Đào tạo tiến sĩ ở Việt Nam: vấn đề nhận thức và chất lượng

Posted: March 29, 2013 in Uncategorized
Tags:

© Nguyễn Văn Tuấn – Xin giới thiệu cùng các bạn một vài ý kiến của tôi liên quan đến việc đào tạo tiến sĩ ở bên nhà. Những ý kiến này xuất phát từ một quyết định gần đây của Bộ GDĐT về việc dừng 57 chương trình đào tạo tiến sĩ. Phần 1 của bài viết đã đăng trên Sài Gòn Tiếp thị với cái tựa đề rất báo chí: Dân không trọng, quốc tế không công nhận và phần II: Những luận án dưới tầm.

Trong phần này, tôi bàn về tiêu chuẩn của một luận án tiến sĩ,và đối chiếu với những luận án ở Việt Nam. Tôi muốn nói một điểm quan trọng là nếu luận án chẳng có bài báo nào công bố quốc tế, thì nó chỉ là một đống giấy trên kệ sách trong thư viện, ai mà biết được chất lượng luận án ra sao, có đạt chuẩn hay không. Tôi cũng bàn về vấn đề đào tào hậu tiến sĩ (postdoc) mà Việt Nam gần như không có hay không biết đến vì người ta nghĩ học xong tiến sĩ là “đỉnh” rồi, nên chẳng cần học hỏi thêm gì nữa cả. Vì đất không đầy đủ, bên báo phải cắt một vài chỗ (dù họ rất giỏi biên tập). Do đó, tôi post lên đây bản gốc có cả phần box 1 & box 2 để dễ theo dõi.

Những lùm xùm trong việc đào tạo tiến sĩ, và mới đây nhất là quyết định đóng cửa một số trung tâm đào tạo tiến sĩ là cơ hội lí tưởng để nhìn lại một vấn đề nổi cộm và bức xúc nhất trong đào tạo tiến sĩ: chất lượng.

Học vị tiến sĩ là văn bằng cao nhất trong hệ thống đại học phương Tây và cả ở nước ta. Ở các nước phương Tây, người được cấp văn bằng này có quyền dùng danh xưng “Doctor” trước tên họ, và được xã hội trọng vọng. Ở nước ta, từ cả ngàn năm trước, những người đỗ tiến sĩ được xem như những ông nghè, là giới tinh hoa học thuật của nước nhà. Do đó, hệ thống đào tạo tiến sĩ phải được thiết lập rất chặt chẽ và nghiêm chỉnh, để đảm bảo người được trao văn bằng xứng đáng với sự kì vọng của công chúng đối với một doctor hay danh xưng tiến sĩ.

Thế nhưng ở nước ta ngày nay, văn bằng tiến sĩ có khi trở thành một đề tài cho công chúng đàm tiếu. Có thể nói không ngoa rằng chưa bao giờ trong lịch sử, người dân xem thường văn bằng tiến sĩ, thậm chính khinh những người có văn bằng tiến sĩ, như hiện nay. Cụm từ “tiến sĩ giấy” đã trở thành câu nói đầu môi khi người ta thấy một vị tiến sĩ nào đó phát biểu khó nghe. Tôi nhớ hoài một kỉ niệm ở Hà Nội, trong một chuyến đi dự hội nghị, và khi ra đón taxi về khách sạn, người tài xế sau khi biết tôi không phải là tiến sĩ bèn thốt lên rằng: thế là tốt bác à, giáo sư tiến sĩ bây giờ nhiều như lợn ấy! Tại sao người dân có vẻ khinh thường tiến sĩ như thế? Theo tôi lí do chính nằm ở chỗ sai lầm về nhận thức văn bằng tiến sĩ và vấn đề chất lượng đào tạo.

Ông nghè về làng: một cách vinh danh sự học của triều Nguyễn. Ảnh: tư liệu

Nhận thức sai

Cách đây khoảng 2 năm, Hà Nội đề ra chiến lược đến năm 2012 thành phố sẽ có 50% công chức khối chính quyền có bằng tiến sĩ, và đến năm 2020, 100% công chức diện thành phố quản lí (cấp chi cục trường và chi cục phó) có bằng tiến sĩ. Có người trong thành ủy còn tuyên bố phải cán bộ phải có bằng tiến sĩ mới “đột phá tư duy”! Đó là một suy nghĩ rất lạ lùng.

