Những Quả Bom Đoàn Văn Vươn

Posted: April 2, 2013 in Uncategorized
Tags:

Huy Đức
(FB Osin HuyDuc / ABS.04) – Sẽ hiếm có phiên tòa nào được nhiều người quan sát như phiên tòa xét xử anh em nhà Đoàn Văn Vươn. Nếu vẫn cố thủ trong pháp chế XHCN thì áp dụng chuyên chính để trấn áp là chuyện không còn phải bàn. Nếu muốn gieo cấy những hạt giống pháp quyền thì mục tiêu của bản án phải là công lý.

(Xem thêm: Vụ xử Đoàn Văn Vươn bị xem là không có cơ sở pháp lý – Vụ Đoàn Văn Vươn khơi dậy tranh cãi về bất công xã hội tại VN – Tội danh anh em họ Đoàn là gì? – Vấn đề đất đai tại VN qua vụ án Đoàn Văn Vươn.) …


Chỉ có tư duy trên nền tảng của sự mặc cảm và sợ hãi mới cho rằng nếu không trừng phạt anh Vươn là buông lơi chuyên chế, là sẽ có nhiều nông dân khác tiếp bước anh Vươn. Hành động của anh Đoàn Văn Vươn, trong sâu xa là một tiếng kêu oan chứ không phải là hành động của một người cùng quẫn. Đành rằng anh có tự "chuẩn bị vũ khí" nhưng trái bom mà anh tự chế không để gây sát thương, nó chỉ để tạo ra tiếng nổ.

Hành vi của anh Vươn có dấu hiệu chống người thi hành công vụ, bởi cho dù những người ấy thi hành một quyết định vô lương thì họ cũng làm việc đó nhân danh nhà nước. Hành vi của anh có dấu hiệu cố ý gây thương tích vì có làm bị thương nhẹ một số nhân viên. Nếu cố ý giết người chắc hẳn anh Vươn không dùng súng hoa cải bắn ở một tầm xa như vậy.

Những phát súng và quả bom Đoàn Văn Vươn chỉ như tiếng trống kêu oan gióng lên trước Tam Pháp ty. Nhờ nó mà chính quyền trung ương nhận ra sự lạm quyền của chính quyền địa phương, nhận ra những bất hợp lý trong Luật Đất đai. Theo khoản 4, điều 8 của Bộ Luật Hình sự, thì hành vi của anh em nhà anh Vươn chưa cấu thành tội phạm (Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm, nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác).

Không phải tự nhiên khi bất cứ ai lên tiếng trên các diễn đàn nhân dân đều mong muốn được thấy anh Vươn tự do. Đấy không chỉ là sự cảm thông cá nhân mà còn là cả một nỗi khát khao công lý.

Chính sách đất đai hiện nay đang dồn không biết bao nhiêu người dân vào hoàn cảnh Đoàn Văn Vươn. Công việc của vị thẩm phán xử anh Vươn cũng như một chiến sỹ công binh. Nếu bản án chỉ lo trấn áp thì sẽ dồn những Đoàn Văn Vươn khác vào bước đường cùng, sức công phá của những quả bom ấy sẽ khốc liệt chứ không chỉ gây tiếng nổ. Nếu bản án công bằng với anh Vươn thì những ngòi nổ trong hàng loạt quả bom Đoàn Văn Vươn khác cũng tự nhiên được tháo ra. Bởi những người nông dân mất đất ấy sẽ trì hoãn sự phản ứng của mình để chờ công lý.

Bản án là thông điệp của nhà nước trung ương tới chính quyền địa phương; là sự lựa chọn giữa người dân lương thiện và đám cường hào; là sự xác lập chuẩn mực công vụ: bảo vệ dân chúng hay nhân danh nhà nước để chà đạp lên dân chúng.

Phiên tòa chắc chắn sẽ không kết thúc ngay cả khi bản án đã có hiệu lực. Tên tuổi của Đoàn Văn Vươn rồi sẽ còn vang. Chuyến tàu đi vào lịch sử của anh đủ chỗ để các vị thẩm phán và cả người đứng đầu chế độ quá giang. Vấn đề là họ chọn chỗ đứng trên bia miệng hay ở trong lòng hậu thế.

Read more: Cập nhật phiên xét xử sơ thẩm vụ án Đoàn Văn Vươn

ABS.04 – Chưa đầy 2 ngày, đã có hơn 1.200 người tham gia ký tên vào Tuyên ngôn Công lý cho Đoàn Văn Vươn do 3 em sinh viên Luật – ĐH Luật Sài Gòn, phát động: Nguyễn Trang Nhung, Bùi Quang Viễn (Bùi Chát) và Phạm Lê Vương Các. Bà con nào chưa ký tên mà muốn ký, có thể vào đây để ký.

Hàng ngàn người ký tên kêu gọi công lý cho ông Đoàn Văn Vươn (VOA). “Chúng ta hiểu rằng, mỗi chữ ký của chúng ta, sẽ góp phần tạo nên sức mạnh lớn lao của lẽ phải, để làm bừng lên ánh sáng công lý cho Đoàn Văn Vươn”.

