Nợ xấu Việt Nam: Hiện tồn và biến ảo

Posted: April 9, 2013 in Uncategorized
Tags:

Phạm Chí Dũng ( ABS.04 ) – Trong khi Thống đốc Nguyễn Văn Bình vẫn đang “nhảy múa” theo những con số nợ xấu, cận cảnh chết chóc có tính dây chuyền của ngân hàng lại có thể dẫn đến sự sụp đổ của nền kinh tế, vốn chỉ còn chân đứng rất mong manh.

(Xem thêm: Bù lỗ vào dân: “Trận đánh đẹp” tiếp diễn? – Nợ xấu tại Việt Nam “đáng sợ và đáng ngờ” – Bất thường trong thống kê kinh tế Việt Nam – Chúng ta buộc phải "cắn bút"!? – Vì sao học sinh không thích học lịch sử?) …


Sau 9 tháng kể từ khi ý tưởng đầu tiên được thai nghén trong bối cảnh đầy tranh cãi, có thể mô hình “Công ty mua bán nợ quốc gia” sắp hiện hình.

Vào thượng tuần tháng 3/2013, trong một hội nghị triển khai các giải pháp tiền tệ ngân hàng tại Đà Nẵng, tác giả khai sinh ra ý tưởng trên là thống đốc Ngân hàng nhà nước Nguyễn Văn Bình đã cho biết từ đầu tháng, Bộ chính trị đã thông qua đề án xử lý nợ xấu và đề án thành lập công ty quản lý tài sản quốc gia.

Nếu không có gì thay đổi, hai đề án trên sẽ được Chính phủ phê duyệt trong nửa đầu năm 2013.

Khuất tất và biến hóa

Cần nhắc lại, trong buổi họp báo thường kỳ của Chính phủ vào tháng 7/2012, chủ đề Công ty mua bán nợ quốc gia đã lần đầu tiên được một quan chức có trách nhiệm – Bộ trưởng, chủ nhiệm Văn phòng chính phủ Vũ Đức Đam – xác nhận thế chân đứng khá mơ hồ của nó. Trước cử tọa báo giới cùng nhiều câu hỏi nghi vấn, ông Đam cũng tỏ ra hoài nghi về gốc gác của con số 100.000 tỷ đồng vốn điều lệ của công ty này và cho rằng “có thể đã có một sự nhầm lẫn nào đó”.

“Sự nhầm lẫn” bị xem là khá tai hại trên lại khởi phát từ ý tưởng thành lập một công ty mua bán nợ có tầm vóc quốc gia với số vốn điều lệ lên đến 100.000 tỷ đồng – được thống đốc Nguyễn Văn Bình nêu ra tại kỳ họp Quốc hội vào trung tuần tháng 6/2012. Theo đó, Ngân hàng nhà nước sẽ có một đề án trình Chính phủ nhằm giải quyết tỷ lệ nợ xấu lên đến 10% trong khối ngân hàng – một số liệu hoàn toàn bất ngờ, tạo nên một chuyển biến hoàn toàn phi logic nếu so sánh với “lộ trình tăng nợ xấu” trước đó.

Lần đầu tiên tính từ phiên họp Quốc hội vào tháng 11/2011, người chịu trách nhiệm điều hành tín dụng của Ngân hàng nhà nước mới thừa nhận tỷ lệ nợ xấu lên đến 10%.

Nhưng trước đó chỉ hơn nửa năm, ông Nguyễn Văn Bình đã báo cáo tỷ lệ nợ xấu chỉ là 3,6%.

Kiểu cách công bố một số liệu quan yếu của tài chính tín dụng quốc gia như tỷ lệ nợ xấu – được báo giới mô tả là “nhảy múa” – đã khiến ngay cả những chuyên gia ôn hòa nhất cũng khó giữ được bình tĩnh với quan điểm và khẩu khí biến hóa của người đứng đầu Ngân hàng nhà nước.

Ngay sau khi xuất hiện đề xuất về Công ty mua bán nợ quốc gia vào giữa năm ngoái, một lần nữa rất nhiều ý kiến của giới chuyên gia, người dân, báo chí và cả quan chức đã phản bác gay gắt.

“Cứu ai và cứu để làm gì?” là chủ đề chính trong nhiều phản bác như thế.

