Kinh tế Việt Nam chưa thể khá

Posted: February 28, 2013 in Uncategorized
Tags: ,

Nguyễn-Xuân Nghĩa ( DainamaxTribune ) Căn nhà mái dột và móng ruỗng nên chỉ sợ phải gió.

Nghe bài này

Diễn đàn Kinh tế tìm hiểu về viễn ảnh kinh tế đó qua phần trao đổi với chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa do Gia Minh thực hiện sau đây:

(Xem thêm: 'Làm khoa học không thể tự biện, tự sướng' – Robot đến lớp thay học sinh) …


Một góc phố Hà Nội những ngày cuối năm 2012- AFP photo
Khó khăn chồng chất

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vừa phê duyệt và ban hành quyết định về Đề án quy mô sẽ thi hành từ nay đến năm 2020 để tái cơ cấu trúc nền kinh tế èo uột của Việt Nam với đà tăng trưởng thấp nhất kể từ 13 năm nay. Lồng trong đề án là tái cơ cấu hệ thống tài chính ngân hàng và tái cơ cấu doanh nghiệp, với trọng tâm là các tập đoàn và tổng công ty nhà nước. Theo dõi quyết định mang số 339/QĐ-TTg của Thủ tướng Hà Nội, ông đánh giá thế nào về triển vọng kinh tế của Việt Nam trong năm nay và những năm tới?

– Gần hai năm nay rồi, người ta đã thấy lãnh đạo Hà Nội, từ đảng xuống tới Nhà nước và Chính phủ nói đến việc chuyển hướng và ba yêu cầu tái cấu trúc hệ thống tài chính và ngân hàng, hệ thống doanh nghiệp nhà nước và hệ thống đầu tư của khu vực công quyền. Nhưng tiến độ của việc cải sửa thật ra quá chậm và nếu có xem lại các quyết định đã ban hành từ năm ngoái về những yêu cầu tái cơ cấu đó thì cũng như xem lại một khúc phim cũ. Khác biệt nếu có là thời hạn thực hiện, thay vì từ 2011 đến 2015 thì nay sẽ là 2013 đến 2020. Trong khi ấy, thực tế kinh tế và đời sống vẫn tiếp tục xoay vần và sẽ gặp nhiều khó khăn hơn.

Xin ông nêu ra vài thí dụ để thính giả của chúng ta hiểu ra cơ sở phân tích của ông về những nỗi khó khăn đó.

– Doanh nghiệp Việt Nam đang gặp trở ngại khi phải vay tiền ngân hàng vì các ngân hàng bị kẹt nợ mà xấu tốt và nhiều ít thế nào thì chẳng ai biết hoặc đánh giá được cho chính xác. Bộ máy tuần hoàn cần bơm tiền cho cơ thể mà bị ách tắc như vậy thì sản xuất tất nhiên đình đốn và đà tăng trưởng kinh tế sẽ khó vượt qua 5,5%, với nguy cơ lạm phát thật ra sẽ tăng trong những tháng tới. Về toàn cảnh thì như vậy, nay ta nói đến chuyện cụ thể là nợ nần.

Trong nhiều năm liền, do chính sách ưu đãi lẫn hệ thống quản lý lỏng lẻo của nhà nước, doanh nghiệp nhà nước đã vay mượn quá sức, nôm na là gấp ba số vốn, nhiều hơn tư doanh nội địa và công ty có vốn đầu tư của nước ngoài. Khi kinh tế bị suy trầm, doanh nghiệp không trả được nợ và chủ nợ là ngân hàng mới bị kẹt mà càng kẹt nặng khi doanh nghiệp nhà nước đi vay để đầu cơ ngoài mục đích kinh doanh nguyên thủy. Tháng Bảy năm ngoái, Thủ tướng Hà Nội mới ra quyết định mang số 958 về xử lý nợ công và định ra những định mức về đi vay. Nhưng điều ly kỳ là chẳng thấy đề ra biện pháp ngăn ngừa hoặc chế tài khi vay quá chuẩn mực quy định.