Vụ án Đoàn Văn Vươn qua góc nhìn của một thẩm phán ở Hoa Kỳ (RFA) “Trong bản cáo trạng rất tức cười, họ nêu ông Vươn xây 5 cái hàng rào! Ổng muốn xây một chục hàng rào thì ổng có quyền xây chớ đâu có cái luật nào cấm người ta xây hàng rào? Rồi nói là ổng gài cái này gài cái kia! Trời đất! Mình gài chống người ăn trộm, khi ăn trộm vô thì người ăn trộm phạm tội chứ đâu phải mình phạm tội!”

– Xem thêm: Vụ án Đoàn Văn Vươn "Phiên Tòa Xét Xử Đẹp"! bài viết của luật sư Trần Đình Triển tham gia bào chữa tại tòa.

Giáo dân tổ chức thắp nến cầu nguyện cho ông Đoàn Văn Vươn và người thân sớm được phóng thích nhân dịp lễ Phục sinh tại nhà thờ Thái Hà ở Hà Nội, ngày 31/3/2013.

Vụ xử Đoàn Văn Vươn bị xem là không có cơ sở pháp lý
Thanh Phương (Vi.RFI) – Ngày 02/04/2013, ông Đoàn Văn Vươn, nhân vật chính trong vụ án cưỡng chế đất tại Tiên Lãng, Hải Phòng, sẽ ra tòa cùng với ba người khác trong gia đình,với tội danh “giết người”, chiếu theo Điều 93 Bộ luật Hình sự Việt Nam. Hai người khác, trong đó có vợ ông Vươn, bà Nguyễn Thị Thương, cũng sẽ bị xử với tội danh "chống người thi hành công vụ". Phiên toà sẽ kéo dài cho đến 05/04.

Chưa biết là tòa sẽ xử như thế nào, nhưng giới luật gia đã tỏ ý không đồng tình với việc gia đình ông Đoàn Văn Vươn bị cáo buộc tội “giết người”“chống người thi hành công vụ”. Dư luận cả nước đang chờ xem công lý sẽ được thi hành như thế nào qua vụ xử này, bởi vì ông Đoàn Văn Vươn nay đã trở thành một biểu tượng cho sự bất mãn của những nông dân bị cướp đất ở Việt Nam.

Trước hết xin nhắc lại vài nét về vụ Tiên Lãng: Sau khi tòa bác đơn kiện của ông Đoàn Văn Vươn khiếu nại về quyết định của chính quyền huyện Tiên Lãng thu hồi 19,3 hécta đầm, ngày 05/01/2012, chính quyền địa phương này đã huy động một lực lượng hùng hậu, gồm hơn 100 công an, dân phòng và cả bộ đội để thi hành lệnh cưỡng chế, nhưng gia đình ông Đoàn Văn Vươn đã chống trả kịch liệt, dùng mìn tự chế và đạn hoa cải bắn lại lực lượng cưỡng chế, khiến 4 công an và hai bộ đội bị thương.

Công an Hải Phòng sau đó đã khởi tố ông Đoàn Văn Vươn và 5 người khác trong gia đình, với tội danh “giết người, chống người thi hành công vụ”. Nhưng cùng lúc đó, quyết định thu hồi đất của gia đình ông Vươn đã bị hủy bỏ, chủ tịch UBND và Bí thư Đảng ủy xã Vinh Quang bị đình chỉ chức vụ. Chủ tịch UBND huyện Tiên Lãng Lê Văn Hiền và Phó chủ tịch UBND huyện Tiên Lãng Nguyễn Văn Khanh, là người trực tiếp chỉ đạo cưỡng chế thu hồi đất, cũng đã bị cách chức. Chính thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong phiên họp ngày 10/02/2012 cũng đã kết luận rằng chính quyền địa phương đã sai hoàn toàn trong vụ Tiên Lãng.

Chính vì vậy mà trong những ngày qua, trong giới luật gia Việt Nam, nhiều người đã lên tiếng phản đối vụ xử ông Đoàn Văn Vươn với tội danh “giết người”, cũng như vụ xử những người thân của ông với tội danh “chống người thi hành công vụ”. (Trước hết, mời quý vị nghe ý kiến của luật sư Nguyễn Văn Đài từ Hà Nội, trả lời phỏng vấn RFI Việt ngữ qua điện thoại ngày 29/03 vừa qua theo link).

Quan điểm của LS Nguyễn Văn Đài không khác gì mấy so với quan điểm của nhiều luật sư khác. Trong bài viết đề ngày 28/03, được đăng trên một số trang mạng, LS Hà Huy Sơn đã đưa ra một vài ý kiến bào chữa cho các bị can trong vụ án Đoàn Văn Vươn. LS Hà Huy Sơn phân tích rằng việc cưỡng chế thu hồi đất của UBND huyện Tiên Lãnb là trái pháp luật, cho nên người thực hiện cưỡng chế không phải là người thi hành công vụ.

Cũng theo LS Hà Huy Sơn, việc cưỡng chế gia đình ông Đoàn Văn Vươn không phải là nhiệm vụ quốc phòng, lẽ ra chính quyền Tiên Lãng không được huy động bộ đội để tham gia cưỡng chế. LS Sơn kết luận rằng truy tố anh em ông Đoàn Văn Vươn về tội « giết người » là không có căn cứ pháp lý.