“Tiền thuế của dân không thể dùng để mua nợ xấu ngân hàng” – viện sĩ Trương Công Phú, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục đầu tư phát triển, chủ nhiệm Hội đồng tư vấn kinh tế thuộc Ủy ban mặt trận tổ quốc Việt Nam bức bối – “Nhân dân đóng thuế không phải để đi mua nợ, tại sao lại bắt nhân dân phải nai lưng ra gánh chịu những món nợ xuất phát từ những sai lầm của một nhóm người?”.

Bài học còn nóng hổi từ câu chuyện chuyển lỗ và đổ lỗ từ hoạt động kinh doanh thất bát và sai lầm lên đầu người dân vẫn còn nguyên đó – ứng với những minh họa khó tưởng tượng như Tập đoàn điện lực Việt Nam hay Tổng công ty kinh doanh xăng dầu Việt Nam.

Vậy tại sao ngân hàng lại “thích” bán nợ xấu? Cũng theo ông Trương Công Phú, nguy hiểm nhất của nợ xấu là bóng dáng của trục lợi, tham nhũng lấp ló đằng sau đó. Nếu bán được những món nợ ấy thì mọi tội lỗi của các nhóm lợi ích và tham nhũng sẽ được xóa hết, thậm chí còn được hợp pháp hóa những món nợ ấy. Sâu xa của vấn đề bán nợ là do các ngân hàng thương mại sợ khi cơ quan chức năng vào cuộc xử lý sẽ phát hiện ra những khuất tất và sẽ lòi ra nhiều chuyện khác.

Những khuất tất nào? Tựu trung, vẫn là câu chuyện còn trong bóng tối về nợ xấu bất động sản và sự biến hóa của điều được gọi là “nắn dòng chảy tín dụng”.

Quay quắt và nghi vấn

Không phải ngẫu nhiên mà vào cuối năm 2011, một báo cáo của Ủy ban giám sát tài chính quốc gia đã tiết lộ con số dư nợ cho vay bất động sản thực chất lên đến 348.000 tỷ đồng, gấp 1,8 lần so với con số báo cáo của các ngân hàng thương mại là gần 200.000 tỷ đồng vào cuối năm 2011.

Số nợ xấu bất động sản cũng theo đó mà tăng gấp 8 lần so với số công bố của khối ngân hàng.

Gót chân Asin bắt đầu lộ ra, ở chính nơi mà trong một tâm thế hoang tưởng, người ta luôn tưởng tượng tình hình được củng cố một cách bền vững nhất.

Bắt đầu từ thời điểm sau quý 1/2012, hàng loạt ngân hàng đã buộc lòng phải tiết lộ thân phận nợ xấu của mình. Cũng theo báo cáo của Ủy ban giám sát tài chính quốc gia, 10 ngân hàng có tỷ lệ dư nợ cho vay bất động sản và xây dựng lớn nhất đã mang trên mình số dư nợ cho vay đến 147.000 tỷ đồng.

Nhưng có lẽ đó chưa phải là con số cuối cùng. Bởi nếu căn cứ vào số dư nợ cho vay 348.000 tỷ đồng của Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia và khả năng “biến mất” đến 50% như giới phân tích và bản thân một số ngân hàng thừa nhận về tình trạng nợ khó đòi, thì số nợ xấu bất động sản thực tế có thể lên đến 170.000 tỷ đồng.

Cũng lại diễn ra một đánh giá ngoại biên. Vào đầu năm 2013, trong bối cảnh thị trường bất động sản Việt Nam vẫn còn chìm trong cơn mộng du chưa sáng trời, sự xuất hiện của John Sheehan – thành viên của tổ chức giám định bất động sản hoàng gia Anh (FRICS) tại đất nước này có thể được ví như hình ảnh của “kẻ gieo rắc nỗi sợ hãi”.

