Khi không có dân để lãnh đạo

Posted: April 21, 2013 in Uncategorized
Tags:

Nguyễn Tường Thụy's Blog – Chuyện trên hành tinh Alpha

Hưng Việt là một quốc gia bán đảo ở hành tinh Alpha theo chế độ quân chủ lập hiến do đảng Gama lãnh đạo. Nền kinh tế nước này chậm phát triển, công nghệ mới chỉ làm được chiếc xe ngựa bằng gỗ, bánh cao su. Các thiết bị, phương tiện hiện đại như, ô tô, xe lửa, tàu thủy … đều phải mang lúa, quặng đổi cho nước ngoài mà có.

(Xem thêm: Nghèo phổ biến, Dốt đại trà vì lãng tránh Sự Thật – An thần – Những cái ‘VÌ’ trong Báo Cáo Láo) …


Thực ra, vào giữa thế kỷ trước, so với các nước trong khu vực thì Hưng Việt là quốc gia đáng nể, nhiều nước thèm thuồng có được “Hòn ngọc cực nam” – một thành phố buôn bán sầm uất của Hưng Việt. Chỉ sau khi nhà vua thực hiện chính sách cai trị học được của một nhà quái luận dưới Trái Đất thì nước này mới bị tụt hậu so với thiên hạ.

Phép cai trị của nhà vua là thực hiện song song chính sách bàn tay sắt và bàn tay nhung. Tuy vậy, chính sách này không sử dụng theo kiểu lá mặt lá trái mà rất rõ ràng, nhất quán. Bàn tay nhung dùng để vuốt ve, che chở, khuyến khích đám quan lại, lính lệ hăng hái làm việc còn bàn tay sắt dùng để trị dân đen. Với chính sách này, ngai vàng của nhà vua qua nhiều chục năm vẫn chưa hề suy chuyển. Chính sách này của nhà vua khiến từ quan đến lính đều chịu ơn sâu, trung thành tuyệt đối.

Đám quan lại được thể tha hồ bóc lột dân nghèo. Dân bị đè nén áp bức nhiều quá, lời oán thán khắp nơi.

Đám lính lệ ngày càng trở nên kiêu binh. Chúng bảo nhau “Còn vua còn mình” và yên tâm làm tất cả những gì chúng thích mà không sợ bị nhà vua quở phạt. Có tên say máu đánh chết người vì lỗi rất vớ vẩn là không đội nón để bảo vệ sức khỏe của mình trước các tia phóng xạ trong vũ trụ, nhà vua cũng chỉ bỏ tù 4 năm lấy lệ. Quan Bộ Hình bảo, tội ngươi quá rõ ràng không bỏ tù không xong nên không thể tha bổng. Ngươi cứ yên tâm ở tù một hai năm rồi quốc vương sẽ tìm cách đặc xá. Ta sẽ chỉ đạo bọn quản giáo, đại bàng để chúng không dám động đến ngươi. Nhớ vợ thì hàng tuần ta cho gặp 24 giờ. Như vậy, ngươi có ở tù cũng như là không mà lại bịt được mắt dân.

Vì thế, chẳng tên nào ngán luật vua, cứ thích bắt ai là bắt, giết ai là giết. Có ai khuyên giải, phân tích đúng sai thì chúng bảo: Luật vua là cái đéo gì. Luật là tao đây này.

Dân chúng thấy thế, ai cũng sợ.

Chuyện lính lệ bắn giết dân xảy ra như cơm bữa. Nhiều người bị lôi vào đồn hôm trước, hôm sau thấy quan Bộ Hình loan tin vì sợ tội mà tự tử.

Mặc dù vậy, sự phản ứng của dân chúng ngày càng lên cao. Họ bị quan lại cướp ruộng vườn, không chống trả được thì cởi truồng ra giữ đất, hy vọng nhà vua sợ xấu mặt mà chùn tay. Lại có mẹ của một tù nhân, vì con bị kết án oan nên tự thiêu để phản đối. Hôm sau, thấy bộ Hình thông báo rằng bà ấy vì tranh giành đất với hàng xóm nên tự thiêu chứ không bất bình gì về chuyện nhà vua bỏ tù con mình cả. Việc con gái bà bị kết án 10 năm do can tội viết blog là đúng pháp luật.

Hán Quốc là nước láng giềng rộng lớn, chuyên bắt nạt các nước nhỏ, nhất là các quốc gia có chung biên giới. Nhân khi Hưng Việt có chuyện nội bộ, bèn đem chiến thuyền ra chiếm đảo. Dân chúng phẫn nộ kéo nhau đến kinh thành biểu tình phản đối. Nhà vua sợ Hán Quốc nổi giận đem quân vào đất liền như dạo trước, bèn bắt hết dân biểu tình nhốt lại.

