Sau 10-10, sau 30-4

Posted: April 29, 2013 in Uncategorized
Tags:

Bùi Văn Phú (BBC) – Sáng 30-4-1975, khi xe tăng bộ đội cộng sản miền Bắc ủi sập cổng để tiến vào Dinh Độc Lập, cơ quan chính quyền cao cấp nhất của Việt Nam Cộng hoà, chỉ ít phút sau tổng thống cuối cùng của miền Nam là Tướng Dương Văn Minh được áp tải đến đài phát thanh đọc lệnh đầu hàng.

(Xem thêm: 30/04/2051 – Có một giờ G khác vào năm 1974 – Blogger Điếu Cày Nguyễn Văn Hải bị đưa từ Bà Rịa-Vũng Tàu ra Nghệ An – Chết để con được học! – Tháng Tư nghĩ về văn hoá và áo dài) …


Tác giả ca ngợi và cho rằng cuốn sách là 'rất cần đọc'
Trang nhất báo Nhân Dân ngày 1-5-1975 chạy hàng tít lớn: “Hoan hô Sài Gòn giải phóng”. Ngày hôm sau báo này lại lên tít: “Miền Nam hoàn toàn giải phóng”. Đối với lãnh đạo miền Bắc, mục tiêu “chống Mỹ cứu nước”, “giải phóng miền Nam”, “thống nhất đất nước” của họ đã đạt được sau 20 năm.

Ngày đó có một thiếu niên miền Bắc tuổi mới 13 đang nô đùa vật lộn với bạn, khi nghe tin “Sài Gòn giải phóng” đã ngừng chơi và trong đầu nẩy ra ý nghĩ “Phải nhanh chóng vào Nam để giáo dục các bạn thiếu niên lầm đường lạc lối.”

Ba mươi bảy năm sau, thiếu niên 13 tuổi ngày trước nay là nhà báo Huy Đức đã viết về ngày 30-4: “là ngày kết thúc chiến tranh Việt Nam. Ngày mà những người anh em miền Nam buông súng đầu hàng miền Bắc. Ngày chấm dứt hơn hai mươi năm “da thịt tàn nhau, vạ trong tường vách”. Nhưng, không phải cứ súng ống vất đi là sẽ có hoà bình.”

Nhận xét của Huy Đức phản ánh thực tế Việt Nam trong nhiều năm sau đó. Không những đất nước đã không có hoà bình vì phải đương đầu với hai cuộc chiến, ở phía bắc và phiá tây nam, còn trong lòng nhiều người Việt nào có được an vui. Cuộc chiến kết thúc đã kéo theo nhiều hệ lụy mà cho đến hơn một phần tư thế kỷ sau chiến tranh, cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt cũng đã phải nhìn nhận rằng ngày 30-4 “triệu người vui mà cũng có triệu người buồn”.

Trong nước, người vui đã hoan hỷ kể đi kể lại câu chuyện của họ từ gần bốn mươi năm trên biết bao trang báo, thước phim, tác phẩm. Còn kẻ buồn, người bị tù đày, gia đình tan nát vì những chính sách “Bắc hoá” miền Nam, theo cách gọi của Huy Đức, đến giờ chưa có được cơ hội nói lên hay viết ra trên đất nước của họ. Những đề tài như tù cải tạo, đánh tư sản, vượt biển vượt biên vẫn còn là điều cấm kỵ đối với truyền thông trong nước.

'Một phần nỗi đau'

Tác phẩm “Bên Thắng Cuộc” (2012) của Huy Đức cố gắng nói lên một phần của những nỗi đau đớn, oan khiên đó trong tổng thể thực trạng Việt Nam từ ngày 30-4-1975.

Là một nhà báo có tiếng trong nước, là phóng viên của nhiều cơ quan truyền thông lớn như Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Sài Gòn Tiếp Thị, nhưng ông đã rời những cơ quan này để được viết một cách độc lập và tự do hơn. Từ đó Blog Osin Huy Đức ra đời với những nhận định sâu sắc thu hút nhiều độc giả trong nước và hải ngoại.