Chuyện các tập đoàn kinh tế nhà nước và tổng công ty bị lỗ lã và có nguy cơ vỡ nợ thì đã manh nha từ năm năm trước mà việc cải cách thì vẫn chậm lụt. Năm ngoái cũng đã có hai quyết định từ Thủ tướng mang số 704 và 929 với chỉ thị và hứa hẹn cải tổ rất huê dạng mà kết quả vẫn chưa tới đâu. Người ta chưa thấy công khai hóa thông tin về việc rà soát, chấn chỉnh và kỷ luật những sai phạm vì lý do chuyên môn hay pháp lý. Trong lĩnh vực ngân hàng cũng thế, việc xử lý nợ xấu và lập ra công ty quản lý tài sản để thanh thỏa các khoản nợ đã được Ngân hàng Nhà nước ra quy định từ Tháng Năm năm ngoái mà chưa nhúc nhích, giờ này người ta mới lại nói đến Đề án Tổng thể để tái cơ cấu như một bước đột phá. Tất cả vẫn chỉ là màn khói, là lời nói.

Trở ngại từ ngân hàng

Với người dân thì tài chính và ngân hàng là lĩnh vực thiết yếu nhất trong sinh hoạt kinh tế, vì thu hút ký thác của họ và cấp phát tín dụng cho doanh nghiệp. Thưa ông, tình hình lĩnh vực này ra sao và có cải tiến gì không kể từ những quyết định từ năm ngoái như ông vừa nhắc lại?

– Hệ thống ngân hàng của Việt Nam gây ra mối quan ngại lớn vì hai lý do. Thứ nhất là tài sản ung thối đến rỗng ruột vì các khoản nợ xấu, khó đòi và sẽ mất mà xấu tới cỡ nào và mất bao nhiêu thì chưa ai biết. Thứ hai là từ nhiều năm nay, người ta đã nói đến nhu cầu cải tổ ngân hàng, cũng cấp bách như cải cách doanh nghiệp, vậy mà vẫn chưa tiến hành.

Về chuyện thứ nhất, trong nhiều năm hồ hởi bơm tín dụng mà thiếu khả năng thẩm định rủi ro và cơ chế thanh tra trong một môi trường luật lệ rất lỏng lẻo, hệ thống ngân hàng tại Việt Nam là một cấu trúc èo uột và có thể sụp đổ dưới một núi nợ xấu – thuật ngữ kinh tế gọi là nợ không sinh lời mà sẽ mất. Tính đến Tháng Chín năm ngoái, các ngân hàng báo cáo cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam một tỷ lệ nợ xấu là gần 5%. Ngân hàng Nhà nước thì ước tính một con số gấp rưỡi, là gần 9%, khoảng 200 ngàn tỷ đồng. Nhưng nếu áp dụng tiêu chuẩn thẩm định kế toán ngân hàng của quốc tế thì cục u bướu này có thể to hơn gấp bội.

xin được hỏi ngay một câu là vì sao lại có khác biệt lớn như vậy?

– Thưa rằng vì sự khác biệt trong định nghĩa. Thí dụ thiết thực là khi một khoản nợ đáo hạn mà chưa thanh toán sau 90 ngày thì phải được coi là nợ xấu và có thể mất. Nếu lại vì khách nợ có quan hệ tốt về chính trị hoặc vì ngân hàng không muốn trương chủ ký thác e sợ mà rút tiền thì ngân hàng có thể đảo nợ là cho vay thêm để thanh lý khoản nợ đó. Về kế toán thì ngân hàng đã thu về khoản nợ cũ tức là không bị nợ xấu, dù thực tế lại khác hẳn. Khi bị rủi ro mất nợ thì ngân hàng phải lập dự phòng. Số dự phòng này ăn vào vốn kinh doanh của ngân hàng, tức là khấu trừ vào khoản tài sản có thể cho vay ra. Nếu đánh giá thấp mức rủi ro mất nợ và thật sự là sẽ mất nhiều hơn thì ngân hàng rơi vào tình trạng thiếu vốn và phải tăng vốn.