Thật ra, Hà Nội không phải là một trường hợp cá biệt với tư duy tiến sĩ hoá công chức như trên; các nơi khác cũng có những chính sách bất thành văn về việc bổ nhiệm cán bộ công nhân viên dựa vào bằng tiến sĩ. Ngày nay, để được đề bạt vào các chức vụ trưởng, giám đốc sở, trưởng khoa ở đại học, v.v. thì ứng viên phải có bằng tiến sĩ. Có trường hợp người ta bổ nhiệm nhân sự rồi, và tìm cách “hợp thức hóa” (tức kiếm bằng tiến sĩ cho họ). Do đó, người ta đổ xô đi học tiến sĩ để được thăng quan tiến chức. Văn bằng tiến sĩ không hẳn còn mang tính học thuật nữa, mà là một phương tiện để đạt được cứu cánh làm quan.

Nhưng rất tiếc là nhận thức về bằng tiến sĩ như trên là một sai lầm. Có thể nói ngắn gọn rằng chương trình đào tạo tiến sĩ là để cung cấp cho xã hội những nhà khoa học chuyên nghiệp và giáo sư đại học tương lai. Đào tạo tiến sĩ không phải nhằm mục đích cung cấp các quan chức hành chính cho hệ thống công quyền.

Văn bằng tiến sĩ có thể ví von như là một “giấy thông hành” của nhà khoa học. Thật vậy, mục tiêu số 1 của chương trình học tiến sĩ là đào tạo các nhà khoa học chuyên nghiệp (professional scientists). Nhà khoa học chuyên nghiệp là người am hiểu chuyên sâu một lĩnh vực nào đó, có khả năng phát hiện vấn đề, thiết kế thí nghiệm hay nghiên cứu để giải quyết vấn đề, có khả năng phân tích và diễn giải kết quả nghiên cứu, có khả năng truyền đạt kết quả nghiên cứu đến đồng nghiệp trong chuyên ngành và công chúng. Không phải nhà khoa học chuyên nghiệp) nào cũng cần phải có bằng tiến sĩ (vì người không có bằng tiến sĩ vẫn có thể là những nhà khoa học rất tốt), nhưng người có bằng tiến sĩ thường chỉ theo đuổi sự nghiệp nghiên cứu khoa học.

Văn bằng tiến sĩ thường thích hợp cho những người muốn theo đuổi sự nghiệp khoa bảng. “Khoa bảng” ở đây được hiểu là giảng dạy đại học và nghiên cứu khoa học. Cố nhiên, ở nhiều đại học phương Tây, vẫn có người có thể trở thành giáo sư dù không có học vị tiến sĩ, nhưng những trường hợp như thế càng ngày càng hiếm. Phần lớn giáo sư đại học có học vị tiến sĩ, nhưng chỉ một số rất ít người có bằng tiến sĩ có thể trở thành giáo sư.

Xin nhắc lại: cốt lõi của học vị tiến sĩ, và cũng là khía cạnh dùng để phân biệt học vị tiến sĩ với các học vị đại học khác, là nghiên cứu khoa học, không phải quản trị. Do đó, học tiến sĩ vì muốn theo đuổi sự nghiệp hành chính, quản trị kinh doanh, hay các chức vụ hành chính, hay các chức vụ mang tính quản lí trong hệ thống chính phủ thì e rằng là một sai lầm. Một chính sách “tiến sĩ hoá” công chức càng là một sai lầm.

Từ nhận thức không đúng về ý nghĩa và mục tiêu đào tạo tiến sĩ dẫn đến một vấn đề lớn hơn: chất lượng đào tạo. Thật vậy, khi đề cập đến đào tạo tiến sĩ ở Việt Nam, người ta nghĩ ngay đến vấn đề chất lượng. Ngoại trừ một số ít chương trình đào tạo nghiêm túc, ấn tượng chung là cách thức đào tạo tiến sĩ ở Việt Nam còn tồn tại khá nhiều vấn đề. Những vấn đề này mang tính cơ cấu, qui trình, và học thuật.