Trong vai trò một nhà báo, tác giả đã có nhiều gặp gỡ, phỏng vấn quan chức lãnh đạo, nhận thức tình hình, sau lại có cơ hội đến Mỹ học hỏi và nghiên cứu về những vấn đề liên quan đến Việt Nam, Bên Thắng Cuộc là đúc kết của những tư liệu và tài liệu tác giả thu thập được.

Huy Đức đặt lại chuyện gọi miền Nam được “Giải phóng” hay ngược lại chính là miền Bắc.

Việc này từ hơn hai thập niên trước cũng đã được nhà văn Dương Thu Hương đặt ra. Còn nhà báo Mỹ David Lamb từng có mặt tại miền Nam thời chiến, sau năm 1975 đã trở lại làm đại diện cho nhật báo Los Angeles Times ở Hà Nội, đã viết trong tác phẩm “Vietnam, Now” (2002) về đất nước này thời đương đại và cũng nêu câu hỏi là người miền Nam đã được miền Bắc giải phóng khỏi cái gì.

Trong Bên Thắng Cuộc tác giả ghi lại hai câu thơ dân gian: “Nam Kỳ Khởi Nghĩa tiêu Công Lý / Đồng Khởi lên rồi hết Tự Do” là cách đặt vấn đề một cách tinh tế nhất.

Nhiều điều cấm kỵ trong nước được Huy Đức ghi lại, từ giam cầm văn nghệ sĩ như chuyện tù của nhà văn Duyên Anh, những trại học tập cải tạo, đánh tư sản mại bản, càn quét văn hoá Mỹ-Ngụy, chuyện chìm tàu vượt biển ở Cát Lái, chuyện sống sót sau hành trình vượt biển của Phạm Thanh Tùng, chuyện vượt biên của con của thi sĩ Trần Dạ Từ và nhà văn Nhã Ca, chuyện học tài thi lý lịch.

Liên quan đến chính sách đối ngoại ngay sau khi cuộc chiến chấm dứt, Huy Đức đưa ra những dữ kiện, không mới, căn cứ vào hồi ký của nhà ngoại giao Trần Quang Cơ, cho thấy Việt Nam đã bỏ mất cơ hội bang giao với Hoa Kỳ vào cuối thập niên 1970 khi nhất định đòi Hoa Kỳ 3,5 tỉ đô-la bồi thường chiến tranh, cùng lúc Việt Nam liên minh với Liên Xô chống lại Trung Quốc nên đất nước lại có chiến tranh, sa lầy ở Kampuchia và gây kiệt quệ thêm cho nền kinh tế.

'Quy trách nhiệm'

Về cách làm chính sách, tác giả như muốn quy trách nhiệm những chính sách sai lầm cho một vài cá nhân lãnh đạo: “Nhiều chính sách làm thay đổi số phận của hàng triệu sinh linh như “Phương án II”, như “Z 30” cũng chỉ được quyết định bởi một vài cá nhân, nhiều người là ủy viên Bộ chính trị cũng không được biết.”, hay tìm cách bào chữa cho Hồ Chí Minh về cải cách ruộng đất, cho Lê Duẩn về xâm lăng Kampuchia.

Lập luận này không thuyết phục vì sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trước nay mang tính tập thể. Nếu một cá nhân có thể đưa ra những quyết định quan trọng làm thay đổi đất nước thì đã có người có thể làm như thế, chẳng hạn như Thủ tướng Võ Văn Kiệt được tác giả nói đến nhiều. Bên Thắng Cuộc ghi lại rất nhiều hoạt động của ông Kiệt từ những ngày của tháng 4-1975, mà trước nay có ít sách vở nói đến, cho đến lúc ông làm thủ tướng, đã được dư luận trong nước cho là người có đầu óc cải cách. Nhưng ông Kiệt dù có muốn cũng chỉ làm được tới đó vì tập thể lãnh đạo, tức Bộ Chính trị, không cho phép cải cách đi xa hơn nữa.