Tờ Sài Gòn Tiếp Thị ngày 09/01 vừa qua cũng đã đăng một bài phỏng vấn luật sư Lê Đức Tiết, phó chủ nhiệm hội đồng tư vấn dân chủ và pháp luật ( Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ) về vụ xử Đoàn Văn Vươn.

LS Tiết nói : « Trong vụ Đoàn Văn Vươn, nếu các cơ quan tư pháp có đủ cơ sở pháp lý để khẳng định lệnh thu hồi đất của chủ tịch UBND huyện Tiên Lãng là đúng Hiến pháp, đúng luật Đất đai thì mới có thể buộc tội ông Vươn phạm tội chống người thi hành công vụ. Trong khi đó, chính Thủ tướng Chính phủ – người đứng đầu cơ quan hành pháp – cũng từng kết luận rằng quyết định thu hồi đất nói trên là sai. Lệnh cưỡng chế để thi hành quyết định trái luật, do vậy, cũng không thể đúng. Không có quyết định hành chính đúng luật thì không thể có hành vi chống người thi hành công vụ."

Luật sư Lê Đức Tiết khẳng định: "Không thể buộc tội ông Vươn chống lại cái không có trong thực tế. Ông Vươn chỉ chống lại hành vi trái luật của viên chức. Đó là quyền phòng vệ chính đáng của công dân mà luật pháp tất cả các nước trên thế giới và ở nước ta đều công nhận. »

Bà Phạm Thị Hoài: "Nếu vụ án của gia đình chúng tôi mà giải quyết một cách thỏa đáng, thì nhà nước Việt Nam sẽ chứng tỏ rằng đất nước Việt Nam là một đất nước văn minh, nhân đạo"

Hình ảnh của Dân làm Báo – Tường thuật phiên tòa xét xử anh Đoàn Văn Vươn và người thân 02/4.









Vụ Đoàn Văn Vươn khơi dậy tranh cãi về bất công xã hội tại VN
( VOA ) – Quy định dân chỉ có quyền sử dụng, chứ không có quyền sở hữu đất đai là lý do khiến hồ sơ khiếu kiện đất đai chiếm nhiều nhất trong số các đơn thư khiếu nại trong nước. Phương châm ‘đất thuộc toàn dân do nhà nước quản lý’ đã đẩy biết bao nhiêu gia đình ra khỏi mảnh đất nương thân mà họ nhọc công gầy dựng từ chính mồ hôi, nước mắt, sức lao động lương thiện của mình cũng như gây ra bao cuộc tranh chấp mà kết cục thường bất lợi cho người dân đi khiếu kiện, đôi khi còn dẫn tới án mạng hoặc án tù. Phát súng mới đây của người nông dân Đoàn Văn Vươn ở Tiên Lãng (Hải Phòng) chống lại lực lượng võ trang tới cưỡng chế bất hợp pháp đất canh tác của gia đình ông đã vang dội thành một tiếng súng cảnh tỉnh về cuộc khủng hoảng tranh chấp đất đai giữa chính quyền với người dân tại Việt Nam. Trong cuộc thảo luận hôm nay, 4 bạn trẻ là Tiến Nam ở Yên Bái, Lê tại Sài Gòn, Quốc Anh từ Khánh Hòa, và Thạch Vũ ở Hà Nội sẽ nói lên cảm nghĩ của họ về sự kiện hiếm thấy này (…)

Dù không đi được xuống Hải Phòng, những người nông dân Văn Giang
vẫn sát cánh bên anh Đoàn Văn Vươn và phản đối phiên tòa ô nhục.

Tội danh anh em họ Đoàn là gì?
Bùi Văn Bồng – Dù đã rất nhiều ý kiến, lời bình, dẫn liệu minh chứng phản đối, nhưng Viện Kiểm sát ND T.p Hải Phòng vẫn quy tội giết người đối với oan nhân Đoàn Văn Vươn. Trước khi nêu ra những chứng liệu và luận giải về việc xem lại nội dung xác định tội danh ngay từ văn bản chỉ định điều tra hình sự đối với anh em họ Đoàn trong vụ Tiên Lãng, cần phải nói rõ về nghĩa của từ và sự chính xác của ngữ nghĩa.

Trong lý luận về ngôn ngữ học, nghĩa của từ biểu hiện của diễn đạt tư tưởng, dẫn nhập tư duy và phân định suy cảm. Nó hàm chứa sự đầy đủ, sự dồi dào, sự phong phú; sự ấn định hoặc suy rộng ra của các khái niệm, gợi mở liên tưởng, làm cơ sở cho suy đoán.