Từ khi lập quốc, Hưng Việt chưa bao giờ bất an như thế.

Một hôm vua ngự triều, hỏi các quan:

– Tình hình đất nước bây giờ lòng dân không yên, biểu tình khắp nơi, dân chúng bày ra rất nhiều cách để phản đối Hoàng gia. Bây giờ làm thế nào?

Quan Bộ Hình thưa:

– Tâu bệ hạ, người ta có câu “bạc như dân”. Nhờ ơn đổi mới của nhà vua, một bộ phận không nhỏ đã có cơm ăn, áo mặc. Nhưng chúng có bao giờ thỏa mãn. Được ăn no rồi lại còn đòi dân chủ với tự do. Tự do cái con củ cặc.

Biết lỡ lời, quan Bộ Hình thè lưỡi, rồi tự bịt miệng lại, vả vào mình mấy cái, mặt tái mét lo bị tội khi quân. Ông này xuất thân từ đám giang hồ, được vua chiêu dụ về trông coi việc hình trong triều nên nói năng không tránh khỏi lỗ mãng nhưng được cái nhiệt tình hăng hái nên nhà vua vẫn tin dùng.

Nhà vua đang mải lo chuyện lớn nên không chấp. Mặt khác, vua cũng là đấng minh quân nên hiểu quan lại ăn nói quá trớn cũng do mình nuông chiều quá mà ra nên không nỡ quở trách.

Nhà vua băn khoăn:

– Nhưng mấy năm nay, quân lính đánh chết dân, các khanh cướp bóc của dân nhiều quá, trẫm sợ lòng dân căm phẫn mà nổi loạn,

Quan Bộ Hình trấn an vua:

– Muôn tâu, phép trị dân phải cứng rắn, không được mềm lòng. Vừa qua, ta có làm chết vài chục mạng cũng chẳng qua do sơ suất cả. Khi thần cho lính tráng bắt kẻ phạm tội vào đồn, đứa thì tự nhiên biểu hiện sức khỏe không bình thường, động khẽ vào là lăn ra chết, có đứa chết là do súng cướp cò, có đứa trọng tội, sợ quá nên tự tử. Bệ hạ cai trị dân mà mủi lòng thì ngai vàng sao có thể muôn thuở được. Ta lại có lực lượng chuyên chính mang tên nhân dân, sợ gì. Hán Quốc là nước lớn, lại chung hệ tư tưởng với ta. Mấy hòn đảo bé tẹo chẳng qua chỉ là mấy bãi chim ỉa, bạn có trót lấy thì có đáng gì, sau này thế giới đại đồng thì cũng thành của chung cả. Chẳng qua thế lực thù địch lợi dụng việc ấy mà làm ra to chuyện. Việc nhà vua cho bắt nhốt so với cách làm của Hán Quốc là quá nhẹ. Trước đây, bạn đem cả đại bác, xe tăng dẹp đám sinh viên biểu tình, cán nát hàng nghìn tên nổi loạn thì đã có sao đâu. Vừa rồi, bạn thu hồi đất, dân nghe bọn phản động xúi giục, ra phản đối, bạn còn mang xe lu cán nát, đầu óc be bét, chân tay đứt rời từng mẩu thì dân chúng làm gì được. Ta cư xử với dân như thế là nhân đạo lắm rồi.

Quan cơ mật viện thưa:

– Việc dân chúng đòi hỏi là do mắc âm mưu diễn biến hòa bình. Trước đây chúng có biết dân chủ với tự do là cái gì đâu. Nước Cờ Hoa từ khi bị ta đánh bại vẫn còn hận lắm. Hồi thua chạy, chúng tuyên bố lúc này không đánh được ta thì chúng sẽ đợi khi lứa chúng ta chết hết sẽ ra tay, không đánh cũng thắng. Bây giờ thì thế hệ nòng cốt toàn sinh sau chiến tranh cả, chúng nghĩ khác chúng ta lắm. Còn mấy tay cựu chiến binh đứa nào còn sống thì cũng đã già nua, đánh đấm gì.

Nhà vua lo lắng:

– Tình hình như vậy là quá bất ổn. Không thể tiếp tục cách cai trị cũ được. Các khanh tính sao?

