Bàn về sự ấu trĩ

Posted: March 16, 2013 in Uncategorized
Tags:

Giản Tư Trung (tiasang.vn) – Những tưởng trong một xã hội mà ai cũng bằng này cấp nọ, tràn lan cử nhân, tiến sĩ, kỹ sư… như bây giờ thì “giặc dốt” chỉ là câu chuyện của quá khứ. Nhưng, thực ra nó vẫn còn tồn tại (thậm chí là còn đáng sợ hơn xưa) dưới một “lớp áo” khác: sự ấu trĩ hay sự ngộ nhận về hiểu biết. Nói một cách nôm na bằng ngôn ngữ bình dân là: dốt mà không hề biết là mình dốt.

(Xem thêm: Lòng Trắc ẩn là gì? – Định nghĩa lại sai phạm trong khoa học) …


Có thể tạm chia những người có ảnh hưởng trong xã hội (bất cứ xã hội nào) thành 5 nhóm sau đây: có quyền, có tiền, có tiếng, có bằng, và có chữ.

Một biểu hiện của bệnh ấu trĩ ở những người có quyền là việc họ thường xuyên đưa ra những quyết sách tồi nhưng bản thân họ lại không nhận ra được điều đó. Một nhà lãnh đạo giỏi có thể không cần phải biết tất cả mọi thứ, giỏi tất cả mọi việc, nhưng sẽ biết ai là người mình nên lắng nghe và ai là người mình nên tin tưởng, sẽ phân biệt được đâu là quân tử và đâu là ngụy quân tử, đâu là thực tài và đâu là ngụy tài. Nhà lãnh đạo ấu trĩ thường không có khả năng này, bởi họ đã mất đi khả năng phân biệt ai là ai, cái gì là cái gì và mình là ai.

Những người có tiền lại ảnh hưởng đến xã hội thông qua cách họ kiếm tiền và xài tiền. Người có tiền ấu trĩ thường là những người kiếm tiền bằng những cách không chính đáng nhưng lại rất tự hào về điều đó, và/hoặc dùng tiền họ kiếm được để cổ xúy cho những cái không nên cổ xúy. Tương tự như vậy, những người có tiếng ấu trĩ không tự ý thức được cái “tiếng” mà mình có được là theo kiểu nào (danh tiếng hay tai tiếng), và mình sẽ dùng nó như thế nào. Nên mới có chuyện một cô người mẫu rất tự hào vì mình đã trở nên nổi tiếng nhờ việc khoe thân khắp các mặt báo, hay rất nhiều người mang danh là “nghệ sĩ” nhưng công chúng hiếm khi thấy họ khoe những tác phẩm nghệ thuật hay sáng tạo nghệ thuật mà chủ yếu là khoe nhà, khoe xe, khoe áo quần. Thực ra khoe không phải là xấu, nhưng vấn đề nằm ở chỗ, điều đáng để khoe không phải là những gì mình kiếm được hay đạt được, mà là những gì mình đóng góp cho cộng đồng.

Người có bằng thường cũng được cộng đồng vị nể và những hành xử của họ thường được xem là chuẩn mực để người khác noi theo. Thế cho nên cái tai hại mà sự ấu trĩ của họ gây ra là nó khiến cho những người xung quanh họ mất đi niềm tin vào những giá trị chuẩn mực. (Theo kiểu “Ôi trời, đến tiến sĩ mà còn hành xử như thế thì mình làm vậy cũng có gì đâu mà ngại!”). Có một nghịch lý là sự ấu trĩ của một người có thể gia tăng tỉ lệ thuận với số bằng cấp mà họ sở hữu, nhất là khi cái bằng đó không phải là kết quả của một quá trình học tập để “khai minh” bản thân mà chỉ là một vật trang sức để làm bản thân họ thêm lấp lánh. Bởi lẽ, cái bằng đó có thể khiến cho họ ngộ nhận rằng mình cũng hơn người hoặc cũng chẳng kém ai mà quên đi rằng vẫn còn quá nhiều điều cần phải học hỏi để nâng cao nhận thức và hiểu biết của mình.