Gần đây là trường hợp Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Tuy kém khả năng lãnh đạo nhưng ông vẫn không phải từ chức hay bị mất chức vì Đảng vẫn đặt ông ở đó, như ông tự nhận. Điều này cho thấy lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam mang tính tập thể.

Đọc Bên Thắng Cuộc để thấy kế hoạch cai trị được Đảng Cộng sản áp dụng tại miền Nam sau ngày 30-4-1975 giống như chính sách đã được thực hiện sau ngày tiếp quản Hà Nội 10-10-1954. Ở miền Bắc thời đó là “cải tạo thương nghiệp”, sau ngày 30-4-1975 tại miền Nam gọi là “cải tạo tư sản mại bản”. Hai dấu mốc thời gian khó quên cho người dân Việt vì hơn nửa thể kỷ áp dụng xã hội chủ nghĩa đất nước đã không tiến nhanh, trong khi đó hàng triệu người đã trở thành nạn nhân và hệ lụy của những chính sách này còn kéo dài cho đến ngày nay.

Bên Thắng Cuộc không phải là quyển sách sử. Tác phẩm là một trong nhiều sách đã viết về cùng một giai đoạn ở Việt Nam, có thể kể: Winds and Shadows của Robert Templer; Vietnam: Rising Dragon của Bill Hayton; Cruel April, nguyên bản tiếng Pháp, của Olivier Todd; The Will of Heaven của Nguyen Ngoc Ngan; After Saigon Fell của Nguyen Long; The Refused của Barry Wain; South Wind Changing của Jade Huynh Quang Ngoc; Prisoner of Words của Le Huu Tri; Boat People: 1954, 1975-1992 của Vo M. Nghia hay Đại Học Máu của Hà Thúc Sinh, Đáy Địa Ngục của Tạ Tỵ.

Khác chăng là lý lịch của tác giả Huy Đức. Ông là nhà báo lớn lên trong môi trường xã hội chủ nghĩa, bị bưng bít thông tin nhưng đã cố gắng tìm hiểu mọi phía và can đảm viết lên một cách chuyên nghiệp và trung thực nhất bằng với khả năng của mình.

30/04/2051

Alan Phan
– (Thân tặng tác giả của Bên Thắng Cuộc…)

Ánh sáng đầu ngày còn yếu ớt trên biển vắng lạnh và im sóng. Những con chim hải âu chưa thức giấc, chỉ một vài con dã tràng lăng xăng trên bãi cát vàng. Tôi và những con dã tràng: luôn luôn bận rộn suốt 38 năm qua và trước đó; nhưng thiên nhiên và tháng ngày tiếp nối theo nhau, không quan tâm gì đến những hạt cát chúng tôi xây đắp.

Lướt qua một bài viết trên BBC, giật mình vì lời tuyên bố của ngài Nguyễn Đình Tấn, giám đốc Học Viện Chính Trị Xã Hội của Hà Nội …rằng đảng Cộng Sản Việt Nam sẽ lãnh đạo xứ này trong nhiều thập kỷ sắp đến vì không có đảng đối lập. Hơn nữa, sau 68 năm từ ngày chiếm chánh quyền vào 1945, đảng đã thu nạp được 4-5 triệu thành viên, cùng chục triệu thành đoàn, cộng với (?) thân nhân gia đình. Quan trọng hơn hết, đảng đang kiểm soát toàn bộ máy công an và quân đội. Phần lớn các nhà phân tích chính trị trong và ngoài nước đồng ý với nhận định này.

38 năm nữa… Wow. Lúc này, chắc chắn là mộ của tôi đã xanh cỏ và hồn của tôi chắc đang phiêu lãng qua những thế giới không còn nghịch lý. Những đứa con trai tôi chắc đã về hưu, không biết quỹ An Sinh Xã Hội của Mỹ có còn tiền hay đã khánh tận? Tích cực hơn, có thể chúng nó đang ở mặt trăng, tạo lập một tổ ấm mới cho gia đình và nhờ những phát minh sinh hóa học, có thể giúp chúng làm ăn vui chơi và sống đến 200 tuổi.