Được giới thiệu là người có kinh nghiệm nghiên cứu về 4 chu kỳ phát triển và suy thoái của kinh tế châu Âu và các giai đoạn sụp đổ, phát triển của thị trường bất động sản ở 25 quốc gia trên thế giới, “kẻ gieo rắc nỗi sợ hãi” đã dành cho thị trường Việt Nam một lời bình đặc biệt: “Tôi chia thị trường thành ba giai đoạn: sau khi xảy ra khủng hoảng gọi là giai đoạn phủ nhận, thường khoảng 2 năm; giai đoạn xử lý vấn đề nợ xấu mất khoảng 4 năm; cuối cùng là khi thị trường phục hồi, mất chừng 6 năm. Việt Nam đang ở nấc “phủ nhận””.

Theo kinh nghiệm của John Sheehan, tỷ lệ nợ xấu thực bao giờ cũng cao gấp ít nhất 4 lần con số báo cáo. Với trường hợp Thái Lan vào năm 1996, người ta công bố tỷ lệ nợ xấu là 5%, nhưng đến khi khủng hoảng con số này đã nhảy vọt đến 50%. Hoặc trong trường hợp Irland, nếu năm 2007 nợ xấu được công bố với tỷ lệ 8% thì đến năm 2010, tỷ lệ này đã tăng đến 30% trong bối cảnh khủng hoảng tràn ngập.

Ông Nguyễn Văn Đực, Phó giám đốc Công ty địa ốc Đất Lành tại TP.HCM, cũng cho báo giới biết hiện có một lượng hàng tồn kho cực lớn đến khoảng 200.000 căn hộ trên cả nước, mà vì nhiều lý do doanh nghiệp không phản ánh đúng, còn cơ quan quản lý lại thống kê khoảng 40.000 căn chỉ theo kê khai của doanh nghiệp vào, tức chỉ bằng 1/5 thực trạng.

Với trường hợp Việt Nam, tỷ lệ nợ xấu bất động sản được các ngân hàng thương mại báo cáo thường dao động từ 5-8%. Nhưng vào cuối năm ngoái, trong khi giới chuyên gia bất động sản bắt đầu nói toạc ra rằng có đến 50% nợ bất động sản là nợ khó đòi hoặc không thể đòi được, thì một trần thuật của cơ quan thanh tra thuộc Ngân hàng nhà nước đã ước tính tỷ lệ này nằm vào khoảng 40%.

Gần đây, một chuyên gia tài chính của Việt Nam là tiến sỹ Nguyễn Trí Hiếu cũng nhận định về tỷ lệ nợ xấu: “Trong trường hợp xấu nhất theo con tính của tôi là 20%, trên tổng dư nợ 2 triệu tỷ đồng là vào khoảng 540.000 tỷ đồng, tương đương với khoảng 27 tỷ USD. Cũng có nghĩa là tương đương với khoảng 20% trên GDP của chúng ta”.

Nhưng ngay trong quý 1/2013, thống đốc Nguyễn Văn Bình lại bất ngờ “ép” tỷ lệ nợ xấu trong ngành ngân hàng từ 8,8% về còn 6%. Ngay lập tức, thái độ biến ảo này làm cho báo chí, dư luận và giới chuyên gia phản biện bày rộ lên không ít nghi vấn về một hiện tồn nội tình quá rối ren cùng thái độ quay quắt khó có thể chấp nhận.

Đẩy nợ cho tương lai!

“Tôi nghĩ rằng, con số 6% mà hiện tại chúng ta đang có được điều chỉnh bởi một số khoản nợ được cơ cấu lại theo quy định của ngân hàng Nhà nước” – ông Nguyễn Trí Hiếu dẫn giải – “Năm 2012, Ngân hàng nhà nước cho phép một số tổ chức tín dụng cơ cấu lại nợ. Nếu doanh nghiệp và người vay có khả năng phục hồi, báo cáo tài chính minh bạch, thì ngân hàng nhà nước cho phép cơ cấu lại nợ, nghĩa là được giảm nhóm từ nhóm 5 xuống nhóm 4, nhóm 3 xuống 2, hoặc là 2 xuống 1. Chính điều này là nguyên nhân lớn khiến giảm tỷ trọng nợ xấu rất lớn ở trong ngành ngân hàng”.