Những người có chữ (hay còn gọi là “tinh hoa”) là một trường hợp đặc biệt. Bởi họ luôn được xem là “đôi mắt” hay “tầm nhìn” của xã hội, cho dù họ có thể không có quyền hay có tiền…. Là “tinh hoa”, “trí thức” nên tất nhiên họ sẽ không có những cái ấu trĩ bình thường của những người bình thường. Nhưng điều đó không có nghĩa là họ không có “điểm mù”. Liệu họ có thực hiện được sứ mệnh định hướng, định hình xã hội trong lĩnh vực, ngành nghề của mình hay chưa? Liệu họ có bứt ra được những giới hạn của thời đại mình đang sống để có được một viễn kiến xa hơn, rộng hơn? Liệu họ có hướng được xã hội của mình đi vào một thời đại mới tốt đẹp hơn bằng chính tầm nhìn, trí tuệ đó của mình, hay vẫn chỉ loay hoay với những thị phi trong thời đại của mình? Không ít người dù ngậm ngùi nhưng cũng phải đồng tình với nhận xét (trong một bài viết của GS. Trần Hữu Dũng) rằng Việt Nam đang ở trong “thời vắng những nhà văn hóa lớn” khi mà những ngôi sao dẫn đường trên bầu trời tinh hoa ngày càng ít ỏi và le lói.

Nói tóm lại, ai trong chúng ta cũng có thể mắc phải căn bệnh ấu trĩ. Bởi như Einstein từng nói:
“Có hai thứ được coi là vô tận: Vũ trụ và sự ngu dốt của con người”.
Và ông còn nói thêm rằng:
“Về phần vũ trụ thì tôi không chắc lắm, nhưng sự dốt nát của con người thì chắc chắn là như thế”.

Như vậy, dốt nát chưa phải là bi kịch lớn nhất của con người, mà bi kịch lớn nhất của con người là “dốt mà không biết mình dốt”. Để không lún sâu vào cái dốt mênh mông ấy, mỗi người cần có một trách nhiệm với bản thân là liên tục “phản tỉnh” chính mình, phản tỉnh với những điểm mù (nếu có) của mình. Ngay cả với giới tinh hoa, nếu không liên tục “phản tỉnh chính mình” hay “phản tư chính mình” thì người hiểu biết sẽ dễ trở thành người ít hiểu biết hay người ấu trĩ trong một số vấn đề (kể cả những vấn đề thuộc chuyên môn hay sở trường của mình), và khi đó sẽ không chỉ khó thực hiện được tốt cái vai trò thức tỉnh xã hội vốn có của mình, mà còn có thể gây nguy hại cho xã hội.

Tôi xin dùng một câu chuyện có tên là “Rời hang” (lấy cảm hứng từ “Dụ ngôn hang động” trong tác phẩm “Cộng hòa” của Platon) để kết lại việc lạm bàn về chủ đề “sự ấu trĩ”:

“Ngày xửa ngày xưa, xưa ơi là xưa, có một cái hang và có một cộng đồng lớn sống trong cái hang đó. Vì cái hang ấy vô cùng lớn với các ngóc ngách rất lắt léo và cộng đồng ấy đã sống ở đó qua nhiều thế hệ, nên lâu ngày họ mặc nhiên tin rằng cái hang ấy là cả thế giới và ánh sáng từ đống lửa trong hang là ánh sáng duy nhất mà họ có. Cho đến một ngày nọ, có một người bỗng vô tình lọt ra được ngoài hang. Ban đầu, anh ta cảm thấy đau đớn vì bị lóa mắt trước ánh mặt trời và cơ thể chưa thích ứng được với khí hậu và thời tiết của thế giới bên ngoài. Nhưng khi đã quen dần và cảm nhận được sự ấm áp của ánh mặt trời, sự sinh động huyền ảo của vạn vật, của cỏ cây hoa lá, anh ta nhận ra rằng đây mới thực sự là thế giới của “con người”. Anh ta quyết định quay trở về hang và ra sức thuyết phục, tìm cách đưa mọi người rời hang để về với thế giới. Thế nhưng, sau khi nghe anh ta kể câu chuyện ở thế giới bên ngoài hang, những người trong hang không những không tin, mà còn quyết định giết chết anh ta, vì cho rằng đó là những điều bịa đặt, và vì lo sợ rằng, những nỗ lực và việc làm của anh ta sẽ gây ra sự rối loạn, cũng như đe dọa cuộc sống êm ấm hạnh phúc bao đời của cộng đồng trong hang…”.