Khái niệm nghĩa của từ đã được nêu ra từ lâu và cũng đã có nhiều cách hiểu, nhiều định nghĩa khác nhau. Bởi vì, xét về bản chất biểu hiện: Từ là tín hiệu, nó phải "nói lên", phải đại diện và chỉ định ra thông tin cho một khái niệm, một trạng thái thực thể-phi vật thể, phải được người sử dụng quy chiếu về một cái gì đó với sự chọn lọc đi đến đạt sự hiểu chính xác nhất. Từ, ngữ phải chỉ rõ, gắn vào đúng sự vật có tên gọi đã được từ vựng học kiểm nghiệm, mặc định; đồng thời cả cộng đồng xã hội hiểu đúng, chấp thuận, ghi nhận. Nghĩa của từ gồm nghĩa biểu vật và nghĩa biểu niệm. Nghĩa biểu vật của từ là liên hệ giữa từ với sự vật (hoặc hiện tượng, thuộc tính, hành động,…) mà nó chỉ ra. Bản thân sự vật, hiện tượng, thuộc tính, hành động,… đó, người ta gọi là nghĩa biểu vật hay cái (sự) biểu vật. Biểu vật có hai thể là thể hiện thực hoặc thể phi hiện thực, hữu hình hay vô hình, có bản chất vật chất hoặc phi vật chất. Nghĩa biểu niệm là liên hệ giữa từ với ý (hoặc ý nghĩa, ý niệm). Đối với từ vựng-ngữ nghĩa học, cái quan trọng nổi lên hàng đầu trong giao lưu, ứng xử và văn bản là nghĩa biểu niệm.

Cần phải hiểu mối liên hệ mà chúng ta nói tới trong quan niệm về nghĩa của từ ở đây chính là mối liên hệ chỉ xuất, mối liên hệ phản ánh, cho nên nghĩa biểu hiện cũng có thể hiểu là sự phản ánh sự vật-biểu vật (đúng hơn là phản ánh các thuộc tính, các đặc trưng của chúng, theo đúng bản chất sự vật, hiện tượng, con người, bối cảnh) trong ý thức con người, được tiến hành bằng từ. Chuẩn mực cho nghĩa của từ là phải chính xác, đạt được giá trị định vị, biểu đạt và biểu cảm.

Trong giao tiếp cộng đồng xã hội, trong các loại hình văn bản, xưng hô, giao lưu, ứng xử, phát ra thông tin… và nhất là tại các văn bản pháp luật, hoặc có liên quan đến pháp luật, nghĩa của từ rất cần được dùng chính xác, chọn lọc, nếu không sẽ sinh ra nhiều hệ lụy do hiểu lệch thông tin, làm sai nghĩa biểu vật và nghĩa biểu niệm, dẫn tới những hậu họa đáng tiếc, khó lường do hiểu sai lệch nội dung thông tin. Nó liên quan trực tiếp đến đạo đức, nhân sinh và nhân văn và cả tính mạng con người.

Chỉ riêng qua vụ cưỡng chế thu hồi đất tại khu khai hoang nuôi trồng thủy sản ven biển của nhà họ Đoàn ở Tiên Lãng (Hải Phòng) đã làm cho người ta suy ngẫm nhiều về nghĩa của từ. Trước hết, về mặt vĩ mô, các văn bản luật về đất đai đã ban hành cũng có nhiều chỗ phải bàn lại, chỉnh cho chuẩn về dùng từ, giải nghĩa, diễn đạt, dẫn đến Luật đất đai bị người ta lợi dụng nghĩa của từ và ngữ nghĩa còn lấp lửng, nước đôi, chưa rõ để tìm chỗ hở, hoặc cố tình vin vào câu, chữ này kia để phục vụ ý đồ cá nhân, vụ lợi, tìm cách lách luật. Ngôn ngữ của luật cần phải chính xác nhất trong mọi vận dụng ngôn ngữ. Nhưng chuyện này đưa văn bản luật ra mà soi xét lại cho kỹ, mổ xẻ, phân tích từng chương, mục, điều… thì dài lắm.

Trong vụ xảy ra gây rầm trời ở Tiên Lãng, người ta nghĩ ngay đến cái văn bản chỉ định điều tra hình sự về tội danh dành cho anh em họ Đoàn. Đó là ngữ nghĩa của câu: “Tội giết người, chống người thi hành công vụ”. Xét về nghĩa của từ và ngữ nghĩa văn cảnh, cũng như xét cả về nghĩa biểu vật và nghĩa biểu niệm trong sự việc, vấn đề, bối cảnh, dùng từ như thế rất có hại, vì nó biểu hiện sự cố tình dùng từ sai thực tế để đạt ý định cá nhân, chủ đích không bình thường nào đó, sinh ra áp đặt. Về văn hóa-xã hội học, như thế là phạm vào luật cấu trúc ngôn ngữ, sai từ vựng học. Nhưng phạm vào luật ngôn ngữ, dùng từ sai bản chất, tức là biểu niệm sai dẫn đến biểu cảm đa chiều còn ít thấy hại trước mắt. Điều đáng nói ở đây là văn bản luật, một quyết định phục vụ cho tố tụng, liên quan đến xác định tội danh, liên quan đến phương hướng, cách thức điều tra, xác minh và là điều kiện để thực hiện nghiêm minh pháp luật, có liên quan đến cả cuộc sống và mạng người. Theo dõi diễn biến, tình tiết xảy ra vụ ở Tiên Lãng, dư luận vẫn không đồng tình với cách đưa ra tội danh để thụ lý hồ sơ vụ án hình sự đối với mấy anh em họ Đoàn. Sự dùng từ sai trong quyết định khởi tố vụ án cần được phân tích rõ như sau:

+ Thứ nhất: Trong quyết đinh khởi tố điều tra vụ án của Công an thành phố Hải Phòng đối với anh em họ Đoàn khi họ đã có những hành động phản ứng quyết liệt do bị dồn vào “bước đường cùng”, mà gọi là “tội giết người”không đúng từ bản chất đến diễn biến vụ việc. Bản chất vụ việc xảy ra không có biểu hiện anh em họ Đoàn rắp tâm từ trước, cố ý giết người. Bởi vì, anh em họ Đoàn đã tỏ ra có hiểu biết pháp luật, khá bình tĩnh và nghĩ kỹ đến chữ “nhân” nên chỉ dùng súng bắn đạn hoa cải. Thực ra, loại đạn này chỉ để tỏ thái độ, để dọa, cùng lắm chỉ có khả năng sát thương nhẹ, nhằm hạn chế “đối phương”, tự bảo vệ cho mình (hành vi tự vệ). Nếu ông Vươn có chủ đích giết người, không bao giờ ông ta dùng súng tự tạo bắn đạn hoa cải. Giả sử như trong vụ này, ông Vươn dùng súng quân dụng, đạn nhọn, lựu đạn hoặc bộc phá thì quy tội như thế cũng còn có lý. Nếu như “luận” theo cách áp đặt như vậy, thì cảnh sát dẹp biểu tình, dẹp loạn có xịt nước vòi rồng, dùng đạn hơi cay, dùng các loại công cụ hỗ trợ (như roi điện, dùi cui…) cũng là “tội giết người” hay sao? Trong vụ này, ông Vươn đã giết chết người nào chưa? Định nghĩa trong các văn bản “Định vị và giải nghĩa từ luật” có ghi: “Giết người là hành vi làm chết người được hiểu là hành vi gây ra cái chết cho con người, chấm dứt sự sống của một hoặc nhiều người. Hậu quả của hành vi trái luật này là sự gây ra chết người. Như vậy, tội giết người chỉ được coi là tội phạm hoàn thành khi có hậu quả chết người. Nếu hậu quả chết người không xảy ra vì nguyên nhân khách quan thì hành vi phạm tội được coi là tội giết người chưa đạt (khi có lỗi cố ý trực tiếp) hoặc là tội cố ý gây thương tích (khi có lỗi cố ý gián tiếp). Mục đích và yếu tố cấu thành tội phạn phải được xem xét từ động cơ, bối cảnh, chi phối khách quan, trạng thái tâm lý chủ quan khi xảy ra sự việc, từ đó xét giảm nhẹ hoặc tăng nặng khung hình phạt”.

+ Thứ hai: Chi định điều tra tội “chống người thi hành công vụ”. Trước hết, công vụ phải được hiểu là việc công hợp pháp vì mục đích chung. Người thi hành công vụ đứng danh là người của Nhà nước, được phân công thực thi nhiệm vụ vì mục đích phục vụ lợi ích cho Nhà nước và nhân dân. Trước khi quy tội ông Vươn chống người thi hành công vụ, cần phải xét cho kỹ bản chất và những diễn biến của vụ việc có đúng là làm theo công vụ vì mục đích ích nước lợi dân hay không? Thu hồi đất hợp pháp phải xuất phát từ động cơ vì mục đích chung, đã có quy hoạch, có dự án cụ thể, có thiết kế kèm theo địa đồ phạm vi đất đã công khai trước dân, được người dân đồng tình, nhất trí, không có khiếu kiện. Khi tổ chức thi hành công vụ đã có đầy đủ cơ sở, căn cứ pháp lý, người được giao thực hiện đúng chức danh, chức năng, làm đúng pháp luật, đúng quyền hạn thì mới coi là thi hành công vụ. Khi việc thu hồi đất không đúng pháp luật, người thực thi không hành động và xử sự theo đúng nhiệm vụ, làm sai các quy định, chức năng công tác, có dấu hiệu dùng quyền lực tước đoạt, ruồng ép đạt cho kỳ được chủ đích cá nhân, bất tuân nguyên tắc và không dân chủ, thì không thể gọi là công vụ. Tôi tán thành với một phần nội dung do Luật sư Trần Đình Triển, Trưởng văn phòng luật sư “Vì dân”, đã trả lời phỏng vấn trên VietNamNet: Về việc cơ quan điều tra khởi tố một số cá nhân về tội “chống người thi hành công vụ”, theo luật sư Triển là không đúng. Luật sư này phân tích: khi nói đến người thi hành công vụ phải hội đủ cả 3 điều kiện:

Thứ nhất, người đó thực thi đúng nhiệm vụ, được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phân công, phân nhiệm; thứ 2, đang thực thi (hành vi đang diễn ra thi hành công vụ); thứ 3 là nhiệm vụ phân công, thực hiện phải đúng pháp luật”; dẫn theo link (13/02/2012): Đoàn Văn Vươn sẽ chịu mức án thế nào?