Thế giới không biết biến đổi ra sao 38 năm nữa? Trung Quốc có thực hiện được mộng vương bá của giòng giống Hán hay vẫn chỉ nhận được triều cống của vài láng giềng hữu hảo? Ông Kim Ủn Ỉn của Bắc Triều Tiên vẫn còn bắt dân ăn cỏ hay đã theo cha về chầu Mác Lê? Âu Châu có lẽ đã tan vỡ và đồng mark của Đức là ngoại tệ hiếm quý hơn cả đồng franc của Thụy Sĩ? Hậu thân của KGB Nga có kiểm soát được các phe nhóm xã hội đen trên thế giới sau cuộc chạm trán với Tam Hoàng của Tàu?

Quay lại chính trị Việt Nam, theo như ngài Tấn, 14 “đỉnh cao” vẫn phán định mọi hướng đi cho dân tộc theo sát tư tưởng Mao Trạch Đông/Hồ Chí Minh (Bác Hồ ta đó chính là Bác Mao, thơ Tố Hữu). Năm 2051 này, chắc đảng đã tự phê “quyết liệt” và đang hỏi ý kiến dân về hiến pháp mới?

Về kinh tế, thu nhập của người dân chúng ta trong 2050 vừa bắt kịp con số của Thái Lan năm 2012. Không có gì để hãnh diện, nhưng ít nhất, một tầng lớp trung lưu vừa xuất hiện và Việt Nam vẫn xếp hàng đầu về chỉ số hạnh phúc. Các doanh nghiệp nhà nước đã phát triển mạnh và hiện chiếm 80% nguồn lực tài chánh (dù chỉ đóng góp 40% vào GDP của quốc gia). 60% tài sản vẫn nằm trong tay 5% dân số. Năm 2051, để kỷ niệm ngày 30/4, các lãnh đạo đã tề tựu để khánh thánh hệ thống xe điện ngầm đầu tiên nối trung tâm Saigon với Suối Tiên và các tỉnh lân cận. Nợ công đã lên đến 300% GDP, nhưng đây là vấn đề của IMF và ASEAN. Cà phê, quán nhậu và tiệm massage vẫn dẫn đầu trong các ngành kỹ nghệ trọng yếu.

Về văn hóa xã hội, ước muốn tuyệt nhất của thiếu nữ Việt là lấy chồng Hàn Quốc hay Trung Quốc; tham vọng lớn nhất của trai Việt là làm nhân viên Hải Quan hay Cảnh Sát Giao Thông. Bia rượu thuốc lá và điện thoại xịn vẫn là những thứ phải có của đại đa số . Trong khi đó, ô nhiễm, trộm cướp và vào bệnh viện… là ba mối lo hàng đầu. Giá BDS vẫn bằng 50 lần thu nhập trung bình của dân, nên đa số dân thành thị vẫn được ở trong hẽm với những căn nhà hộp quẹt trong các “khu phố văn hóa”. Nhưng vài khu biệt lập kiểu Rublevka ở Moscow với giá tối thiểu 10 triệu đô la một biệt thự bán chạy như tôm tươi (các trẻ em mới lớn thời này chắc không biết chữ “tôm tươi” hay bất cứ thứ gì tươi, vì các cháu đã quen với thực phẩm pha chế từ Trung Quốc).

Ở một góc nhìn tích cực khác, chúng ta giờ có đến hơn 1 triệu Tiến Sĩ (nhiều hơn cả Mỹ), vài chục ngàn chiếc siêu xe và vài trăm ngàn người mẫu/ca sĩ/diễn viên. Năm 2051 cũng đánh dấu một mốc quan trọng cho dân trí: chánh phủ đã dẹp tan các blog lề trái trên mạng và người dân không còn bị cám dỗ bởi các thế lực thù địch. Tờ báo Nhân Dân trở thành nhật báo/tuần báo duy nhất tại Việt nam. Nhân dịp lễ, dân chúng vẫn được VTV cho xem lại hai phim truyền kỳ của nhân loại, “Chiến thắng Điện Biên”“Chiến thắng Mỹ Ngụy”.