Vấn đề cơ cấu và mô hình đào tạo

Thứ nhất là vấn đề liên quan người hướng dẫn nghiên cứu. Ở Việt Nam, có qui định đơn giản như người có bằng tiến sĩ 3 năm trở lên có thể hướng dẫn luận án tiến sĩ. Nhưng trong thực tế, mới có bằng tiến sĩ 3 hay 5 năm thì cũng mới ở giai đoạn hậu tiến sĩ, làm sao có thể hướng dẫn tiến sĩ (ngoại trừ người đó là một thiên tài, hay tiến sĩ ngoại hạng). Vấn đề không phải là thời gian, vì cho dù người đã tốt nghiệp tiến sĩ 10 năm hay 20 năm mà không làm nghiên cứu khoa học thì không thể nào có tư cách hướng dẫn nghiên cứu sinh tiến sĩ được.

Lại có qui định rằng người với chức danh phó giáo sư hay giáo sư thì xem như đủ tư cách khoa học để hướng dẫn nghiên cứu sinh tiến sĩ. Trong thực tế, không phải ai có với chức danh giáo sư đều có thể hướng dẫn tiến sĩ. Những người có tư cách hướng dẫn nghiên cứu sinh không chỉ có chuyên môn cao, có tên tuổi trong chuyên ngành (qua công bố quốc tế), mà còn phải có chương trình nghiên cứu riêng. Không có chương trình nghiên cứu riêng, nghiên cứu sinh sẽ chẳng khác gì một người lang thang trong rừng khoa học, mất định hướng nghiên cứu. Nếu người hướng dẫn không có chuyên môn và kiến thức tốt, thì nghiên cứu sinh sẽ loay hoay với những đề tài tầm thường, những đề tài mang tính “me too” (bắt chước người khác một cách máy móc), không xứng đáng với luận án tiến sĩ. Khó nói ở Việt Nam có bao nhiêu người đủ khả năng hướng dẫn tiến sĩ, nhưng có lẽ con số không nhiều.

Thứ hai là mô hình và thời gian đào tạo. Đại đa số các chương trình đào tạo tiến sĩ ở nước ngoài là theo “mô hình tập trung”. Theo mô hình này, nghiên cứu sinh phải dành toàn thời gian cho nghiên cứu tại một trung tâm khoa học. Nhưng ở Việt Nam, ngược lại, phần lớn nghiên cứu sinh lại chỉ theo học bán thời gian. Họ làm việc toàn thời gian, và tiêu rất ít thì giờ cho việc nghiên cứu tại trung tâm họ ghi danh theo học! Điều này dẫn đến tình trạng có nhiều nghiên cứu sinh phải “tự bơi”, họ rất ít khi nhận được hỗ trợ trực tiếp và có ý nghĩa từ người hướng dẫn. Có khi người hướng dẫn chỉ đứng tên, mà chẳng có đóng góp đáng kể vào việc hỗ trợ khoa học cho nghiên cứu sinh. Trong nhiều ngành, phần lớn nghiên cứu sinh chỉ làm hệ thống hoá những gì họ đang làm thường ngày thành một … luận án!

Thời gian đào tạo một tiến sĩ thường tốn khoảng 4 năm, sau khi nghiên cứu sinh đã có bằng cử nhân danh dự hay thạc sĩ cấp nghiên cứu (masters by research). Ở Úc, nếu học bán thời gian (số này rất ít) phải tốn từ 5 đến 6 năm, tuỳ vào tiến độ của nghiên cứu. Thế nhưng ở Việt Nam, có nơi qui định nghiên cứu sinh đã có bằng thạc sĩ chỉ cần tiêu ra 2 năm học tiến sĩ. Với một thời gian ngắn như thế, rất khó có thể đào tạo một tiến sĩ theo chuẩn mực mà quốc tế công nhận.