Diễn giải có tính ẩn ý của ông Hiếu cần được đối chiếu với thực tế. Vẫn mang tư thế của nhóm đặc quyền, các ngân hàng thương mại cổ phần đã được Ngân hàng nhà nước đặc cách “hướng dẫn tái cơ cấu nợ vay” bằng một văn bản vào tháng 4/2012. Sau văn bản này, có khoảng 250.000 tỷ đồng đã được “sắp xếp lại”, với cách làm sao để nợ xấu chưa thể trở thành nợ nguy cơ trực tiếp, qua đó giúp cho nhiều ngân hàng và doanh nghiệp con nợ tạm tránh thoát sự đe dọa cận kề.

Nhưng trong con mắt của giới phân tích về ngân hàng, hành động trên chỉ là cách “đẩy nợ cho tương lai”. Về bản chất, nợ xấu nói chung và nợ xấu bất động sản vẫn không thay đổi, nếu không muốn nói là còn tăng lên theo thời gian do nhiều con nợ đến hạn phải trả nhưng lại không thanh toán được. Do vậy, phương châm “đẩy nợ cho tương lai” chỉ đắc dụng một khi các con nợ tìm cách tiêu thụ được hàng tồn kho và trả được nợ.

“Vấn đề hiện nay là phải xem đã có bao nhiêu doanh nghiệp được cơ cấu nợ đã có khả năng phục hồi tình trạng tài chính của mình và trả nợ cho ngân hàng” – chuyên gia Nguyễn Trí Hiếu tiếp tục dẫn giải – “Tôi đã được đọc một báo cáo của Ngân hàng nhà nước vào cuối năm 2012 cho biết rằng số nợ xấu nếu cộng cả những nợ được tái cơ cấu thì lên đến khoảng 17,21% của tổng dư nợ. Như vậy, những nợ được cơ cấu đó nếu không thực sự được phục hồi thì cho đến thời điểm này (2013), nợ xấu có thể lên đến 20% trên tổng dư nợ. Đây là ngưỡng mất an toàn”.

Vậy tình hình một năm qua, từ lúc văn bản “tái sắp xếp nợ vay” của Ngân hàng nhà nước được triển khai, đã “an toàn” đến mức nào? Điều không thể đáng buồn hơn là mọi chuyện dường như vẫn không hề thay đổi. Nói cách khác, “thời điểm Minsky” – một khái niệm trong tài chính quốc tế về đáo hạn nợ vay – đang đến rất gần, nhưng tình thế vẫn chưa có chút nào khả quan.

96% là tỷ lệ sụt giảm lợi nhuận của các ngân hàng trên địa bàn TP.HCM trong năm 2012 so với năm trước đó. Sự công bố được coi là chấn động này – đến từ chính Ngân hàng nhà nước chi nhánh tại TP.HCM – đã lần đầu tiên xác nhận cái được gọi là nguy cơ không chỉ còn phôi thai: sẽ có nhiều ngân hàng “băng hà” vào cuối năm 2013 nếu không tự giải quyết được “món nợ xương máu” từ thị trường bất động sản. Hơn thế nữa, hình ảnh chết chóc có tính dây chuyền của ngân hàng lại có thể dẫn đến sự sụp đổ của nền kinh tế, vốn chỉ còn chân đứng rất mong manh.

“Tôi tin rằng vấn đề xử lý nợ xấu có lẽ phải ít nhất là 5 năm nữa, một chặng đường rất dài chứ không phải chỉ đến năm 2015” – chuyên gia Nguyễn Trí Hiếu khẳng định.

Sau 9 tháng “lobby”, cho đến nay mô hình công ty quản lý tài sản quốc gia vẫn đang tắc nghẽn bởi mục đích tự thân của nó. Theo cách đánh giá của Vụ pháp luật dân sự – kinh tế thuộc Bộ tư pháp, công ty này mới dừng ở việc xử lý nợ giữa các tổ chức tín dụng với nhau, trong khi mối quan tâm hiện nay là xử lý nợ xấu giữa doanh nghiệp và tổ chức tín dụng vì nợ xấu và hàng tồn kho đang tập trung rất lớn ở các doanh nghiệp.

Dĩ nhiên, mục tiêu chỉ xử lý nợ xấu cho các tổ chức tín dụng sẽ không thể làm người ta nghĩ khác về động cơ chỉ “cứu” ngân hàng – một nhóm lợi ích đặc thù đã làm mưa làm gió ở Việt Nam trong những năm gần đây.