Quan cơ mật viện hiến kế:

– Thần trộm nghĩ, nếu dân không thích cho nhà vua cai trị thì cho chúng tự do để vua khỏi mang tiếng áp bức dân. Trước hết là phân loại dân, lấy một nửa ít lòng dạ với nhà vua nhất cho chúng về phía Nam xem không có nhà vua cai trị thì chúng nó sống như thế nào. Nửa còn lại cho ở với nhà vua. Dân chúng ở phía Nam ai một lòng với vua thì cũng cho ra Bắc. Dưới sự trị vì tài tình sáng suốt của nhà vua, lại được các quan lại toàn tiến sĩ cử nhân thấm nhuần chủ nghĩa đại đồng, tức là toàn đỉnh cao trí tuệ giúp việc, bọn bất đồng chính kiến không còn, lo gì mà nước ta không hùng mạnh. Còn bọn thích tự do chắc chỉ cùng lắm được một năm là chúng sẽ chán. Bọn chúng dân đen, rặt quân ngu si, ít học, không có nhà vua dẫn đường chúng tìm đâu ra ánh sáng. Chẳng chóng thì chầy chúng lại quay về xin được nhà vua chăn dắt mà thôi. Lúc ấy có cho kẹo thì chúng cũng không dám ho he đòi tự do dân chủ gì nữa.

Vua cho là phải, đồng ý chia đất nước làm hai miền. Ngài cho 43 triệu dân tự nguyện xuống phía Nam, lựa 43 triệu ở lại với mình. Lạ kỳ thay, trong số ra đi có tới hơn một nửa trí thức của đất nước. Số non nửa trí thức còn lại thì toàn là bằng mua cả.

Mấy chục năm sau, chẳng hiểu bằng cách nào, Nam Hưng Việt (lúc này đã đổi tên thành Nam Quốc) trở thành quốc gia phát triển nhất khu vực. Từ chỗ chỉ chế tạo được chiếc xe ngựa kéo, nền kinh tế của Nam Quốc đã đi những bước thần kỳ. Các ngành chế tạo máy, ô tô, công nghệ thông tin … phát triển với tốc độ phi mã, xuất khẩu sang các nước khác trên hành tinh mỗi năm thu về vài chục tỉ Alpha tệ. Họ dự kiến trong 10 năm nữa, khi công nghiệp hàng không vũ trụ phát triển sẽ tính đến chuyện xuất khẩu hàng hóa xuống Trái Đất.

Còn Bắc Hưng Việt, quan quân sống dư dật được mấy năm đầu do kho bạc còn tích trữ được. Vua quan lính tráng suốt ngày đi hát karaoke, gối đùi gái tơ, vui vẻ lắm. Không còn ai đòi dân chủ với tự do, không còn ai biểu tình. Cánh blogger hay bới móc cũng theo đám dân thích tự do đi xuống phía Nam cả. Tình hữu nghị với bạn láng giềng phương Bắc lại thắm thiết như môi với răng.

Nhưng rồi của kho mãi cũng cạn. Dân Bắc Hưng Việt toàn dòng dõi nhà quan nên không quen lao động. Nhóm tiến sĩ từng có công trình nghiên cứu về cây lúa nước được vua ban tặng giải thưởng Hoàng gia định áp dụng làm cuộc cách mạng xanh để cải thiện tình trạng thiếu lương thực nhưng lại không biết mặt mũi cây lúa nước ra làm sao. Chỉ có nông dân thì biết nhưng chẳng lẽ tìm vào Nam Quốc mời họ ra chỉ để làm mỗi việc nhận mặt cây lúa.

Nghề mà Bắc Hưng Việt thạo nhất là nghề lãnh đạo và sản xuất nghị quyết thì nội địa không dùng tới vì dân số toàn là quan lại, có xã bé tí cũng có tới 500 quan lớn nhỏ. Nghị quyết chỉ để lãnh đạo dân thường mà dân thường thì không có. Có viên quan đề xuất với nhà vua xuất khẩu công nghệ lãnh đạo và sản xuất nghị quyết sang các nước để thu ngoại tệ nhưng làm marketing mãi vẫn không ký được hợp đồng nào. Đồng ruộng bỏ hoang hóa, các nhà máy thu hẹp sản xuất. Đám quan lại thoái hóa biến chất nhân cơ hội liền tháo dỡ nhà xưởng, tàu thuyền của các quả đấm thép đem bán sắt vụn. May mà dân Nam Quốc đã tự nguyện trả món nợ 50 tỉ Alpha tệ mà Hưng Quốc vay của nước ngoài trước đây nên bớt đi nỗi lo trả nợ. Nam Quốc hàng năm còn viện trợ nhân đạo cho Bắc Hưng Việt mấy trăm nghìn tấn gạo nên cũng giải quyết được phần nào nạn đói. Nhưng điều đáng lo hơn cả của Bắc Hưng Việt là không có dân để chăn dắt. Nỗi đau khổ này còn hơn cả không có cơm ăn, áo mặc. Họ chờ, chờ mãi không thấy Nam Quốc cử người ra mời họ vào lãnh đạo. Nhà vua định đem quân giải phóng Nam Quốc với mục tiêu chiếm ít của cải và nhất là chiếm lấy mươi triệu dân để lãnh đạo cho đỡ nhớ nghề nhưng đất nước lúc này toàn quan, không ai quen đánh trận cả.

