để ngăn ngừa sự xâm lăng Đại Hán, hai vấn đề đối nội mà tôi quyết liệt đấu tranh rất kiên trì là phải bỏ chủ trương ưu tiên kinh tế quốc doanh và chủ trương quy định đất đai là sở hữu toàn dân.

Tôi đã gọi doanh nghiệp nhà nước là những cái bồ sứt cạp thủng đáy để người ta mặc sức rót vô tội vạ tài sản, kể cả xương máu của nhân dân, vào đấy để cho hàng loạt cái mồm quý tử của Đảng thi nhau nhồm nhoàm nhai nuốt. Buồn cười nhất là ngay trong Báo cáo Chính trị Đại hội VII người ta đã ấn định phải tập trung nguồn lực làm cho kinh tế quốc doanh đạt chỉ tiêu 60% GDP. Lúc ấy tôi đã kịch liệt phản bác điều hoang tưởng nguy hại này và đã bị quy kết đủ tội: chống CNXH, chống Đảng, phản động….cho nên đã bị hành hạ đủ kiểu rất tàn nhẫn

Thực tế nhỡn tiền là mặc dù đã rót vào đấy không biết bao nhiêu tài sản xã hội, tài nguyên đất nước và đã qua mấy kỳ thực hiện Nghj quyết Đại hội rồi mà đến nay kinh tế nhà nước vẫn chỉ đóng góp được 30% GDP. Chẳng những thế, kinh tế nhà nước với rất nhiều Vinashin, Vinalines … đã choàng vào cổ nền kinh tế èo uột này món nợ xấu đến một triệu nghìn tỷ!

Suy cho cùng, đấy cũng là do hậu quả từ Điều 4 Hiến pháp. »

Tóm lại, theo ông Nguyễn Thanh Giang, dự thảo sửa đổi Hiến pháp lần này, tuy có một vài tiến bộ, nhưng vẫn chưa đạt yêu cầu của một Hiến pháp thật sự do dân, vì dân :

" Về quy phạm sửa đổi hiến pháp không những ta đã không theo lề lối của thế giới mà cũng không theo các điều khoản khoản hiến định trong Hiến pháp 1946.

Cho đến nay, Hiến pháp nước ta vẫn do Quốc hội soan thảo và thông qua, mà Quốc hội thì chỉ là cơ quan lập pháp trong khi lập hiến có chức năng riêng và quyền lập hiến là một quyền riêng.

Luật gia Thomas Jefferson, tác giả bản Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ 1776 đã nâng quyền lập hiến lên cao hơn quyền lập pháp. Từ đấy mới bảo đảm cho hiến pháp không bị cơ quan lập pháp làm biến chất.

Quốc hội chỉ là cơ quan lập pháp. Quyền lập hiến (quyền làm ra và sửa đổi hiến pháp) phải được giao cho Ủy hội Lập hiến gồm các chính khách, các trí thức Việt Nam tên tuổi trong và ngòai nước, các đại biểu xuất sắc thuộc mọi thành phần xã hội không chỉ là đại biểu Quốc hội hay đảng viên đảng CSVN. Bản Hiến pháp mới nhất thiết phải được đưa ra cho nhân dân phúc quyết. »

Phải để cho người dân thực hiện quyền phúc quyết Hiến pháp, tức là phải đưa Hiến pháp ra trưng cầu dân ý, đó cũng là yêu cầu của nhiều nhà trí thức khác, như tiến sĩ Tô Văn Trường. Trong một bài viết về sửa đổi Hiến pháp gởi cho trang Bauxite Việt Nam, được đăng ngày 11/1, ông Tô Văn Trường đã nêu lên vấn đề này. Ông viết :

« Nhiều quốc gia khi xây dựng Hiến pháp trên cơ sở phúc quyết của toàn dân, được nhân dân và trí thức góp công xây dựng tạo nên một bản Hiến pháp xứng đáng gọi là Hiến pháp làm cơ sở chỉ đạo các luật đi kèm. Quyền làm chủ đất nước của người dân ở mức độ đơn giản nhất thể hiện qua việc người dân được “phúc quyết” Hiến pháp. Lấy ý kiến người dân về Hiến pháp không phải là “Phúc quyết” mà cần có Trưng cầu dân ý. Liệu dự thảo Hiến pháp mới có được dân phúc quyết theo cách thức này? Còn góp ý giống như góp ý cho Nghị quyết Đại hội Đảng 2 kỳ vừa rồi thì mọi người cũng đã thừa biết là nó đi đến đâu. »

Trước đó, trong một bài đăng trên Lao Động cuối tuần, số đề ngày 03/01/2013, tiến sĩ Nguyễn Quang A, cũng đã viết :

"Nếu muốn xây dựng một nhà nước của dân, do dân, vì dân, thì mọi quyền lực phải thuộc về nhân dân. Hiến pháp không phải là của nhà nước, mà là của nhân dân. Trong Hiến pháp nhân dân là chủ thể, là người quyết định, là những người trao quyền cho nhà nước (phân quyền cho các nhánh nhà nước như lập pháp, hành pháp và tư pháp) đến mức nào và như thế nào để bảo vệ các quyền tự do và sự hạnh phúc của người dân. Đấy là quyền tối cao của nhân dân. Như thế nhân dân là người quyết định Hiến pháp. Đối tượng của Hiến pháp (đối tượng phải thi hành, phải tuân thủ Hiến pháp và bị hạn chế quyền lực bởi Hiến pháp) chính là nhà nước chứ không phải người dân."

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.