Bù lỗ vào dân: “Trận đánh đẹp” tiếp diễn?
Phạm Chí Dũng Gửi cho BBC tiếng Việt / ABS 04 – Thông điệp của Bộ công thương như một sự thách thức đối với dư luận. Nhưng “Không tăng giá điện vào tháng 4/2013” không có nghĩa là giá điện sẽ không được đẩy lên vào những tháng sau đó, thậm chí ngay vào tháng 5/2013, trùng với kỳ họp Quốc hội diễn ra.

Đánh úp! Trong nhiều lần trước đây, hành động tăng giá xăng dầu và điện thường diễn ra theo quy trình từ dưới lên, tức phải có văn bản đề nghị từ Petrolimex và Tập đoàn điện lực Việt Nam (EVN), sau đó cơ quan chủ quản là Bộ công thương mới “hiệp thông” với một cơ quan khác là Bộ tài chính để quyết định (…)

Nợ xấu tại Việt Nam “đáng sợ và đáng ngờ”
(vneconomy.vn) – Con số rất đáng sợ, song sự giảm mạnh của nợ xấu theo công bố mới nhất lại được cho là… đáng ngờ… Tốc độ tăng và mức độ là trầm trọng, nhưng biện pháp nào được coi là hữu hiệu để xử lý nợ xấu trong bối cảnh hiện nay lại là câu hỏi không dễ trả lời.

Đáng sợ và đáng ngờ là thông điệp được đưa ra ở hầu hết các đề cập về nợ xấu trong không ít tham luận tại Diễn đàn Kinh tế Mùa xuân 2013 do Ủy ban Kinh tế Quốc hội tổ chức tại tại Nha Trang (Khánh Hòa) trong hai ngày 5 và 6/4.

Theo phân tích của TS. Trịnh Quang Anh (Tập đoàn Đầu tư phát triển Việt Nam), nếu cộng cả những khoản nợ xấu tiềm tàng, gồm nợ khoanh, nợ được cơ cấu lại theo Quyết định 780/QĐ-NHNN và nợ được cơ cấu lại của Vinashin, Vinalines, tổng nợ xấu ngân hàng được ước tính sẽ vọt tới tầm nửa triệu tỷ đồng.

Con số tương đương 18% tổng dư nợ tín dụng, gần 10% tổng tài sản toàn hệ thống hay khoảng 17% GDP danh nghĩa 2012 này được tác giả bản tham luận nhấn mạnh là “đáng sợ”, dù rất có thể còn trầm trọng hơn trong thời gian tới.

Không khó để có thể đồng cảm với cảm giác đó, bởi một năm trước, tại Diễn đàn Kinh tế Mùa xuân 2012, chính ông Quang Anh đã đưa ra con số ước tính, nếu hạch toán đúng và áp dụng chuẩn quốc tế về phân loại nợ, nợ xấu ngân hàng thực chất sẽ đạt tới mức ít nhất là 10% tổng dư nợ cho vay nền kinh tế, tức khoảng trên 10 tỷ USD, chiếm gần 10% GDP hiện hành của Việt Nam.

Cho dù một bức tranh toàn diện về thực trạng nợ xấu ngân hàng chưa bao giờ được đưa ra, thì theo vị chuyên gia này, các con số nói trên cũng đã là một minh chứng mạnh mẽ để giải thích tại sao tín dụng cho nền kinh tế rơi vào đình trệ, thanh khoản hệ thống ngân hàng bất ổn và nền kinh tế chìm sâu hơn trong suy thoái.

Con số rất đáng sợ, song sự giảm mạnh của nợ xấu theo công bố mới nhất lại được cho là… đáng ngờ (…)

Bất thường trong thống kê kinh tế Việt Nam
Thanh Trúc ( RFA ) – Tại hội nghị có tên Diễn Đàn Kinh Tế Mùa Xuân vừa qua ở Việt Nam, những nghịch lý và bất thường trong các số liệu thống kê về kinh tế một lần nữa được các chuyên gia cảnh báo là chẳng những che dấu hiện trạng yếu kém mà còn làm chậm tiến độ tái cơ cấu kinh tế vốn đã quá trể nãi lâu nay.