Trên mạng internet có một bức ảnh chụp từ vệ tinh vào ban đêm. Nghe nói phần ít ánh sáng là quốc gia anh em sinh đôi với Bắc Hưng Việt. Thông tin này chưa được kiểm chứng

Nghèo phổ biến, Dốt đại trà vì lãng tránh Sự Thật
Nguyễn Hoàng Đức (Nguyễn Tường Thụy's Blog) – Dù nói bay bướm, hay diễn văn hào hùng thế nào chúng ta cũng không thể lảng tránh sự thật nước Việt đang lạc hậu nghèo đói, các chỉ số văn minh, nhân bản, kinh tế đang ở mức tụt hậu nhất thế giới, ngay với các nước trong khu vực cũng thua cả dăm thập niên hay một thế kỷ. Một túi rác vứt bừa bên hè phố ở Hàn Quốc hay hay Đài Loan, người ta nghĩ ngay đó là những cô dâu người Việt, tại sao? Vì trước khi có các cô dâu Việt sang tá túc, người ta không có thói quen làm vậy. Một ổ trồng cần sa bằng đèn điện ở Tây Âu bị phát hiện nghi vấn đầu tiên lại hướng về người Việt, tại sao?Vì dường như chỉ có người Việt là thích hợp sống trong bóng tối bị giam cầm như gà vịt. Rồi các vụ án giam cầm người đồng hương dưới hầm đất để may mặc bị chết thui như chuột vỡ lở, cảnh sát Nga đến gần lại thấy ngay đó là những người mang quốc tịch Việt Nam, và người ta hoàn toàn tự nhiên đặt câu hỏi: phải chăng chỉ có người Việt mới tụt hậu lầm lũi cam chịu sống gian tà phi nhân độc ác đến vậy? Câu hỏi này nêu lên thực ra là một cách tế nhị. Đúng ra, các nhà đạo đức đã nói: cái vô tri, tức thiếu hiểu biết bao giờ cũng dẫn tới vô luân. Bởi vì đạo đức luôn bao gồm nhận biết hay và dở, đúng và sai, để người ta biết chọn cái tốt bỏ cái dở. Có những báo cáo quốc tế chính thức nhận định: chất lượng công dân, cũng như tay nghề bậc cao ở Việt Nam là rất thấp, chủ yếu Việt Nam chỉ có lao động cơ bắp đơn giản, giá rẻ.

Trình độ sống của người Việt còn thấp!
"Dân ta đâu có tin nhiều thần thánh! Người ta nô nức đi chùa, đi đền,
không gì khác là để hối lộ thần thánh, mặc cả với thần thánh".

Qua nghiên cứu, chúng ta thấy, cái nghèo, cái lạc hậu, cái dốt nát của người Việt chủ yếu là vì người Việt không có đức tính sống trong sự thật, đối mặt với sự thật. Ngay người Việt cũng đã diễn tả tình trạng dốt nát trong mấy thành ngữ hiện đại như, ở chỗ dân gian thì “ngu lâu dốt bền”, ở nơi công quyền thì “ngu lâu khó đào tạo”.

Sự thật là cội nguồn của sự sống cũng như mọi vấn đề!

Sự thật đơn giản ví như mặt trời. Nó chiếu sáng mọi thứ khiến chúng ta nhìn rõ vạn vật mà không bị vấp ngã, nhưng hơn cả thế ánh sáng dường như chẳng là gì cả mà không có nó thì cây cối dù có được ươm vào đất tốt vẫn cứ lụi tàn rồi chết lịm. Sự thật được coi như vẻ đẹp của tâm hồn con người, giống như mọi người ra tòa án xem xử một vụ tội phạm. Ở đó có bị cáo, bị hại, người làm chứng, và người bị oan… phiên tòa diễn ra khi sự thật được phơi bày, và người bị oan được giải oan, bị cáo bị kết tội tâm phục khẩu phục. Như thế sự thật đã khải hoàn ca bắt kẻ có tội phải chịu tội, giải oan cho người vô tội. Đó là sự tốt đẹp.