Nhìn về tương lai theo kịch bản của ngài Tấn, tôi thấy yên tâm về sự ổn định của quê hương. Giữa những biến đổi quay cuồng đến chóng mặt của thế giới, những người Việt tha hương có thể tìm thấy ở Việt Nam những hình ảnh tuyệt vời của 150 năm về trước. Cây đa vẫn cao ngất từng xanh, các chú bé mục đồng vẫn chạy theo đàn bò và các nhà làm phim vẫn dùng Việt Nam làm bối cảnh cho lịch sử thế kỷ 19.

Những người trăm năm cũ, Hồn ở đâu bây giờ? (Thơ Nguyễn Đình Liên)

Quên, khắp nước, khu phố nào cũng có một đền thờ để toàn dân “lên đồng”, “sống chung hòa bình” với tổ tiên.

Có một giờ G khác vào năm 1974
SGTT.VN – 35 năm hoạt động, trên vai áo ông từng đeo quân hàm không quân hai bên là đối thủ của nhau. 22.000 giờ bay với nhiều loại phi cơ chiến đấu và dân dụng hiện đại nhất từ Đông sang Tây, từ Á sang Âu. Những nếm trải cuộc đời, dường như Nguyễn Thành Trung chẳng thiếu thứ nào. Người ta thường nói vinh quang đi cùng cay đắng. Còn ông, sống chết, tù tội chẳng màng, nhưng những giây phút cô đơn trong cuộc sống hoà bình, ngay trong lòng đồng đội thì thật dài và khó quên. Tháng tư đến rồi lại đi cùng ký ức… Chặng đường lịch sử dài 38 năm có quá nhiều biến cố, sự kiện ném bom dinh Độc Lập ngày 8.4.1975 đối với ông có ý nghĩa gì? Bây giờ nghĩ về giây phút ấy ông cảm thấy thế nào?

Nguyễn Thành Trung: …- Trước khi ném bom dinh Độc Lập ngày 8.4.1975, lãnh đạo đề nghị đưa vợ con tôi ra vùng giải phóng để tôi yên tâm làm nhiệm vụ. Nhưng lúc đó, tôi bị nghi kỵ nhiều, nguy cơ bị lộ rất cao nên chuyện đó là không thể. An ninh quân đội theo sát gia đình tôi từng giờ, nếu vợ con tôi vắng nhà không rõ lý do thì tôi sẽ bị bắt ngay tức khắc. Cũng có thể trên đường ra vùng giải phóng, vợ con tôi cũng sẽ bị bắt, tình thế đó sẽ nghiêm trọng hơn. Rất lo lắng cho tính mạng vợ con, nhưng việc mà tôi đã tính trước 10 năm đến thời điểm này là không thể dừng. Mặt khác, thời gian sống trong đội ngũ không lực Sài Gòn cho tôi một niềm tin rằng vợ tôi, một người phụ nữ không liên quan gì đến công việc của tôi, con tôi còn quá nhỏ (đứa lớn mới 5 tuổi, đứa nhỏ chưa tròn năm) sẽ không bị đối xử một cách tàn nhẫn.