Tại cuộc họp vừa qua của Diễn Đàn Kinh Tế Mùa Xuân mà báo chí trong nước dẫn lời các chuyên gia kinh tế rằng nếu cứ vẽ cứ nặn ra những số liệu cho đẹp thì không thể có sự hiểu biết đúng đắn về hiện trang kinh tế đang mạnh yếu ở mức độ nào để có phương án cứu chữa khi con bệnh kinh tế trở thành di căn và bộc lộ ra ngoài.

Các chuyên gia nêu nhiều thí dụ cụ thể, điển hình như công thức tính GDP để đưa ra số liệu 4,89% GDP ở Quí Một, là không thuyết phục. Điểm bất hợp lý thứ hai là sự nghịch lý giữa các số liệu thống kê về xuất khẩu tăng tương quan với CPI chỉ số giá tiêu dùng bình quân Quí Một năm nay so với cùng thời gian năm ngoái …vân vân..

Theo chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh, số liệu được công bố nếu không chính xác sẽ chẳng giúp ích gì cho ai, có chăng chỉ để các cấp, các ngành khen lẫn nhau thôi (…)

Chúng ta buộc phải "cắn bút"!?
Gs.Ts Nguyễn Trường Tiến ( BVB ) – Những kẻ sĩ, nông dân và người lính biết càng nhiều, sẽ càng buồn nhiều. Hôm nay tôi được các phóng viên hỏi vì sao có nhiều công trình bị hư hỏng, nhiều công trình bị lún nứt và phải chờ lún?

Tôi có nói rằng do các kỹ sư, các nhà quản lý lãnh đạo thiếu đạo đức nghề nghiệp, thiếu kiến thức, thiếu kỹ năng, thiếu cái sự BIẾT và NGỘ. Mọi việc làm của họ (đối với các công trình như thế) là vì đồng tiền, không hề vì trách nhiệm. Họ đang gieo nhân quả xấu. Gieo gió sẽ gặp bão. Sống xấu xa, chết làm ma vật vờ hồn phách…

Vào bệnh viện có biển nào đề “Bệnh nhân chờ chết” đâu? Sao lại có con đường, công trình, đập nước phải chờ chết??

Nhiều nhà khoa học, kỹ thuật, công nghệ, chuyên gia giỏi, chỉ được đến ‘khám nghiệm tử thi, mổ pháp y’ khi công trình đang chờ chết hoặc đã chết. Những người kỹ sư chuyên nghiệp đều phải dừng bước trước các kỹ sư và nhà quản lý không chuyên nghiệp, hoặc kỹ sư rởm.

Chúng ta cứ phân đấu có trên 20.000 TS giấy, lại không cần 20.000 kỹ sư chuyên nghiệp. Giá thành công trình của Việt Nam cao gấp 2-3 lần giá quốc tế.

Thực trạng đó bộc lộ rõ cái “mục tiêu phấn đấu”, những “tiêu chí” đặt ra đều vì các loại lợi ích nhóm và không thể kiểm soát được. Chúng ta thiểu hẳn các tiêu chuẩn, thiểu cả luật về kỹ sư chuyên nghiệp theo thông lệ quốc tế. Những con người không đạt tiêu chuẩn, làm sao tạo nên các công trình đạt tiêu chuẩn? Nhưng cái ‘trình độ, năng lực’ và cả kinh nghiệm giỏi nhất của họ là chạy mánh đánh quả, là đi dùi để nhảy vào các công trình đầu tư nhiều tiền của nhà nước, những công trình trọng điểm, “nặng Đô”. Điều này ai cũng biết.

Những người không biết, lại lãnh đạo những người biết. Những người biết bị những người không biết sai khiến. Những người đi sai khiến bị đồng tiền sai khiến… Sự giả dối tràn lan, cáí xấu thắng cái tốt, cái dốt thắng cái giỏi, mỡ ôi quý hơn miếng nạc, cái ác thắng cái thiện, đồng tiền luôn luôn ngự trị thế ‘thượng phong’ mọi chỗ, mọi ngõ ngách. “Gà cùng một mẹ cứ đá nhau". Tổ tiên, Tổ Tông, những anh linh của Phật, Thánh, Thần, Mẫu đều buồn lắm. Và rồi các đấng siêu hình cao vời ấy cũng buồn, bất lực, cũng đành …ngoảnh mặt quay đi! Không phải chỉ người đang sống buồn và bất lực đâu.