Như vậy, sự khác biệt quá lớn trong cách ngân hàng và cả Ngân hàng Nhà nước chiết tính mức nợ xấu nếu so sánh với tiêu chuẩn của quốc tế cho thấy một sự thật u ám ở bên dưới. Đó là các ngân hàng của Việt Nam không lập dự phòng rủi ro tương xứng với mức nợ sẽ mất, và thực tế là đang bị thiếu vốn kinh doanh. Chuyện ấy hết là một vấn đề kế toán mà là mối nguy kinh tế.

Nguy cơ vỡ nợ

Mối nguy kinh tế vì các ngân hàng thực tế thiếu vốn cho vay và còn có khả năng bị vỡ nợ, có phải là như vậy không?

– Thưa rằng đúng như vậy và một cách gián tiếp người ta đã thấy ra điều ấy qua những chấn động vừa qua về giá vàng.

Trong tình trạng kinh tế èo uột và chính trị bất trắc, người dân không tin vào giá trị của đồng bạc Việt Nam và cứ có tiền thì mua vàng để phòng thân. Họ phải ký thác vàng vào ngân hàng nhưng khi thiếu tiền mặt, ngân hàng lại rút vàng của thân chủ ra bán để đáp ứng tiêu chuẩn về thanh khoản của Ngân hàng Nhà nước. Rồi sau đó, ngân hàng lại phải mua vàng để trả cho khách cần tiền đâm ra ngân hàng góp phần đáng kể vào sự dao động trên thị trường vàng của Việt Nam.

Các ngân hàng cho vay ra mà không ước tính được rủi ro cho chính xác và an toàn nên bị nguy cơ vỡ nợ. Sau đó, họ phát huy sáng kiến là chiêu dụ thân chủ ký thác vàng miếng, vàng lá vào trong két sắt của ngân hàng và trả tiền lời rất hậu. Lượng vàng ấy trở thành một phương tiện kinh doanh cho các ngân hàng khi họ bán ra rồi mua vào ở từng thời điểm khác nhau với giá khác nhau. Khi phải mua vào với giá cao hơn trong sự biến động của thị trường vàng, các ngân hàng càng bị lỗ nặng và trôi dần vào cái vực phá sản.

Thưa ông, như vậy thì có phải trách nhiệm chính vẫn thuộc về Ngân hàng Nhà nước hay chăng?

– Thưa rằng thuộc về Ngân hàng Nhà nước và cả Nhà nước đứng sau nữa.

Trên nguyên tắc và nếu làm đúng chức năng, cơ quan này phải ra quy định rõ ràng và huấn luyện hẳn hoi về cách thẩm định rủi ro, xếp loại tín dụng, phải ra tiêu chuẩn về nhu cầu trích lập quỹ dự phòng rủi ro mất nợ và đặt thời hạn trắc nghiệm khả năng ứng phó hay ứng suất – nói theo thuật ngữ ngân hàng. Mà tất cả tiến trình ấy phải được công khai hóa với thông tin minh bạch cho công chúng cùng biết. Đấy là cơ sở cho phép Ngân hàng Nhà nước ước tính ra khối lượng nợ xấu của cả hệ thống ngân hàng hầu còn kịp đối phó sau này.

Một phương cách đối phó được nói tới là lập ra một Công ty Quản lý Tài sản để sẽ mua lại các khoản nợ và giúp các ngân hàng có một bảng kết toán tài sản lành mạnh và quân bình hơn. Nhưng công ty này sẽ lấy vốn ở đâu và khi bị lỗ thì ai chịu? Mà làm sao tính ra lời lỗ và thanh thoả nếu không có tiêu chuẩn định giá theo một nguyên tắc thống nhất và có những quy định pháp lý về thể thức mua bán? Chúng ta không quên là năm bảy năm trước, Trung Quốc cũng đã mất 200 tỷ đô la để mua lại tài sản và bù lỗ cho các ngân hàng mà đa số là quốc doanh của họ. Dù sao, Chính quyền Trung Quốc còn có tiền…. chứ trong giả thuyết lạc quan là nợ xấu của Việt Nam chỉ lên tới 20 tỷ đô la thì đấy cũng bằng khối dự trữ ngoại tệ hiện nay của Hà Nội.