Mỗi khi ngẫm nghĩ về câu chuyện này, tôi lại tự hỏi mình rằng: Mình đã “rời hang” chưa? Gia đình mình, tổ chức mình, cộng đồng mình… đã “rời hang” chưa? Nếu mình đã rời hang và ra với ánh sáng thì thật là tuyệt vời. Nhưng nếu vẫn còn ở trong hang và mình cũng biết rõ điều đó (và đang từng bước tìm cách rời hang) thì cũng không phải là điều tệ hại. Còn nếu mình đang ở trong hang mà lại cứ tưởng rằng đã rời hang rồi và ra với ánh sáng rồi thì thật là bất hạnh. Nhưng có một điều còn bất hạnh hơn vô vàn lần, đó là, mình đã thực sự rời hang rồi, nhưng không phải là “rời hang” để ra “ánh sáng”, mà là rời cái hang này để rồi lại chui vào một cái hang khác, to hơn, tăm tối hơn, nhưng mình lại không hề nhận ra điều đó…

Và mỗi con người, ai cũng có thể có đến mấy “cái hang” (chứ không phải chỉ một). Gia đình mình, tổ chức của mình, xứ sở mình, và thậm chí cả thế giới này đều có thể là những cái hang. Nhưng, “cái hang” to nhất, tăm tối nhất chính là cái hang “vô minh và ấu trĩ” bên trong con người của mình.

Nếu như hành trình khai minh bản thân, đưa bản thân “rời hang” đã khó, thì hành trình khai minh xã hội, dẫn dắt cộng đồng mình và cùng cộng đồng mình “rời hang” lại càng gian nan gấp bội phần. Đó là một hành trình đầy gian khó, rất dài lâu và nhiều hiểm nguy, nhưng là một hành trình tất yếu mà chắc hẳn ai trong chúng ta cũng thấy rằng không thể không bước tiếp.

What is compassion? Lòng Trắc ẩn là gì?

Originally posted by Dalai Lama:

If you want others to be happy, practice compassion. If you want to be happy, practice compassion.

(gocsan) Song ngữ – Nếu bạn muốn người khác hạnh phúc, hãy động lòng trắc ẩn. Nếu bạn muốn chính mình hạnh phúc, hãy động lòng trắc ẩn. – Đạt lai lat ma

Tôi không chắc rằng sẽ có ai đồng tình với tôi về vấn đề này nhưng tôi luôn tự hỏi rằng lòng trắc ẩn thực chất là gì. Từ điển không phải luôn có ích khi ta tìm hiểu nghĩa của từ. Đầu tiên, tôi sẽ dạy bạn từ trái nghĩa của nó, đó là sự “vô cảm”. Nói ngắn gọn, từ điển định nghĩa nó chỉ là sự thờ ơ, thiếu quan tâm.

Vô cảm không phải lúc nào cũng mang nghĩa xấu, nhưng nó tình cờ lại trái nghĩa với lòng trắc ẩn. Vô cảm là lý do khởi đầu chiến tranh thế giới lần thứ 2 và lòng trắc ẩn đã kết thúc nó.