Thử đặt lại vấn đề, nếu như trong vụ này, chỉ có một số cán bộ, thêm mấy anh công an ăn mặc chỉnh tề, đến tận nhà ông Vươn vận động giao đất, hoặc đưa quyết định cưỡng chế, thu hồi đất hợp pháp, nhưng ông Vươn chống lại, đuổi, dùng súng hoặc hung khí để dọa và xua đoàn công tác, thì lại là chuyện khác. Đằng này, ngay từ đầu cuộc cưỡng chế đã gây phản cảm quá mạnh, huy động cả trăm cảnh sát cơ động, hùng hổ súng đạn, công cụ hỗ trợ, chó nghiệp vụ… thì như thế là “thi hành công vụ” à? Mục đích, động cơ, con người và cách hành xử không đúng với việc thi hành công vụ của Nhà nước thì không thể coi là “chống người thi hành công vụ”. Luật sư Nguyễn Việt Hùng, Trưởng văn phòng Luật sư Kinh Đô, cho rằng: “Bản chất của Pháp luật Việt Nam là tính khoan hồng và nhân đạo để người vi phạm pháp luật có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, phấn đấu trở thành công dân có ích cho xã hội… Cần phải có sự cân nhắc, phân tích một cách kỹ lưỡng, căn cứ và đánh giá một cách khách quan, toàn diện tất cả các tình tiết, hành vi của các bị can và của cá nhân, tổ chức liên quan trong vụ án để định tội”. Cho nên, tổng lược sự kiện và bản chất vấn đề, xem xét các tình tiết vụ việc một cách công minh, trong 4 yếu tố cấu thành tội pham (khách quan, chủ quan, khách thể, chủ thể) thì không nên xác định tội danh ông Vươn là tội giết người, cũng không phải tội chống người thi hành công vụ, mà có thể nếu có chăng chỉ là tội tàng trữ vũ khí trái phép và phản kháng quá mức cho phép.

Ai cũng còn nhớ, ngày 10-2-2012, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã chủ trì cuộc họp và có kết luận về vụ việc cưỡng chế, thu hồi đất này. Một trong những kết luận của Thủ tướng Chỉnh phủ đã nêu rõ vụ cưỡng chế này là sai hoàn toàn cả về mục đích, ý định, pháp luật, cả tổ chức và biện pháp sử dụng lực lượng. Cho nên, quy tội anh em họ Đoàn tội “chống người thi hành công vụ”, rồi dấn lên đến mức vô nhân đạo và trắng trợn: “tội giết người” là thiếu căn cứ thực tế và cơ sở pháp lý. Trong kết luận, Thủ tướng chỉ đạo lãnh đạo T.p Hải Phòng kiến nghị các cơ quan tiến hành tố tụng xem xét tình tiết giảm nhẹ đối với bị can do các quyết định không đúng pháp luật của UBND huyện Tiên Lãng. Cho nên, rất cần xem xét lại việc dùng từ và ngữ nghĩa khi đưa vào văn bản pháp luật, xác định cho đúng tội danh của anh em họ Đoàn trong vụ việc vừa qua.

Vụ việc đã đã bị "ngâm giấm" hơn một năm nay rồi, bởi các nhà đương chức Hải Phòng muốn tìm cách trả thù ông Vươn mà không làm theo chỉ đạo của Thủ tướng là sớm giải quyết dứt điểm! Không thể "quan xử theo lẽ, dân xử nặng theo hình" gây oan khốc cho người dân chất phác "thấp cổ bé họng" bị dồn vào bước đường cùng. Nguyên nhân dẫn tới 'phản ứng tự vệ' của ông Vươn trước hết là do chính quyền làm sai luật, đã thế lai dùng uy quyền và thế lực cưỡng chế thu hồi đất với biện pháp sai, sử dụng lực lượng cũng sai. Lẽ ra phía chính quyền phải nghiêm khắc kiểm điểm, rút kinh nghiệm đừng để vi phạm dân chủ đến mức trắng trợn, quá nặng. Nhưng nay lại cố tình tranh phải về mình, coi việc xử nghiêm ông Vươn như "bài học răn đe" những vụ khác thì hoàn toàn sai lầm chống lấn thêm sai lầm. Sai lầm càng trở thành hệ thống. Kết quả xử vụ này sẽ khẳng định uy tín của chính quyền gọi là "dân chủ" đến mức độ nào? Không nên tự lấy dây thắt vào cổ mình để gánh nặng thêm cái tiếng xấu là "nền dân chủ giả hiệu". Việc xét xử vụ Đầm Vươn vào ngày 2-4-2013, cần xem xét thấu đáo mọi sự bảo đảm dân chủ, công bằng pháp luật. Tòa phải có chính kiến, độc lập và nhất là lương tâm, đừng vì “cái roi” chỉ đạo nào cả. Rất mong!

Cầu nguyện công lý và sự thực cho gia đình ông Vươn ở nhà thờ Thái Hà hôm 31/3/2013

Vấn đề đất đai tại VN qua vụ án Đoàn Văn Vươn
NhanTuanTruong – Vụ án Đoàn Văn Vươn đặt lại nhiều vấn đề về đất đai tại VN.

1/ Khu vực tạm gọi là « đất », trước khi được ông Vươn và gia đình khai thác đưa vào sử dụng, là một khu vực bãi bồi ven biển, thường xuyên bị ngập lụt và hàng năm chịu nhiều gió bão. Khu vực « đất » này không thuộc về bất kỳ loại đất nào đã được định nghĩa theo điều 11 bộ Luật đất đai năm 1993 hay điều 13 bộ Luật đất đai năm 2003. Nó không thể gọi là « đất trồng cây hàng năm » vì không thể trồng cây ; không thể gọi là « đầm nuôi trồng thủy sản » vì không thể nuôi trồng thủy sản ; cũng không thể gọi là « ruộng muối » vì không thể làm muối. Nếu dựa theo luật Hồng Đức ngày xưa thì khu vực bãi bồi này không thuộc diện « thổ » vì không thể xây nhà định cư, không thuộc diện « điền » vì không thể làm ruộng hay làm muối (diêm điền), cũng không thuộc diện « trạch », tức ao hồ để có thể để nuôi cá.