Thứ ba là đề tài nghiên cứu. Suốt năm này sang năm khác, báo chí đều nêu ra những trường hợp luận án tiến sĩ … vô bổ. Có báo còn đặt câu hỏi mang tính giật gân “Việt Nam có bao nhiêu luận án tiến sĩ … vô bổ”? Tôi nghĩ chẳng ai có thể trả lời câu hỏi này. Nhưng đọc qua tựa đề của những luận án không khỏi làm người ta nêu câu hỏi liệu đó có phải là một đề tài nghiên cứu khoa học hay đề tài hành chính. Theo một thống kê công bố trước đây, trong số 97 đề tài nghiên cứu tiến sĩ ở một trường đại học kinh tế, có đến 57 đề tài về giải pháp, không xứng tầm luận án tiến sĩ. Xin trích một nhận xét khác của Gs Trần Văn Thọ: “Cách suy nghĩ về việc chọn đề tài ở Việt Nam chỉ làm cho luận án thiếu tính học thuật và phần lớn thiếu tính độc sáng. Nội dung, trình độ của luận án do đó còn rất xa mới đạt tiêu chuẩn tối thiểu của thế giới, và người được cấp bằng trong trường hợp đó khó có thể thảo luận khoa học với chuyên gia nước ngoài trong cùng ngành”.

Tôi hoàn toàn đồng ý với nhận xét trên của Gs Trần Văn Thọ. Tôi đã có dịp đọc qua nhiều luận án trong ngành y từ Nam chí Bắc thì cảm nhận chung là luận án tiến sĩ ở VN chưa đạt chuẩn mực của một luận án cấp tiến sĩ. (Xin mở ngoặc đế nói thêm là tôi “chưa thấy”, chứ không phải “không thấy”). Đại đa số những luận án tôi đọc qua chỉ là tập hợp hai hoặc ba báo cáo của một nghiên cứu duy nhất. Nội dung thì rất đơn giản, phần lớn chỉ mang tính kiểm kê lâm sàng (giống như làm bài tập thống kê, và đếm bao nhiêu ca bệnh). Phương pháp cũng chưa đạt, vì hình như các tác giả chưa am hiểu phương pháp nghiên cứu. Cách trình bày kết quả là một thất vọng lớn, vì quanh đi quẩn lại cũng chỉ là những bảng số liệu và biểu đồ hết sức đơn giản, chỉ nói lên một điểm! Bàn luận càng thất vọng hơn, vì hình như các tác giả chưa biết viết bàn luận. Do đó, tất cả các luận án tiến sĩ y khoa mà tôi xem qua chỉ có 50 đến 120 trang. Thật ra, số trang thì chẳng nói lên điều gì, nhưng ở đây, vì nội dung luận án quá đơn giản nên tác giả cũng chẳng có gì để viết. Có thể nói không ngoa rằng tuyệt đại đa số những luận án tôi xem qua chỉ xứng đáng luận án cử nhân danh dự hay cao học (thạc sĩ) mà thôi.

Thứ tư là thiếu chuẩn mực đào tạo tiến sĩ. Ở Việt Nam, các đại học chưa có những chuẩn mực đào tạo tiến sĩ. Người ta chỉ nói chung chung rằng một luận án phải có “cái mới”, nhưng không nói rõ cái mới là gì, thế nào là "cái mới", và dẫn đến tình trạng mỗi nơi hiểu một cách về văn bằng tiến sĩ. Vì thế chất lượng đào tạo không đồng đều nhau.

Trước đây, tôi đã đề nghị 6 tiêu chuẩn cho một luận án tiến sĩ (Box 2). Để có được văn bằng tiến sĩ, ứng viên phải đạt hai điều kiện. Thứ nhất, ứng viên phải có kiến thức uyên bác và làm chủ kiến thức về một đề tài khoa học. Thứ hai, ứng viên phải mở rộng hay phát triển thêm tri thức về đề tài đó. Để làm chủ đề tài nghiên cứu, nghiên cứu sinh phải tìm đọc và cố gắng hiểu tất cả những gì đã viết hay công bố về đề tài đó. Không phải như bậc cử nhân, kiến thức thường có thể tìm thấy trong sách giáo khoa , đối với bậc tiến sĩ kiến thức thường được tìm trong các tập san khoa học. Để mở rộng kiến thức về một đề tài, nghiên cứu sinh phải làm nghiên cứu khoa học theo sự hướng dẫn của thầy cô. Chính phần nghiên cứu khoa học này phân biệt giữa tiến sĩ và các chương trình cử nhân hay thạc sĩ. Học tiến sĩ thực chất là làm nghiên cứu khoa học. Không có nghiên cứu khoa học thì không thể là tiến sĩ được.