Trước kia, tôi cứ nghĩ đơn giản, chân lý hay sự thật chỉ là sự khao khát của đạo đức, nhưng chỉ cách đây mấy ngày thôi, đang khi đọc lại cuốn “Cộng Hòa” của Platon, một cuốn sách kinh điển bậc nhất thế giới, tôi nhận thấy rốt ráo rằng: Sự thật gắn bó mật thiết với con người đến mức, không biết sống sự thật con người sẽ diệt vong. Sự khôn ngoan, giầu có, thịnh vượng hay tiến bộ của mỗi người hay cả dân tộc cũng như thế giới tỉ lệ thuận với việc người ta tiếp cận hay đối mặt với sự thật.

Chúng ta thử hình dung, một đôi giầy dởm – tức không thật, đang lúc người ta leo núi lại bục đế thử hỏi sinh mệnh con người sẽ ra sao? Một đôi giầy đã thế, thử hỏi một chi tiết trong máy bay mà rởm cả máy bay gặp nạn thì bao nhiêu con người nguy vong? Việc này, từ lâu người Trung Quốc đã có câu: “Một móng ngựa hỏng làm ngã con ngựa, con ngựa ngã kéo theo viên tướng, viên tướng thua làm mất một trận đánh, một trận đánh thua làm mất một quốc gia”. Đấy, từ một cái móng ngựa đóng dối có thể làm mất một quốc gia.

Từ xưa triết gia Aristote đã bàn rằng: ngay từ lúc sinh ra con người đã phải trọng sự thật, bởi lẽ, người ta đi vào rừng hái lượm phải biết được quả nào ăn thì no, quả nào ăn thì độc, nếu không người ta ăn phải quả độc sẽ chết. Rồi người ta phải biết lá nào độc, lá nào có thể chữa bệnh, và lá nào thì chữa bệnh gì nếu không đắp lá loét vào vết thương muốn kéo da non thì sẽ thế nào? Thế vẫn chưa hết.

Con người chỉ là con người khi có hiểu biết. Mà hiểu biết chỉ có thể là hiểu biết thực khi nó gặt hái trên những gì hiện thực. Một người nhận biết gỗ khô thì nổi, gỗ tươi thì chìm. Và người ta đóng thuyền bằng gỗ khô. Còn kẻ đóng thuyền bằng gỗ tươi đã nhấn cả đoàn thủy thủ xuống nước?! Tất cả các thợ học việc từ thợ mộc đến thợ giầy, rồi kỹ sư cầu cống, đường xá hay nhà cửa thì chỉ có thể hiểu biết và thực hành qua việc học thật của mình. Ngay cả một người mẹ dạy con gái nấu cơm hoặc món ăn, thì kiến thức cũng như vật liệu như cá thịt phải thật, có vậy cô gái mới biết nấu ăn thật.

Giờ đến người phải mổ, nếu truyền cho người đó máu giả, liệu có sống được không? Mới đây khi bàn về những con số của Tổng cục thống kê, các chuyên gia nói: nếu đưa ra con số giả thì sẽ vô cùng nguy hiểm cho nền kinh tế đất nước. Nền kinh tế của chúng ta giả dụ đang còi dinh dưỡng 80%, nhưng những báo cáo tô hồng lại đánh giá rằng nó chỉ còi dinh dưỡng 30%, kết quả sẽ thế nào? Chúng ta thử hình dung một con bệnh nặng lẽ ra cần truyền 80 mililitre máu, vì báo cáo tô hồng về tình trạng bệnh nhân chúng ta chỉ truyền có 30 mililitre, thì bệnh nhân khỏi hay chết? Thử hình dung việc khác khi cây cầu đã xuống cấp 80%, người ta lại báo cáo có 30%, kết quả là cả một đoàn xe dài đã lao xuống sông vì cầu không chịu được trọng tải?

Thi nhân Tản Đà đã viết một câu thơ thật thấm thía và tầm vóc khi hiểu thấu người Việt

Dân hai nhăm triệu ai người lớn
Nước bốn ngàn năm vẫn trẻ con

Tại sao vậy? Chắc tiên sinh thấy người Việt khó mà trưởng thành khi không dám đối mặt với sự thật. Như chúng ta vừa bàn, không đối mặt trước sự thật, thì không thể có dù thức ăn sạch, kiến thức căn bản, nói gì đến trưởng thành. Người Việt nói chung lảng tránh sự thật và khoa học, ưa những gì phù phiếm thư thơ phú hò hát. Thơ phú hò hát cũng tốt thôi vì nó mua vui giải trí cho cuộc đời, nhưng cuộc đời lúc nào cũng đòi mua vui, cũng lảng tránh sự thật, thì mới yếu ớt nhũn nhẽo vô vị làm sao. Việc hàng nghìn nhà thơ Việt không thể nghĩ ra cốt truyện hay nhân vật cho trường ca đủ thấy kiến thức của họ bấy bớt và ít trưởng thành đến mức nào! Nhạc sĩ thiên tài Schumann có nói: “Bằng bánh ngọt và kẹo những đứa trẻ không bao giờ lớn được, thức ăn tinh thần cũng giống thức ăn vật chất vậy, nó phải giản dị và lành mạnh”. Ở đời cái lành mạnh bao giờ cũng phải thật, thấy sao nói vậy mới là lành mạnh, còn uốn éo vặn vẹo loanh quanh, câu vần nhũn nhẽo ngắn tũn sao mà lành mạnh được.