Nguyên nhân của sự buồn và cả bó tay là do không biết nguyên nhân? Chắc chắn không phải ? Phải chăng xem cái gôc, cái căn nguyên dẫn đến hệ lụy của hệ tư tưởng sai, sự lựa chọn Đạo Đức và Đường Đi sai. Họ cứ việc tùy tiện, hoặc cố tình, ra một đề toán thiếu hẳn các yếu tố, các cơ sở khoa học, thiếu các công thức từ trong bản chất lý luận, và thiếu cả những điều kiện cho phép rồi bắt cả thiên hạ trần thân phải giải, phải tìm ra nghiệm số. Người ra đề và người có quyền "bắt làm toán" đều không hiểu gì về toán học. Nhưng họ lại đầy quyền lực để nêu lên các ẩn số, X,Y,Z.., kể cả các bất phương trình. Cuối cùng suốt mấy chục năm trời, cả xã hội đành “cắn bút”. Vì vậy đã lựa chọn sai người lãnh đạo, nhà quản lý và người có quyền lực thì hậu họa khôn lường!

Buồn, bất lực thế, nhưng rồi chúng ta vần có thể tìm (nơi đâu đó) những việc cụ thể, có ý nghĩa cho cộng đồng, mang lại các giá trị, có thể kiểm soát được, để mà “túc tắc làm”. Phải chăng, thôi đành, tự cầm lòng để đừng buồn, khi vẫn có việc mang lại niềm vui?.
N.T.T (Chủ tịch Hội Cơ học và Địa kỹ thuật Việt Nam)

ABS 09/4/2013Vì sao học sinh không thích học lịch sử? (RFA). “Tôi nói chuyện với một số giáo viên dạy sử thì họ nói chúng em dạy sử cũng chán vì môn sử nói một chiều nhiều quá, toàn nói cái hay, trận nào Việt Nam cũng thắng, địch thua mà trên thực tế thì ta chết nhiều hơn địch”. Mời xem thêm bài của Ba Sàm từ 6 năm trước: Từ chuyện buồn học sinh không thích môn Sử (talawas/ Tia sáng). – Khi học sinh quay lưng với Lịch sử… (Nguyễn Duy Xuân).

Có cái gì hao hao hành động nổ súng của gia đình anh Vươn, ở chỗ luôn bị cái hệ thống “khuôn phép” của chế độ tìm cách lên án để tự biện hộ cho căn nguyên từ bản chất tệ hại của nó, hành động của các học sinh lần nữa báo động tình trạng không thể chấp nhận được của cả hệ thống giáo dục và nghiên cứu lịch sử suốt hàng chục năm nay. Người lớn và người “lớn quyền” dường như chỉ lăm le răn dạy, chỉ trích lớp trẻ, không chịu thừa nhận chính họ mới là những kẻ tội đồ chính.

Ấy thế mà thật lạ, không biết có chính xác những nội dung GS Nguyễn Minh Thuyết nói ra hay không, khi ông đặt vấn đề về “ý thức chính trị” với con trẻ, và không thừa nhận phải xem xét “phản ứng này là hệ quả của việc môn Lịch sử không được học sinh yêu thích vì nó vốn dĩ khô khan mà thầy cô giảng dạy lại không biết cách làm cho học sinh yêu thích nó.” – GS Nguyễn Minh Thuyết: Vụ xé đề cương Lịch Sử: Bức xúc vì ý thức văn hóa thấp!(Infonet).

Đọc đoạn dưới của bài viết vừa trích dẫn vừa “tóm lược” ý kiến của GS NMT thì thấy có lẽ báo Infonet đã cố tình diễn giải sai: “Còn chuyện đánh giá môn Lịch sử và thái độ của học sinh đối với môn học thì đó lại là câu chuyện khác”.

Và … có thể đi đến một kết luận từ đây, rằng bản chất chế độ cộng sản là nó luôn tìm mọi cách, tận dụng mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội, như lịch sử, giáo dục, … coi như một thứ công cụ để củng cố sự tồn tại của chế độ, bất cần sự thật và tri thức – những thứ tối cần thiết cho phát triển đất nước…

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.