Thực tế diễn ra đúng như tôi dự đoán. Cánh an ninh không quân đưa xe đến nhà bắt vợ con tôi. Vợ tôi phản đối vì mình không biết gì về công việc của chồng. Họ từ tốn: “Thưa bà, chúng tôi không bắt bà (nếu bắt chúng tôi đã dùng còng số 8, trói bà chẳng hạn), chúng tôi tới đây mời bà vào phòng an ninh sư đoàn, với trách nhiệm bảo vệ sự an toàn tính mạng của bà và các con bà. Nếu bà có tài sản quý giá nào thì bà cứ mang theo”. Một tuần sau vợ và con tôi bị đưa từ Biên Hoà về số 4 Nguyễn Bỉnh Khiêm – Sài Gòn cho đến ngày 30.4.1975. Đương nhiên, họ vẫn điều tra vợ tôi về những gì liên quan đến tôi, nhưng không bị đối xử vô nhân đạo. Có thể đó là những người có học và biết cách ứng xử một cách văn hoá với người thân của kẻ thù. Trong thời gian vợ tôi bị giam ở số 4 Nguyễn Bỉnh Khiêm, trung tướng không quân Trần Văn Minh đến thăm với tư cách người chỉ huy có một người lính phản chiến. Ông ấy hỏi vợ tôi có cần bạn bè, người thân đến chuyện trò gì không hay cần mua sắm gì thì ông sẽ giúp đỡ.

Vậy đó, ngày 2.5.1975, tôi lái máy bay từ Phan Rang về sân bay Biên Hoà. Vợ con tôi cũng vừa được giải thoát khỏi số 4 Nguyễn Bỉnh Khiêm, chúng tôi gặp lại nhau trong ngôi nhà nhỏ của mình. (…)

Blogger Điếu Cày Nguyễn Văn Hải bị đưa từ Bà Rịa-Vũng Tàu ra Nghệ An
Tú Anh (RFI) – Ngày 26/4/2013, công an Việt Nam đã bí mật đưa blogger Điếu Cày Nguyễn Văn Hải từ nhà tù Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đi một nơi khác mà không thông báo, không đáp ứng sự tìm hiểu của thân nhân. Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn cho biết vào đêm Chủ nhật 28/04/2013 tổ chức buổi thánh lễ cầu nguyện cho những thanh niên sinh viên « vì yêu nước vì chống Trung Quốc bá quyền, vì phục vụ công ích xã hội » nên đã bị lao tù.

Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, xuất thân là lính sư đoàn 3 Sao vàng, và cũng là sáng lập viên Câu lạc Bộ Nhà Báo Tự Do. Sau các bài báo tường thuật những tệ nạn bất công trong xã hội và tham gia phong trào biểu tình tố cáo Trung Quốc xâm lược, năm 2008 anh lãnh bản án 30 tháng tù với tội danh trốn thuế, ngày mãn án tù anh lại bị quy thêm tội danh mới « tuyên truyền chống nhà nước » và bị kết án 12 năm tù.

Theo bà Dương Thị Tân, thì hôm nay 28/04/2013 khi cùng con trai Nguyễn Trí Dũng lên nhà tù Xuyên Mộc thăm Điếu Cày Nguyễn Văn Hải thì được hai sĩ quan công an thông báo anh Hải đã bị « trích xuất » đi nơi khác mà không nói địa danh. Nhờ lòng tốt của một vài người, bà Dương Thị Tân dò ra được nhà tù mới của sáng lập viên Câu lạc Bộ Nhà Báo Tự Do là nhà tù số 6, ở tận Nghệ An…

Chết để con được học!
(Dân Trí) – Do bệnh tật và quá nghèo, chị đã chọn cái chết để giảm gánh nặng cho chồng con, để các con có điều kiện tiếp tục con đường học vấn. Người mẹ ấy là chị Nguyễn Thị Mỹ Nhân, 48 tuổi, ở ấp 5, xã An Xuyên, TP Cà Mau (Cà Mau). Cái chết thương tâm của chị khiến nhiều người xung quanh phải giật mình thảng thốt. Đọc bức thư tuyệt mệnh của chị để lại cho chồng con ai cũng rơi nước mắt.

…Anh Bảo sụt sùi kể tiếp: “Vợ tôi đang bị bệnh viêm dây thần kinh số 7, giật méo miệng, thêm suy thận, suy tim, mỗi ngày tốn tiền thuốc 140.000 đồng. Vợ tôi nghĩ rằng chết đi sẽ tiết kiệm được khoản này và còn được mọi người đi phúng điếu sẽ kiếm thêm được chút ít tiền nữa cho chồng con…”.