Lòng trắc ẩn là cái tình trong cư xử, hành động. Sự yêu thương bắt đầu bởi việc chăm sóc ai đó và lòng trắc ẩn tác động lên tình thương bằng cách cố gắng xoa diu nỗi đau hay sự lo lắng. Tuy nhiên, tình yêu không thể tồn tại mà không có lòng trắc ẩn và ngược lại lòng trắc ẩn không thể tồn tại mà không có tình yêu. Trong một ý nghĩa nào đó, chúng tạo nên sự liên hệ rất mật thiết với nhau. Tôi nghĩ rằng, lòng trắc ẩn là khía cạnh lớn lao của tình yêu. Thiếu lòng trắc ẩn, tình yêu thực sự sẽ không còn tồn tại.

Điều quan trọng nhất chính là tiwf ngữ này được áp dụng như thế nào. Khi bạn nói rằng “lòng từ tâm là quan trọng”, điều đó không nhất thiết làm cho bạn trở nên nhân ái, vì trong từ này còn chứa cả từ “đam mê” (passion), mà vốn gợi ý cho ta một mong muốn hướng tới hành động. Lòng từ bi bắt đầu từ một ước muốn sâu sa muốn giúp đỡ người khác rồi mới quyết định theo đuổi ước muốn đó.

Theo Phật giáo đại thừa, hình thức cao nhất của tinh thần chính là đặt việc cứu rỗi tha nhân trước cứu rỗi bản thân. Theo hình thức Phật giáo này, người dành cuộc sống của mình để quan tâm tới người khác được gọi là bồ tát. Ở nhiều tôn giáo thì từ bi là khía cạnh quan trọng nhất đối với sự cứu rỗi nhân sinh.

Để thực hành lòng từ bi, bạn không cần thốt lên bất kỳ một lời thề nào như một bồ tát. Từ bi có thể tự do và mang lại cho bạn một hình thức giải phóng bản thân. Chỉ cần đơn giản mở một nụ cười hay mua cho ai đó tách cà phê là bạn đã có thể làm một điều tốt đẹp. Nếu bạn giàu có, bạn có thể giúp đỡ người khác về tài chính. Còn nếu không có tiền thì tình bạn chính là món quà vô giá mà không ai có thể mua được. Chỉ cần sự mê say của bạn hướng về phía đồng cảm với mọi người… thì dù nó dẫn dắt bạn đi bất cứ nơi nào… trái tim của bạn cũng bước theo tới đó.

Định nghĩa lại sai phạm trong khoa học
Daniele Fanelli (tiasang.vn) – Để giảm sai phạm trong khoa học, cần đảm bảo rằng nhà nghiên cứu không thể nói dối bằng cách cố tình cung cấp thiếu thông tin.

Tác giả bài viết Daniele Fanelli

Trước tình trạng những kết quả nghiên cứu sai sót, thiên lệch, và giả mạo, sự ứng phó của cộng đồng khoa học hiện nay còn rất yếu. Chỉ có những trường hợp nghiêm trọng quá mức là bị phát hiện và trừng trị, còn những trường hợp sai phạm ở mức độ nhẹ hơn hầu như lọt lưới, và cho đến nay hầu như chưa có một giải pháp nào chống lại những công bố thiên lệch. Vì vậy tại hội nghị toàn cầu lần thứ 3 về Đạo đức Nghiên cứu sẽ được tổ chức tại Montreal, Canada từ ngày 5 đến ngày 8 tháng 5 năm 2013 tới đây, các đại biểu sẽ thảo luận về những giải pháp cho vấn đề này.