Cũng cần phải nhấn mạnh rằng đề án nghiên cứu cấp tiến sĩ không nhất thiết phải mang tính ứng dụng thực tiễn (như nhiều người ngộ nhận), mà phải thể hiện một đóng góp mới vào tri thức cho chuyên ngành. “Tri thức mới” ở đây bao gồm việc phát hiện mới, khám phá mới, hay cách diễn giải mới cho một vấn đề cũ, hay ứng dụng một phương pháp mới để giải quyết một vấn đề cũ, v.v. Những tri thức như thế có thể không có khả năng ứng dụng trong tương lai gần, nhưng có thể góp phần thúc đẩy chuyên ngành phát triển một mức cao hơn. Xin nhớ rằng khám phá insulin phải đợi đến gần 50 năm sau mới ứng dụng trong lâm sàng.

Học tiến sĩ không phải chỉ “làm luận án”

Có rất nhiều người tưởng rằng học tiến sĩ chủ yếu là hoàn tất một luận án, nhưng thực tế thì không phải như thế vì luận án chỉ là một phần của chương trình đào tạo. Luận án là một báo cáo có hệ thống những phương pháp và kết quả nghiên cứu của nghiên cứu sinh. Do đó, luận án chỉ là một tiêu chuẩn (có thể quan trọng) trong các tiêu chuẩn để được cấp bằng tiến sĩ.

Một luận án khi hoàn tất mà chỉ để trên giá sách của thư viện trường cũng chỉ là một mớ tài liệu ít người biết đến. Vì ít người biết đến và nằm trong thư viện, nên chẳng có bao nhiêu người biết được luận án đó có cái gì mới hay xứng đáng với cấp tiến sĩ hay không. Do đó, nghiên cứu sinh cần phải công bố vài bài báo khoa học trên các tập san khoa học quốc tế trước khi viết luận án. Công bố quốc tế là một hình thức “thử lửa” tốt nhất cho nghiên cứu sinh, bởi vì qua đó mà đồng nghiệp khắp thế giới có thể thẩm định chất lượng của công trình nghiên cứu và luận án của nghiên cứu sinh.

Thật ra, công bố quốc tế là một điều gần như tất yếu trong quá trình học tiến sĩ ở các đại học bên Âu châu, Mĩ châu, và Úc, những nơi mà họ khuyến khích (có nơi gần như bắt buộc) nghiên cứu sinh phải công bố vài bài báo khoa học trước khi viết luận án tiến sĩ. Ở một số nước Bắc Âu, luận án tiến sĩ thực chất là tập hợp một số bài báo khoa học đã công bố trên các tập san quốc tế. Ngày nay, các đại học lớn ở Thái Lan, Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Phi Luật Tân, v.v. cũng có qui định tương tự.

Ở Việt Nam, có nhiều người nghĩ rằng xong chương trình tiến sĩ là đạt đỉnh cao học thuật, không cần học gì thêm nữa! Quan điểm này hết sức sai lầm. Xong tiến sĩ có thể ví von như là xong học nghề. Người học cần phải trau dồi tay nghề mới có thể trở thành độc lập. Nhưng rất tiếc là đại đa số tiến sĩ được VN gửi ra ngoài đào tạo chưa qua chương trình hậu tiến sĩ, vì theo qui định họ phải về nước. Vì thế, phần lớn chưa có cơ hội thực tập sau tiến sĩ, và trình độ có khi cũng còn hạn chế. Còn ở trong nước thì không có chương trình hậu tiến sĩ. Theo tôi, cần phải gửi nghiên cứu sinh xong tiến sĩ ra ngoài để theo đuổi chương trình hậu tiến sĩ để đào tạo những người này thành những nhà khoa học chuyên nghiệp. Điều này có thể không dễ, vì xin được một học bổng hay suất học hậu tiến sĩ rất khó và cạnh tranh ác liệt. Nhưng nếu nghiên cứu sinh có công bố quốc tế trên các tập san tốt thì việc xin nghiên cứu hậu tiến sĩ cũng dễ dàng hơn.