Mới chỉ phân tích có hai hồ sơ nổi cộm là doanh nghiệp nhà nước và tài chính ngân hàng thì ta đã thấy ra nhiều khó khăn trước mắt. Đấy là cơ sở của cách đánh giá khá bi quan của ông hay chăng?

– Chúng ta thấy là từ Hội nghị kỳ sáu của Ban chấp hành Trung ương khóa 11 vào Tháng 10 năm ngoái, lãnh đạo đảng Cộng sản đã nói đến tái cơ cấu về doanh nghiệp nhà nước, ngân hàng và đầu tư của khu vực công quyền. Nhưng xét cho kỹ thì họ mới chỉ nói thôi mà chưa thấy làm gì. Hệ thống doanh nghiệp nhà nước, từ các tập đoàn kinh tế đến tổng công ty và bên trong là núi nợ đã đổ, vẫn chưa thấy nhúc nhích sau các Quyết định 929 và 704.

Hệ thống tài chính và ngân hàng cũng đang lung lay mà Ngân hàng Nhà nước vẫn chưa ra tay, trừ cái sáng kiến là nhảy vào quản lý vàng miếng vì những mục tiêu mà người dân cho là mờ ám cũng tựa như quyết định đổi tiền thời xưa vậy. Sau cùng còn lĩnh vực đầu tư công quyền với mấy vạn dự án thì chưa thấy ai nói đến chiều hướng cải cách ra sao và làm thế nào để tái cơ cấu khi có quá nhiều quyền lợi mắc mứu bên trong?

Từ trên xuống là như vậy, thực tế ngoài chợ còn có vụ khủng hoảng về bất động sản làm mất thêm cả triệu tỷ đồng bạc nữa, Nhà nước tính sao? Bối cảnh ấy khiến người ta không thể lạc quan trong trung hạn mà phải bi quan về tình hình ngắn hạn ngay trong năm nay. Ngày xưa có người lãnh đạo của đảng than phiền là nạn tham nhũng cũng tựa như nhà dột từ nóc xuống, nay ta còn thấy ra nền móng ruỗng nát bên dưới căn nhà này. Chỉ mong là nhà không phải gió.

'Làm khoa học không thể tự biện, tự sướng'
Hương Thu ( VNE ) – Khoa học Việt Nam muốn tiến lên thì phải có chung phương pháp luận với quốc tế, có sự khách quan độc lập chứ không thể tự biện, tiến sĩ Phạm Bích San, Phó tổng thư ký Liên hiệp các Hội khoa học kỹ thuật Việt Nam, nói.

Ông có nhận xét như thế nào về khoa học và các nhà khoa học ở ta?

– Đã không còn một trường đại học Việt Nam nào đứng trong bảng xếp hạng 500 trường đại học đứng đầu thế giới. Số lượng các bài báo công bố quốc tế cả nước 90 triệu dân chỉ bằng khoảng số lượng một trường đại học Thái Lan. Còn số bằng sáng chế, phát minh thì khỏi phải nói khi chỉ đếm trên đầu ngón tay. Vậy mà số giáo sư, tiến sĩ nước ta nhiều nhất Đông Nam Á. Việt Nam có khoảng 9.000 giáo sư và phó giáo sư, 24.000 tiến sĩ và hơn 100.000 thạc sĩ.

Nước ta cũng có lượng vô số các viện nghiên cứu của nhà nước, lẫn không nhà nước. Cả nước đua nhau thi vào đại học, hàng trăm đại học mở ra mấy năm qua, nhưng hiện nay như một bệnh dịch lây lan, hết tỉnh này rồi tỉnh khác từ chối tiếp nhận bằng tại chức, các doanh nghiệp than phiền không tuyển được người có tay nghề sẵn sàng cho vị trí công việc cần đến họ.