Trên tạp chí Nature và nhiều diễn đàn khoa học khác, người ta thường đưa ra những đề xuất như cải thiện công tác hướng dẫn và đào tạo, cho phép nhà nghiên cứu công bố những kết quả không hợp lý (negative result). Nhằm giảm thiểu những trường hợp các nhà nghiên cứu bóp méo thông tin để đạt được những kết quả có vẻ hợp lý, giảm nhẹ áp lực đòi hỏi nhà nghiên cứu phải có công bố, yêu cầu đăng ký trước thông tin về các công trình nghiên cứu (Việc đăng ký trước thông tin về các công trình nghiên cứu cũng nhằm tăng khó khăn trong việc ngụy tạo thông tin và quy trình tiến hành nghiên cứu), tập huấn về đạo đức, và đảm bảo những chế tài trừng phạt nghiêm khắc.

Tất cả những điều trên đều quan trọng, tuy nhiên dường như người ta đã quá đề cao lợi ích của việc tác động tới tâm trí của nhà nghiên cứu mà quên mất rằng những kiến thức khoa học là đáng tin cậy không phải vì các nhà khoa học thông minh, khách quan hay trung thực hơn những người khác, mà bởi những phát kiến của họ luôn được công khai đối diện với sự phê bình và các thử nghiệm độc lập tái hiện lại quy trình tiến hành nghiên cứu. Do đó chìa khóa chống lại sai phạm trong khoa học không phải chỉ chú tâm vào [kiểm soát/đánh giá] hành vi của các nhà khoa học, mà nên tập trung vào [kiểm soát/đánh giá] những sản phẩm thông tin mà họ cung cấp.

Với việc định nghĩa sự sai phạm trong khoa học căn cứ trên các hành vi của nhà nghiên cứu, như cách làm hiện nay ở mọi quốc gia, chúng ta buộc phải dựa vào những người đứng ra tố cáo để phát hiện ra sai phạm, trừ khi sự sai phạm ấy tự thân bộc lộ một cách hiển nhiên ngay trên những gì được tác giả công bố. Rất hiếm khi những trường hợp sai phạm có người đứng ra làm chứng; và nhiều cuộc điều tra cho thấy rằng khi người ta biết một hành vi sai trái của một đồng nghiệp, họ hiếm khi trình báo. Những người làm công tác thanh tra do đó đối mặt với một nhiệm vụ khó khăn là làm sao tái hiện được những gì mà một nhà khoa học đã làm, xác minh được rằng hành vi ấy là sai so với những quy chuẩn trong hoạt động nghiên cứu, và xác định liệu sự sai lệch ấy có nhằm mục đích lừa dối hay không. Khó khăn ấy khiến chỉ có một số ít những trường hợp rõ ràng nhất bị phơi bày.

Ví dụ như vụ bê bối của Diederik Stapel, nhà tâm lý học người Hà Lan từng có không ít tiếng tăm, tới năm ngoái bị người ta phát hiện đã ngụy tạo dữ liệu nghiên cứu trong gần 20 năm. Ông ta đã làm điều đó bằng cách nào? Thứ nhất, Stapel luôn luôn tự mình thu thập các dữ liệu, qua đó loại trừ hoàn toàn khả năng có nhân chứng. Thứ hai, các nhà nghiên cứu khác không có động cơ để thực hiện lại những thí nghiệm của ông ta, và nếu có làm thì họ cũng không đủ thông tin để lý giải sự khác biệt trong kết quả với những kết luận trong nghiên cứu của Stapel. Và thứ ba, quan trọng nhất, là Stapel hoàn toàn được phép không cung cấp trong công bố của mình những chi tiết cụ thể có khả năng bộc lộ những gian dối và sai sót trong thống kê.

Nhằm giải quyết vấn đề này, đầu tiên chúng ta cần tái định nghĩa sự sai phạm trong khoa học: “đó là tất cả những sự cung cấp thiếu hoặc gây hiểu nhầm các thông tin cần và đủ cho việc thẩm định tính chính xác và tầm quan trọng của nghiên cứu, ở mức độ phù hợp cần thiết với bối cảnh của nghiên cứu được công bố”.