Nước ta có chiến lược đào tạo 20,000 tiến sĩ từ nay đến năm 2020. Hiện nay, theo nhiều nguồn thống kê, Việt Nam đã có 24,000 tiến sĩ. Nhưng trong số này, chỉ có khoảng 7300 người hay 30% làm việc tại các đại học (niên học 2011-2012). Chính con số này giải thích một phần lớn tại sao mức độ hoạt động nghiên cứu khoa học ở Việt Nam chỉ bằng 1/5 của Thái Lan và 1/8 của Singapore, trong khi hai nước đó có số tiến sĩ thấp hơn nước ta. Đã đến lúc phải chấn chỉnh lại các chương trình đào tạo tiến sĩ trên toàn quốc (chứ không phải chỉ vài nơi) để nâng cao uy tín học thuật nước nhà.

Chạy theo bằng cấp, học vị đang thành hư danh. Ảnh: TL

Box 1: Vài dòng về lịch sử văn bằng tiến sĩ

Tuy có danh chính thức là triết học (“Doctor of Philosophy” hay PhD) nhưng tiến sĩ không hẳn là người học về triết. Theo bộ luật La Mã, vào thời Trung cổ, mỗi ngành nghề có quyền thành lập một hiệp hội gọi là Collegium, và hiệp hội này bầu ra những người có danh hiệu là Magistrates (mà tôi tạm dịch là "Thầy"). Sau khi xong văn bằng Bachelor, thí sinh có thể theo học tiếp chương trình Master hay Doctor. Và sau khi đã xong chương trình học Master hay Doctor (khoảng 8 năm học), một hội đồng giám khảo sẽ duyệt xét thí sinh để kết nạp vào tổ chức được gọi là Universitas of Doctors. Sự kếp nạp này cũng là một "chứng chỉ" được hành nghề dạy đại học. Lúc bấy giờ, những danh xưng như Master, Doctor và Professor có cùng nghĩa và tương đương về giai cấp: họ hành nghề dạy học. Vào thế kỉ 13, những người dạy học tại Đại học Bologna, lúc đó là trung tâm huấn luyện về luật pháp bên Âu châu, được gọi là Doctor. Trong khi đó ở Đại học Paris, là trung tâm về văn học nghệ thuật, những người dạy học được gọi là Master.

Sự tương đương giữa Master và Doctor bị chấm dứt ở Anh và Mĩ, nơi mà văn bằng Doctor sau này được đánh giá cao hơn văn bằng Master. Ở Anh, hai trường Đại học Oxford (thành lập vào khoảng 1249) và Cambridge (thành lập vào khoảng 1209) được mô phỏng theo hệ thống tổ chức của Đại học Paris; do đó, các nhà khoa bảng các môn văn hóa nghệ thuật thường được gọi là "Master", trong khi các đồng nghiệp của họ trong các môn học như triết, thần học, y học, và luật được gọi là "Doctor". Ngày nay, các tên bằng cấp như "Master of Arts" và "Doctor of Philosophy" có nguồn gốc từ sự phân chia này.

Ở phương Đông chúng ta cũng có văn bằng tiến sĩ từ lâu. Chữ Tiến sĩ có lẽ được xuất phát từ chữ Hán mà tiếng Anh phiên âm là Chin-shih (và tiếng Anh dịch là “Doctor”). Hình như văn bằng này được cấp lần đầu tiên vào năm 1313 (dưới triều đại nhà Tống); vào năm này, một cuộc thi tuyển đặt dưới sự chủ tọa của vua được tổ chức. Qua kết quả của kì thi này, có 300 thí sinh được cấp danh hiệu Chin-shih; trong số này, có 75 người gốc Mông Cổ, 75 người quê quán ở miền Nam Trung Quốc, 75 người quê quán ở miền Bắc Trung Quốc, và 75 người có quốc tịch ngoại quốc. Ai cũng biết văn bằng tiến sĩ ngày xưa cũng rất “ngon lành”. Được gọi là ông nghè (vì ngày xưa chắc do kì thị nữa nên nữ giới không được đi thi tiến sĩ?) Tôi đọc đâu đó nói rằng người đỗ trạng nguyên được người ta khiêng bằng võng (võng anh đi trước võng nàng theo sau), được ngắm vườn hoa của vua (ngự uyển), và hình như có tư cách để cưới con gái của vua. Nhưng tôi không biết quan trạng có quyền không thích công chúa? Kể ra thì những đặc quyền đặc lợi này cũng quan trọng, vì nó là động cơ để người ta học tập.