Phiên tòa là đại biểu cho sự thật và công bằng. Một phiên tòa không thể mở nếu không có nhân chứng hay vật chứng – tức là cái thứ ba ngoài bị hại và bị cáo làm trung gian xác định sự thật. Dân Việt vì lảng tránh sự thật đã khó trưởng thành, dân Trung Quốc cũng vậy vì lảng tránh sự thật họ cũng không trưởng thành vì thế lãnh tụ Tôn Trung Sơn có nói: Trung Quốc chưa từng có các từ tự do, bình đẳng. Trung Quốc chỉ có gia tộc, tông tộc mà không có quốc tộc. Trung Quốc chỉ có các cuộc đấu tranh giành đất đai, ghế và đàn bà mà chưa hề có đấu tranh vì tư tưởng, tự do và tôn giáo. Ngay hiện giờ, khi Trung Quốc từ chối các cuộc đàm phán có người thứ ba tham dự về tranh chấp biển Đông, đủ thấy họ là nước lớn mà ít trưởng thành đến mức nào. Nhiều chuyên gia phương Tây nói: Trung Quốc không bao giờ trở thành một cường quốc, bởi vì muốn trở thành cường quốc thì phải có tư tưởng và tiến bộ, nhưng đó là cái Trung Quốc chưa một lần có.

Không đối mặt trước sự thật sẽ không bao giờ có lý trí, đó chính là cách giải thích tại sao người Việt lại thiếu, yếu và nghèo nàn về lý trí đến vậy, thậm chí người ta còn không có cả thói quen đặt vấn đề để nhìn nhận xem xét bằng lý trí. Người Trung Quốc có câu: “Có lý đi khắp thiên hạ, không có lý không bước qua nổi bước chân”. Người châu Á đặc biệt là Việt Nam tại sao lạc hậu lâu như vậy? Vì chúng ta đâu có lý trí để tiến lên! Chỉ có một chút cảm tính, rồi tư duy bằng thơ ca nhũn nhẽo vần vèo thường trực như nước đường nhạt thếch trên môi, làm sao người Việt có thể xây dựng một nền văn hóa cũng như quốc gia hùng cường cho được. Muốn hùng mạnh tiến bộ ư, nước Nhật thời Minh trị duy tân đã phải hạ bệ thơ ca và nghệ thuật xuống để nâng khoa học và lý trí lên. Còn Việt Nam thì sao, chẳng lẽ chúng ta có thể hùng cường bằng mấy câu thơ mấy bài hát tí tởn mua vui bằng cảm xúc tùm lum này ?

An thần
TP – Sao người ta không gọi nơi điều trị người tâm thần là “Bệnh viện An thần” nhỉ, là thắc mắc đầy bất ngờ của một nữ đồng nghiệp từ hàng chục năm trước.

Bệnh án tâm thần, mua là có
Đất Cảng hiện có hàng chục sát thủ, trong đó có nhiều “ông trùm” vẫn nhởn nhơ ngoài xã hội mà luật pháp không làm gì được, vì nhóm này đang chữa bệnh … tâm thần!

Thật là những kẻ “tâm thần” siêu việt, gây án xong đào thoát ra nước ngoài, tiếp tục chỉ đạo đàn em làm ăn từ xa, tiền bạc thu không thiếu một đồng, công an Việt Nam và nước sở tại cộng với cả lực lượng cảnh sát hình sự quốc tế Interpol toát mồ hôi mới tóm được gáy! Báo Tiền Phong từng khui ra đường dây mua bán bệnh án tâm thần. Nay cứ phải sống chung với đám “người điên” loại ấy, người dân nơm nớp lo sợ, dễ nổi cơn tâm thần thật.

Vừa có chuyện cô gái trẻ nọ bị kẻ cuồng si hằm hè truy sát, hốt hoảng đơn thư khắp nơi kêu cứu, rồi tự mình chạy đến đồn công an xin che chở. Nhưng rồi ngay sau đó vẫn bị tên ác thú chém chết giữa ban ngày, ngay chốn đông người. Những chuyện như vậy, hỏi ai mà định thần cho nổi.