Một số người sẽ cho rằng định nghĩa này quá rộng. Tuy nhiên, nó không hề rộng hơn so với định nghĩa về sự giả mạo được Văn phòng Chính sách Khoa học và Công nghệ Hoa Kỳ sử dụng: “Ngụy tạo các nguyên liệu, phương tiện hay quá trình nghiên cứu; hoặc thay đổi hay bỏ qua những dữ liệu, kết quả, khiến cho việc nghiên cứu không được phản ánh chính xác trong biên bản nghiên cứu”. Định nghĩa này chỉ ra một cách rõ ràng rằng khi nào có một sự khác nhau giữa những gì được báo cáo và những gì nhà nghiên cứu đã làm trong thực tế, thì đó là sai phạm trong khoa học.

Nhiệm vụ chính của các biên tập viên và các trọng tài là bảo đảm rằng các nhà nghiên cứu tuân theo những quy định về báo cáo thông tin. Họ phải hướng dẫn các nhà nghiên cứu làm theo những bản hướng dẫn thích hợp, thậm chí trước cả khi việc nghiên cứu được bắt đầu, và bảo đảm rằng mọi thông tin chi tiết cần thiết đều được cung cấp đầy đủ theo yêu cầu quy định trong bản hướng dẫn. Nếu tác giả từ chối hay không thể tuân theo, bài báo (hoặc đơn đăng ký tài trợ kinh phí) của họ sẽ bị từ chối. Mỗi công bố khoa học cần nêu rõ quá trình nghiên cứu tuân theo những bản hướng dẫn nào.

Bằng việc thống nhất các quy định báo cáo thông tin, sự công bằng được nâng cao, trong khi quyền tự chủ trong khoa học vẫn được đảm bảo. Ví dụ như nhà khoa học vẫn được toàn quyền quyết định liệu có cần dò tìm qua các phép thử nhằm đạt được ý nghĩa thống kê như mong muốn (“fishing” for statistical significance) hay không, nhưng bản hướng dẫn sẽ yêu cầu nhà khoa học phải cung cấp danh sách mọi phép thử được thực hiện, qua đó cho phép độc giả nhận biết được nguy cơ về những kết quả thống kê không khách quan.

Những bản hướng dẫn được biên soạn cẩn trọng có thể khiến việc ngụy tạo và đạo văn trở nên khó khăn hơn, bằng cách yêu cầu công bố những chi tiết có thể kiểm chứng. Những chi tiết ấy sẽ giúp phát hiện những dấu hiệu đáng nghi vấn như bỏ quên tên tác giả (ghost authorship: bỏ qua không ghi nhận công lao của người có cống hiến quan trọng cho nghiên cứu được công bố), lợi dụng các trợ lý, giả thuyết hậu nghiệm (post hoc hypotheses: đặt ra giả thuyết mang tính chữa cháy nhằm hợp lý hóa dữ liệu thu được), hoặc cố tình loại bỏ những dữ liệu thống kê ngoài mong muốn của tác giả.

Các bản hướng dẫn vừa là tài liệu học tập cho các nghiên cứu sinh, vừa giúp họ luyện tập bằng cách thực hiện lại các nghiên cứu đã được công bố. Nên có những quỹ đặc biệt dành riêng cho những người độc lập tiến hành tái thử nghiệm những kết quả nghiên cứu chưa được thẩm định lại.

Cách nỗ lực phòng chống các sai phạm trong khoa học hiện nay đang bị lạc mục tiêu: cộng đồng khoa học đang cố gắng kiểm soát hoạt động nghiên cứu theo cách giống như kiểm soát hoạt động ở những ngành nghề khác, trong khi nghiên cứu khoa học có đặc thù hoàn toàn khác. Độ tin cậy của các “sản phẩm” khoa học được đảm bảo không phải do hoạt động của từng cá nhân, mà phải thông qua một tiến trình đối thoại tập thể.

Hữu Quang dịch theo bài viết của Daniele Fanelli, Nature số 494, 149 (ngày 14 tháng Hai năm 2013)
http://www.nature.com/news/redefine-misconduct-as-distorted-reporting-1.12411

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.