Box 2: Tiêu chuẩn cho học vị tiến sĩ

Trong cuốn Chất lượng giáo dục đại học (Nhà xuất bản Tổng Hợp, 2011), dựa vào tiêu chuẩn quốc tế và kinh nghiệm cá nhân, tôi đề nghị nghiên cứu sinh phải đáp ứng 6 tiêu chuẩn như sau :

  • Nghiên cứu sinh phải chứng tỏ mình có những kiến thức cơ bản về khoa học, và những kiến thức chuyên sâu về lĩnh vực nghiên cứu mà thí sinh theo đuổi;
  • Nghiên cứu sinh phải am hiểu các tài liệu nghiên cứu cần thiết về lĩnh vực chuyên môn mình theo đuổi, và phải có khả năng cập nhật hóa kiến thức cũng như tất cả những phát triển mới liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu;
  • Nghiên cứu sinh phải chứng tỏ kĩ năng phát hiện vấn đề hay đặt câu hỏi có ý nghĩa cho nghiên cứu chuyên ngành của mình;
  • Nghiên cứu sinh phải làm chủ được phương pháp nghiên cứu khoa học hay phương pháp thí nghiệm cơ bản;
  • Nghiên cứu sinh phải chứng tỏ đã đạt được những kĩ năng về truyền đạt thông tin, kể cả trình bày kết quả nghiên cứu trong các diễn đàn khoa học quốc gia và quốc tế, khả năng viết báo cáo khoa học;
  • Nghiên cứu sinh phải chứng tỏ mình đã nắm vững kĩ năng thiết kế một công trình nghiên cứu và độc lập trong nghiên cứu.

Xem thêm:
Bàn thêm về đào tạo tiến sĩ

NVT (29/11/2012)
…Tóm lại, đào tạo tiến sĩ ở Việt Nam còn tồn tại khá nhiều vấn đề, từ qui trình đến chất lượng. Tôi nghĩ cần phải rà soát lại tất cả các đại học đang đào tạo tiến sĩ để nhận ra những người hướng dẫn có khả năng, có chương trình nghiên cứu, và cơ sở vật chất thích hợp. Ngoài ra, cũng cần có những chương trình hậu tiến sĩ cho các nghiên cứu sinh sau khi tốt nghiệp có cơ hội rèn luyện để trở thành những nhà khoa học chuyên nghiệp. Đào tạo tiến sĩ rất quan trọng, và quan trọng nhất là phẩm chất khoa học, chứ không phải là những con số tròn trĩnh để đạt một “mục tiêu chính trị” nào đó.

Vì sao Việt Nam nhiều tiến sĩ nhưng khoa học vẫn chậm phát triển?

Sỹ Hào (PL&XH) – Số liệu thống kê cho thấy, Việt Nam có nhiều tiến sỹ nhất Đông Nam Á và có rất nhiều học sinh đoạt giải trong các kỳ thi trí tuệ quốc tế, nhiều nhà khoa học trở thành chuyên gia hàng đầu ở các viện nghiên cứu. Tuy nhiên cho đến nay, khoa học Việt Nam vẫn được xếp vào khu vực chậm phát triển (…)

Advertisements
Comments
  1. vumanhdiet says:

    Việt Nam dân tộc anh hùng Trạng nguyên đã có lẫy lừng ngàn năm Ngày nay đã hết ngoại xâm Trí , tài , dũng , đức uyên thâm rất nhiều !!!

  2. nhatvanguyet says:

    Chúc bác sức khỏe, niềm vui người cao tuổi!

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.