Chúng ta có số lượng nhiều người làm khoa học, song ít người có tay nghề làm khoa học, gần như không có ai có nghiệp khoa học, tức là những người làm việc quên mình trong khoa học và được ghi nhận bằng các giải thưởng khoa học quốc tế tầm cỡ.

Vì sao khoa học Việt Nam lại ít công bố quốc tế?

– Tôi e rằng nền khoa học Việt Nam là nền khoa học không cần có kết quả. Xung quanh vấn đề này có rất nhiều điều cần bàn tới như trắc trở về định hướng, đòi hỏi dân chủ khoa học, điều kiện cần và đủ phải có vai trò thị trường mạnh mẽ mới có khoa học được.

Đừng nói khoa học không cần đến thị trường, phải tồn tại thị trường mới đặt ra yêu cầu với khoa học được. Nhưng đó là vấn đề lớn.

Nền khoa học Việt Nam không có định hướng yêu cầu đặt ra cho trách nhiệm nhà khoa học với các kết quả cụ thể. Khó nhất của quản lý khoa học là khoa học đòi hỏi sự tự do, nhất là sự tự giác của nhà nghiên cứu, vì vậy, chỗ đó có thể là chỗ người có tài làm việc nhưng cũng là chỗ người không có tài cũng làm được, vì họ nói rằng họ "đang tư duy"; hoặc họ bảo họ đang nghiên cứu khoa học. Không có đòi hỏi định hướng nên khoa học Việt không có kết quả nghiên cứu.

Trong lĩnh vực nhỏ hơn nữa là khoa học xã hội, ngoài điều tôi vừa nói trên, Việt Nam có ít công bố quốc tế là do không chia sẻ với thế giới cùng một phương pháp luận nghiên cứu, tạm gọi là phương pháp luận khoa học xã hội. Phải chia sẻ phương pháp luận xã hội, người ta mới chia sẻ kết quả của mình, chứ mình làm theo một kiểu phương pháp luận, họ làm một kiểu luận là không được. Do đó, những gì mình công bố họ rất khó hiểu, thậm chí là không hiểu nên làm sao mà đăng được.

Quan trọng là chúng ta có cùng chia sẻ một phương pháp luận với giới khoa học xã hội thế giới hay không, nếu không sẽ là thiệt thòi lớn cho khoa học nước ta. Ví dụ làm nghiên cứu khoa học xã hội cần có phương pháp luận là những bằng chứng khách quan, độc lập, chứ không ngồi tự biện, tự sướng có kết quả.

Một số nhà khoa học nói rằng nguyên nhân khiến họ không có công bố là do không có tiền để tải bài báo quốc tế tham khảo, Việt Nam lại chưa có cơ chế đãi ngộ với nhà khoa học có đăng bài trên tạp chí quốc tế. Tình trạng này nên được giải quyết như thế nào?

– Chuyện này không đáng kể. Tôi nghĩ đã là chuyên gia giỏi về nguyên tắc phải có tiền, làm ra tiền, nếu không thì chỉ là những người rất thông minh thôi. Chuyên gia giỏi sẽ biết làm thế nào có đủ tiền trang trải cuộc sống của mình. Tôi tính bần cùng lắm như nhà khoa học nổi tiếng người Nga, ông từng giải bài toán về giả thuyết nổi tiếng khi ông không nghề nghiệp, ngồi nhà làm toán mà vẫn tải (dowload) số liệu và công bố số liệu thông qua internet. Điều vĩ đại là khi tặng cho ông giải thưởng một triệu USD ông từ chối nhận vì ông đang bận làm toán.

Điều đó có nghĩa là nguyên nhân Việt Nam không có công bố quốc tế là do từ trong chính nội tại. Nội tại phải yêu cầu làm khoa học để kiếm sống thì khoa học đó phải định hướng bằng kết quả, phải có công bố khoa học, chứ không phải hết năm này qua năm khác gọi là nghiên cứu khoa học và tự biện được.

Vậy làm thế nào để các nhà khoa học Việt Nam có nhiều công bố quốc tế thưa ông?