Hô hào rèn kỹ năng sống cho trẻ, kinh phí vẫn đổ ra, nhưng vẫn nhức nhối cảnh học sinh liên tục chết đuối, cứ mỗi vụ lại cướp đi sinh mạng của hàng chục em…

Xã hội đang có biết bao chuyện khiến con người ta thấy thân phận mình thật là bấp bênh, bé mọn. Xã hội dù đã hiện đại, nhưng nhiều lúc vẫn có cảm giác như trong truyện ngắn “Nhật ký người điên” của Lỗ Tấn từ hàng trăm năm trước, lúc nào cũng nơm nớp sợ bị đồng loại ăn thịt.

Bữa cơm, nhìn con cá trên đĩa cũng sợ nó “ăn thịt” mình! Giờ, ra đường, đến trường, về nhà, cho đến thức ăn đồ uống hằng ngày, đâu cũng như thấy căn bệnh “bức hại cuồng” lẩn quẩn xung quanh. Không bằng đao búa thì cũng là hoá chất độc, lừa lọc, dỏm giả, những cỗ xe điên, những “ninja” nửa đêm xuất hiện trên nóc nhà…

Tâm thần là một căn bệnh xã hội. An thần – theo nghĩa được bình ổn tinh thần – là nhu cầu thiết thân của mỗi người. Cũng mong ngày nào đó những nơi chạy chữa người điên được gọi bằng cái tên Bệnh viện An thần, cho nhẹ lòng, dù có thể về nguyên tắc, tên khoa học của căn bệnh tâm thần là không thể thay đổi.

Được an thần, nhưng không phải theo tư tưởng an vi của người xưa, hay an tịnh của Phật pháp, phó mặc buông xuôi. Cũng không phải bằng những cục đá vẽ nhằng nhịt bùa chú, những nắm tiền nhét vào tay tượng Phật, hay những lá ấn, con rắn “thần”…

Tâm thần và an thần, chung quy lại vẫn là cầu hai chữ “an tâm”. Điều đó thì không thể tự người dân nào làm được, nếu không trông đợi, nương nhờ vào bộ máy chính quyền to nhỏ mà họ đang đóng thuế nuôi mỗi ngày.

Những cái ‘VÌ’ trong Báo Cáo Láo
Bùi Văn Bồng – Có lẽ trên thế giới không có nước nào giỏi về nghệ thuật báo cáo như ở nước ta. Các phong trào ‘thi đua yêu nước’, các Lễ phát động thi đua vì này vì nọ rùm beng, việc chấm điểm thi đua cho lên lương, lên cấp, thăng chức… tức là đủ thứ ‘hầm bà làng’ sinh ra báo cáo láo. Ngay như cái môi trường có vẻ cần rất chuẩn mực như giáo dục, nhưng bệnh thành tích cũng gây ra nhiều hậu họa, sinh những hệ lụy nhiêu khê. Sự giả dối, do đó, được dịp để đua nhau phát triển như dịch sâu rầy, bọ xít, lan nhanh hon cả H5N1.

Cái câu “làm láo, báo cáo hay” không còn là sự phê phán, mà đã hình thành lối sống. Này là bằng khen; này, giấy khen; này, chiến sĩ thi đua; này, huân huy chương; này, anh hùng… Đủ mọi thứ bậc để người ta đua nhau báo cáo láo lấy thành tích.

Thực ra, báo cáo láo cũng không đến mức khó kiểm tra, thanh tra, xác minh. Nhưng chính các cơ quan, các cán bộ, các bộ phận chuyên trách tưởng như cái gì cũng ‘thẳng mực Tàu’ ấy cũng gian dối. Để làm gì? Ăn chia, nhận phong bì của Thủ trưởng cơ quan: “Thôi, xí xóa đi, cậu nên ủng hộ cái bằng khen, cái huân chương cho đơn vị mình!”. Thêm nữa, không ít cơ quan chuyên trách công tác thi đua-khen thưởng từ Trung ương đến địa phương, ngành,… cũng là một thứ “ổ chứa chức danh đi làm tiền”, một thứ “dịch vụ hốt bạc” mà chỉ cần cái chức danh, cái quyền, không phải bỏ ra vốn liếng gì cả.

Thế nên, không ít đơn vị làm ăn thì thua lỗ chềnh ềnh ra, đời sống người lao động thì bấp bênh, tham nhũng tiêu cực “nhìn ở đâu cũng thấy, sờ vào đâu cũng thấy… sướng”, nhưng thủ trưởng cơ quan, công ty, xí nghiệp cũng cứ là hiên ngang vênh váo nhảy lên sân khấu nhận giải thưởng, kể cả cái tưởng như ‘chặt chẽ, nghiêm túc’ là Cúp “Bông hồng Vàng” hàng năm. Có những đoàn kiểm tra, thanh tra, đoàn đi chấm thi đua-khen thưởng còn bày kế cho đơn vị phải báo cáo thế này, thế kia; thực chất “bày trò gian trá chẳng qua vì tiền”.