Trước khi giao khu vực bãi bồi này cho gia đình ông Vươn khai thác, theo tin tức báo chí đăng tải, « nhà nước cũng không dám khai thác khu vực này bởi vì khó khăn và nguy hiểm ».

Chiếu theo điều 50 bộ Luật đất đai năm 1993, vì tầm quan trọng về an ninh và quốc phòng, các bãi bồi ven biển thì do chính phủ quản lý.

Câu hỏi đặt ra, chính quyền địa phương có thẩm quyền để « giao đất » này hay không ? Đất được giao ở đây thuộc loại chủng nào ?

Ta thấy việc giao đất đã vi phạm luật lệ vì chính quyền địa phương không có thẩm quyền.

Dựa theo nghị định 64, (các loại đất sản xuất trồng cây hằng năm, nuôi trồng thủy sản, làm muối…) chính quyền địa phương « nâng cấp » « bãi bồi ven biển » chưa được phân loại, trở thành một loại đất được phân chủng loại, sau đó dựa vào tiêu chuẩn đất được phân loại để định giá cho thuê đất và đóng thuế sử dụng đất.

Việc nâng cấp đất này là một hành vi ép buộc, tự tiện, do đó không phù hợp qui cách pháp lý.

2/ Để biến khu vực « đất không thể sinh sống » và không thể phân loại chủng thành một khu vực xếp vào hạng « điền trạch » (tức vừa định cư vừa nuôi thủy sản), ông Vươn đã sử dụng kiến thức kỹ sư của mình để làm các việc sau :

a) Đắp một con đê dài 2 cây số để ngăn lũ lụt, (con đê này đem lại lợi ích cho nhiều gia đình lân cận, chứ không hẳn cho cá nhân ông Vươn). b) Trồng cây vẹt để giữ đất bồi đồng thời để che bão. c) Đổ đất, cát, đá… làm nền.

Làm các công trình (a) và (b) ông Vươn đã biến một vùng bờ biển hiểm nguy thành một cái « trạch » (đầm nước) có an ninh. Công trình (c) biến một góc « trạch » thành « điền » (đất trồng trọt) và « thổ » (đất xây cất). Sau 17 năm gầy dựng, ông Vươn đã tạo ra một « khu vực điền – thổ – trạch » có diện tích là 40 ha.

Nhà nước thâu hồi đất này dựa trên điều 6 Luật đất đai 2003, theo qui định khoản đ) « chuyển mục đích sử dụng đất » và theo các điều qui định ở mục 4.

Đặt giả thuyết : nếu « khu vực bãi bồi » đó không giao cho ông Vươn, tức vẫn còn là một vùng đầm lầy phủ sóng và luôn chịu gió bão, liệu nhà nước có qui hoạch hay lên kế hoạch sử dụng khu vực này hay không ?

Nếu câu trả lời là « không », nhà nước hôm nay vịn vào lý do gì để thâu hồi khu vực đất ấy ?

Nếu nhà nước giữ quyết định thu hồi đất, việc bồi thường cho gia đình ông Vươn sẽ tính toán như thế nào ? Mồ hôi, nước mắt và cả máu xương của gia đình ông Vươn đã đổ xuống trong vòng 17 năm liên tục là vô giá, không thể không tính tới.

3/ Điều 12 bộ Luật đất đai qui định : Nhà nước có chính sách khuyến khích người sử dụng đất đầu tư lao động, vật tư, tiền vốn và áp dụng thành tựu khoa học và công nghệ để « Khai hoang, phục hoá, lấn biển, đưa diện tích đất trống, đồi núi trọc, đất có mặt nước hoang hoá vào sử dụng » (khoản 1)

Ông Vươn đã tin tưởng vào điều luật đó, đã đem kiến thức khoa học, tiền vốn và công sức để làm các điều mà nhà nước khuyến khích.

Vậy mà chính quyền địa phương ra quyết định thâu hồi trong khi thời hạn sử dụng chưa mãn.

Người ta không thể vừa có chủ trương « khuyến khích » lại vừa có chủ trương « thâu hồi ».

Trước đây nhiều Việt kiều đã áp dụng chính sách khuyến khích của nhà nước để về VN kinh doanh, nhưng khi cơ ngơi được phát triển thì chính quyền địa phương (hay nhà nước ?) quyết định « thu hồi ». Lối khuyến khích của nhà nước là lối khuyến khích vỗ cho béo để làm thịt. Xúi mọi người nuôi gà con, khi gà con lớn lên sinh sản thành đàn, thì nhà nước ra quyết định « thâu hồi ».

Đây là chủ trương của một nhà nước mafia, của một đảng cướp chứ không phải là chủ trương của một nhà nước đúng đắn, chính danh.