– Tôi thấy để công bố khoa học đòi hỏi nhiều điều kiện, ngoài điều kiện trên, cá nhân tôi ngày xưa khi còn làm việc tại viện xã hội học, tôi biết rất rõ ràng là để những có công trình công bố nghiêm túc thông thường nằm trong dự án nào đó. Để có bài báo chấp nhận được trung bình cần khoảng 20.000 USD đầu tư đúng người đúng việc. Song đây chỉ là điều kiện cần, còn điều kiện đủ gồm nhiều yếu tố khác như chi tiêu cho đúng, nghiên cứu có tài năng.

Trong cách tổ chức khoa học, nước ta còn rất nhiều vấn đề, đó là vấn đề dân chủ trong khoa học; về lâu dài chúng ta cần vận hành của thị trường, tức tính đến kết quả. Ngô Bảo Châu nếu không đạt kết quả gì chắc không ai thuê giáo sư về giảng dạy tại trường Đại học Chicago danh tiếng.

Theo tôi, Việt Nam nên đi theo chuẩn chung của thế giới là tốt rồi, hay để khoa học tự vận hành theo cách bình thường tự nhiên. Chỉ cần tổ chức lại chắc chắn giới khoa học Việt Nam sẽ có công trình công bố tốt.

Nói riêng trong ngành khoa học xã hội, tôi biết trên thế giới rất cần công trình nghiên cứu của người Việt viết về vấn đề của chúng ta. Nhưng như tôi đã nói, chúng ta nhiều khi không chia sẻ chung cùng một phương pháp luận. Ví dụ, nếu bạn muốn công bố một công trình nghiên cứu định lượng trong ngành xã hội học, các bạn bắt buộc phải sử dụng tương quan đa biến, dùng toán học rất nhiều, chứ tương quan một hay hai biến thì không đăng được.

Khi chuẩn chung thế giới đòi hỏi tương quan đa biến, Việt Nam lại không có hay không biện luận chặt chẽ tại sao thế này sao thế kia, vì vậy thế giới thấy ta không đảm độ tin cậy và không đăng công trình nghiên cứu.

Trong một hội thảo trước đây, các nhà khoa học từng đưa ra con số 70% tiến sĩ không làm khoa học. Nhiều người cho rằng số lượng nhà khoa học này chuyển sang làm quản lý. Ông nghĩ sao?

– Nếu chỉ 70% tiến sĩ Việt Nam không làm khoa học, thì điều đó là quá may cho đất nước mình. Vì số còn lại chúng ta có hơn 10 nghìn người thông thạo một ngoại ngữ, cập nhật thông tin hàng ngay và có công trình công bố quốc tế, như thế nền khoa học nước ta tiến đến đâu rồi ấy chứ.

Thứ hai, các nhà khoa học mà đi làm quản lý thì cũng may cho giới khoa học quá. Vì các nhà khoa học đi làm quản lý lại rất thích làm khoa học khi "ông" nào cũng có một đề tài rất to.

Nhưng thực tế là khi có đề tài dẫn đến các hệ lụy xảy ra. Bản chất nghề khoa học là nghề có vấn đề xảy ra là phải cân nhắc, đào trước đào sau; còn quản lý việc đó phải quyết ngay, khi quyết ngay phải có mệnh lệnh, bản chất của quyền uy mệnh lệnh đó không phù hợp với bản chất tự do, đào sâu suy nghĩ của khoa học, vì vậy có hại cho khoa học.

Ông nghĩ sao khi giới trẻ, đội ngũ kế cận khoa học đang dần rời bỏ nghiên cứu, vì gánh nặng "cơm áo gạo tiền"?

– Nếu các nhà khoa học trẻ kiếm sống tốt bằng nghề khác, chúng tôi rất hoan nghênh. Làm khoa học mà không kiếm sống tốt thì nên làm cái khác, điều này thậm chí còn góp ích cho xã hội. Hãy để khoa học tự điều chỉnh.