Đó là cái ‘vì” thứ nhất, vì chạy đua thành tích, vì cái danh gắn với sự thăng tiến và giữ ghế, sinh ra báo cáo láo. Người ta nói là bệnh, nhưng không phải bệnh, mà là những chủ đích có động cơ rõ ràng, có kinh nghiệm cáo già.

Cái “vì” thứ hai nữa, là báo cáo láo, gian dối vì tiền. Làm ăn có lãi, nhưng báo cáo quyết toán tài chính, tính đầu vào đầu ra, lời lãi cũng khá, nhưng vẫn đưa ra đủ các kiểu con số thống kê, kế toán kêu lỗ các chi phí này kia rất chi là “hợp lý” từ A-Z, để xin nhà nước, xin bộ, ngành hỗ trợ, xin giải cứu, xin bù lỗ. Cái kiểu này trong gần 20 năm qua phát triển ngày càng rầm rộ. Và ai cũng “thắng”, vì chỉ cần “biết chế tạo” ra các báo cáo là được bù lỗ dễ ợt, ngọt xớt, béo ngậy. Còn toàn bộ tiền lãi ròng cả năm thì cứ “a lê hấp” nấp kín trong túi cá nhân, chia nhau rồi cười như thỏ. Chính “cái anh” đi lo bù lỗ và “thằng cha” ra quyết định cũng thừa biết cái “ổ con tò vò” của sự gian dối này, nhưng biết là có ăn chia, nên cứ lấy tiền nhà nước giải cứu, bù lỗ dài dài.

Ngoài ra, còn nhiều cái ‘vì’ khác mà sinh ra các báo cáo láo. Xã hội ta là một 'xã hội chạy'. Cái đường hướng lớn nhất là cả guồng máy chạy nhanh (quá độ) để "tiến thẳng, tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên CNXH, không kinh qua phát triển TBCN…". Do đó, trong cuộc sống thường ngày, nhan nhản đến đâu cũng thấy mọi người đều phải lo chạy: Chạy chức chạy quyền, chạy bằng cấp, chạy trường lớp học, chạy việc làm, chạy mánh, chạy đánh quả, … và có vẻ như vinh quang nhất, oách nhất, là chạy thành tích, chạy Anh hùng Lao động…

Nhưng, điều oái oăm thay, như cái thứ “oẳn-tà-roằn” là một đơn vị có đến mấy loại báo cáo. Báo cáo lấy thành tích thì rất kêu to, lãi lớn, làm ăn có hiệu quả. Còn báo cáo xin bù lỗ rút ruột tiền Nhà nước thì kêu khó khăn chất chồng, lỗ lên lỗ xuống, con số âm đưa ra cũng khá to. Lại còn báo cáo đảng, báo cáo công doàn, báo cáo đoàn thể… chẳng qua để lấp chỗ trống theo quy định và cũng là thứ giả dối, lừa đảo cả thôi. Như thế, ăn hai mang, đơn vị vừa có thành tích thi đua, lại có tiền “bù lỗ”, túi riêng đã nặng càng được căng thêm! Có lạ gì, vì thế, có đơn vị làm ăn thua lỗ nhưng vẫn được tặng thưởng thành tích thi đua. Chẳng qua do mánh lới nhập nhằng các loại báo cáo, 'lập lờ đánh lận con đen' mà thôi! Sinh ra thực trạng này, chính Đảng và Nhà nước đã tự mình mà ăn những quả lừa đầy … kỳ thú!

Ôi, báo cáo ở cái xứ “dân chủ gấp vạn lần dân chủ tư sản”. Mà dùng từ đó ám chỉ ai? Xứ ta có tư sản không? – Xin thưa, nhiều lắm, TƯ SẢN ĐỎ – cả “một bộ phận không nhỏ”!

Hình ảnh gia đình ông Trầm Bê nổi bật ở giữa tường ngôi chánh điện
của chùa Giồng Lớn tại xã Đại An, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh

Trầm Bê và Đảng ai là đại gia? – Thật ra hai câu chuyện có liên hệ “hữu cơ” rất mật thiết hơn nhiều người nghĩ. Gia đình đại gia Trầm Bê và Đảng Cộng sản Việt Nam trên căn bản rất gần nhau về bản chất và quá trình tiến tới thành công như ngày nay. Nói không quá lời thì gia đình này là bản sao được thu nhỏ của Đảng Cộng sản Việt Nam (…)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.