4/ Về « tư điền » và sở hữu toàn dân :

Theo Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quí Đôn, một tập tục ngàn năm của Việt Nam được lưu truyền từ đời này sang đời kia, đến trước thời xã hội chủ nghĩa :

« Nếu có người tự đem sức lực của mình khai khẩn những nơi rừng rú bỏ hoang, khi đã thành điền phải khai rõ, liền cho phép coi như là "bản bức tư điền". Chỉ nhà nước mới có quyền thu thóc tô, còn dân xã không được tranh ruộng tư ấy. Cái lệ ấy thành ra vĩnh viễn. »

Tức đất hoang mà người dân bỏ công khai phá, như trường hợp ông Vươn, sẽ thuộc vào loại « bản bức tư điền », tức sẽ trở thành ruộng riêng của ông Vươn (và con cháu sau này của ông).

Một trường hợp khai khẩn đất hoang ở nước ta, vào đầu thế kỷ 19, cần nhắc ở đây, là việc thành lập huyện Tiền Hải ở Nam Định của cụ Nguyễn Công Trứ. Huyện Tiền Hải trước kia vốn là một bãi đất bồi (bãi Tiền Châu), việc khai khẩn gọi là « doanh điền », do cụ Nguyễn Công Trứ hướng dẫn với sự ủng hộ của triều đình qua việc giúp đỡ tiền bạc và dụng cụ khai phá. Những người dân khai khẩn vùng đất mới bồi này, phần lớn được làm chủ các khoản đất do dọ tạo ra (gọi là tư điền) và có bổn phận đóng thuế cho nhà nước.

Dưới thời thực dân cũng thế, người dân nào khai khẩn đất hoang thì đất đó thuộc quyền sở hữu của người đó. Trong khi đó, chính quyền thực dân đã giúp đào kinh chằn chịt khắp nơi để cho dân xả nước phèn, biến một vùng đất phèn, đồng chua thành một kho lúa gạo to lớn của miền Nam hiện nay. Dưới thời VNCH, nhà nước cũng tổ chức các khu « doanh điền », lập « đồn điền » ở Tây Nguyên, khuyến khích dân khai khẩn đất hoang, giúp tiền bạc, xây cất nhà cửa cho dân định cư. Tất cả đất khẩn hoang cũng như nhà cửa đều thuộc quyền sở hữu vĩnh viễn của người dân.

Trong khi dưới thời XHCN, đất đai thuộc sở hữu toàn dân, nhưng lại do nhà nước quản lý. TS Nguyễn Quang A đã đặt vấn đề « sở hữu toàn dân » hết sức thuyết phục. Ông « toàn dân » này là ông nào và chịu trách nhiệm pháp lý ra sao ?

Gia đình ông Vươn khai khẩn « khu vực đất » không hề được sự giúp đỡ của nhà nước xã hội chủ nghĩa, như trường hợp đất doanh điền ở Tiền Hải (dưới thời phong kiến), đất khẩn hoang ở Nam bộ (dưới thời thực dân) hay đất doanh điền, đồn điền ở Tây nguyên (dưới thời VNCH).

Nếu thời trước các nhà nước phong kiến, thực dân hay « tay sai bán nước Mỹ Ngụy » không trưng thâu đất, mặc dầu việc khai khẩn là có sự trợ giúp của nhà nước về tài chánh và công cụ, thì hôm nay, nhà nước XHCN không hề giúp điều gì cho ông Vươn, thì tại sao lại thâu hồi ?

Đạo lý nào cho phép chính quyền địa phương làm vậy ?

Hay là đạo lý của xã hội chủ nghĩa không chỉ đi ngược lại đạo lý giống nòi, mà còn kém xa tính nhân đạo của thực dân và của các chế độ phong kiến ngày xưa hay chế độ "bóc lột kềm kẹp" VNCH ngày trước ?

5/ Thủ tục thâu hồi đất, mâu thuẫn giữa XHCN và kinh tế thị trường :

Việc khai khẩn của ông Vươn là một « công trình », gồm nhiều phần : con đê dài 2km, rừng vẹt, đầm nuôi cá, đất trồng trọt và đất xây dựng nhà cửa. Công trình này bao gồm hai thành quả : vật chất và trí tuệ.

Theo hiến pháp và luật định, đất đai sở hữu của toàn dân, do nhà nước quản lý. Nhưng vì có nền « kinh tế thị trường » và gia nhập WTO, do đó nhà nước VN phải tôn trọng các luật lệ do WTO qui định, (theo điều 3 khoản 2 bộ Luật đất đai 2003) trong đó có điều luật phải tôn trọng quyền sở hữu tài sản cũng như sở hữu trí tuệ của tư nhân.

Nhà nước có thể thâu hồi đất mà bỏ qua quyền sở hữu trí tuệ cùng sở hữu tài sản của ông Vươn ? Không giải quyết ổn thỏa là tạo ra sự xung đột giữa hai bộ luật (luật quốc tế và luật quốc gia) mà theo lẽ VN phải đặt luật quốc tế lên trên.

Mâu thuẫn ở đây là mâu thuẫn của nền « kinh tế thị trường » với định hướng « xã hội chủ nghĩa » đồng thời là mâu thuẩn giữa luật quốc gia với luật quốc tế.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s