Khoa học đòi hỏi đam mê, vì vậy ngày xưa, phần lớn nhóm người có điều kiện mới làm khoa học, sau này khoa học công nghệ trở thành lực lượng sản xuất, khi đó khoa học bắt đầu tạo thu nhập. Tuy nhiên, đúng là làm khoa học thường thu nhập không cao, chỉ thuộc tầng lớp trung lưu thôi. Nhưng bù lại, nhà khoa học có quyền sáng tạo thỏa mãn nhu cầu cá nhân.

Vì vậy, để ghi nhận đóng góp lớn vì sự phát triển nhân loại, hàng loạt giải thưởng đề ra cho giới khoa học bằng uy tín danh dự và sau đó là bằng thu nhập cụ thể. Trước đây khi Marie Curie nhận giải thưởng Nobel đầu tiên, bà cho rằng đây là sự giúp đỡ đồng nghiệp Thụy Điển để bà đỡ khó khăn trong việc làm khoa học mà thôi.

Ông có đề xuất gì về cách trả tiền cho người làm khoa học?

– Khoa học là phát minh của các cá nhân, không có phát minh tập thể. Vậy trả tiền bình quân như nhau cho tất cả mọi người sẽ không còn là khoa học. Việc để cô cán bộ tài chính quyết định sự hợp lý của mức chi cho công tác khoa học sẽ biến hoạt động trí óc sáng tạo thành công việc của lao động giản đơn, nên mãi mãi chúng ta không có khoa học. Tệ hơn thế, lao động khoa học thật rất vất vả, trong khi chia nhau tiền làm khoa học thì thoải mái hơn nhiều. Lâu dần người ta không làm khoa học nữa. Chỉ còn cách là khoán gọn và trả tiền theo kết quả được đánh giá bởi các công trình, các nghiệm thu nghiêm túc và trả thù lao của thị trường.

Theo ông, so với thế giới nền khoa học Việt Nam đang ở vị trí nào?

– Không so sánh được. Vì muốn so sánh, Việt Nam phải đi cùng hướng với họ. Nếu chúng ta cùng đi chung con đường, người đi sau có lúc sẽ đuổi kịp người đi trước, chẳng qua chỉ là tốc độ và khoảng cách thôi.

Tôi không biết Việt Nam đang theo hướng nào. Còn các nước đi theo chuẩn chung của thế giới. Tôi ngạc nhiên khi có nghe thông tin chuẩn bị luật sửa đổi khoa học công nghệ, các trường đại học ở Việt Nam không được tính là đơn vị nghiên cứu khoa học, tôi chưa kiểm tra thông tin này, nhưng nếu đại học không phải nơi nghiên cứu khoa học thì còn nơi nào xứng đáng hơn đây?

Robot đến lớp thay học sinh
( VNE ) – Không thể tới trường như mọi học sinh khác vì mắc bệnh dị ứng kỳ lạ, một thiếu niên ở Mỹ vẫn tham dự các tiết học nhờ robot.

Cậu thiếu niên Devon Carrow ở thành phố West Seneca, bang New York, Mỹ không thể tới trường tiểu học Winchester như những học sinh khác vì cậu mắc một hội chứng dị ứng đáng sợ. Những tác nhân ở môi trường bên ngoài có thể khiến Devon tử vong nếu cậu bị dị ứng.

Nhưng một robot có chiều cao 1,2 m đã giúp cậu tham dự các tiết học. Nó ghi hình bài giảng và gửi về máy tính ở nhà Devon. Camera tại nhà của Devon cũng ghi hình cậu và gửi tới màn hình robot.

Devon đề tên cậu lên một tấm bảng tại nhà để điểm danh. Cậu có thể điều khiển mọi hoạt động của robot từ nhà riêng.

Robot có thể di chuyển trong hành lang, tới sân tập thể thao và xem các vở kịch trong nhà hát của trường.

Một tiết học của Devon trong ngày 22/1.

Một giáo viên nhấc robot vào ngày 24/1 vì nó không thể tự vượt qua các bậc thang.

Cô giáo tới nhà Devon để hỗ trợ cậu giải quyết các bài tập. Minh Long (Ảnh: AP)

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s