Thời điểm này, con trai lớn của chị là Đinh Công Bằng thi đậu vào CĐ và đi học ở Bà Rịa-Vũng Tàu, tiền nong gia đình vì vậy càng thêm bức bách. Nghe đến những chính sách hỗ trợ của Nhà nước, chị chạy đôn chạy đáo đi tìm hiểu và tìm cách làm đơn xin được hỗ trợ, cứu giúp. Chị làm đơn kể hoàn cảnh khó khăn để đi xin vay tiền cho con học CĐ. Ấp, xã cùng chứng thực hoàn cảnh khó khăn của chị nhưng khi đến Ngân hàng Chính sách của TP Cà Mau thì bị từ chối vì chị không có sổ hộ nghèo. Chị lại về xin công nhận hộ nghèo nhưng xin hoài mà vẫn không được. Bởi người ta xét nhà chị có hai lao động chính, thu nhập 5 triệu đồng/tháng (anh làm thợ hồ ngày được 100.000 đồng, tức 3 triệu đồng/tháng, chị đi giúp việc được 2 triệu đồng/tháng nữa, tổng cộng là 5 triệu đồng)! Chia cho năm nhân khẩu thì bình quân mỗi nhân khẩu được 1 triệu đồng/tháng. Trong khi đó, quy định hiện hành tại xã chị thì bình quân thu nhập 401.000 đồng/nhân khẩu trở xuống mới được xét cấp sổ hộ nghèo và từ 520.000 đồng/nhân khẩu đến 401.000 đồng/nhân khẩu thì mới được xem là hộ cận nghèo. Vậy là chị không dính vào diện nào cả, đành ngậm ngùi sau bao lần lên ấp, lên xã xin sổ hộ nghèo.

Đoạn nói về sổ hộ nghèo, trong thư chị viết: “Xin các cấp chính quyền ấp 5 thấu hiểu cho hoàn cảnh không lối thoát của chúng tôi hiện nay mà cấp sổ hộ nghèo cho chồng con tôi để sống những ngày tháng còn lại trên đời”. Trong thư, chị Nhân nhắc đi nhắc lại câu: “Anh Bảo, em thương anh nhiều lắm. Chết là hết, chỉ thương anh ở lại trên đời với biết bao gánh nặng… Các con Bằng, Tâm, Ngân đừng trách mẹ. Hãy gắng học nên người, đừng để cha con buồn. Cha con đã khổ với mẹ con ta nhiều lắm!”.

Tháng Tư nghĩ về văn hoá và áo dài
( BBC ) – Biến cố 30-4-1975 đã đưa hàng triệu người Việt ra nước ngoài sinh sống, đông nhất ở Hoa Kỳ, Úc, Pháp, Canada, Đức.

Mỗi năm, cuối tháng Tư là lúc người Việt hải ngoại nhớ về một sự kiện đau thương đã làm gia đình ly tán, buộc nhiều người phải rời bỏ nơi chôn nhau cắt rốn ra đi. Thời điểm này cũng đánh dấu sự khai sinh cộng đồng người Việt tại nhiều nơi trên thế giới, đông nhất là tại Hoa Kỳ với hơn 100 nghìn người tị nạn Việt Nam đầu tiên được định cư.

Từ đó, mỗi năm đến ngày 30-4 luôn có nghi thức tưởng nhớ tiền nhân, cầu nguyện cho những người đã hy sinh vì lý tưởng tự do, cho người vượt biển, vượt biên đã không đến được bến bờ. Tưởng niệm 30-4 là nét đặc trưng trong sinh hoạt của cộng đồng người Việt hải ngoại.

Bỏ quê hương ra đi, nhiều người không mang theo được gì ngoài văn hoá nguồn cội đã thấm vào lòng.

Phát huy văn hóa Việt

Sau gần bốn thập niên định cư, văn hoá Việt đã có cơ hội phát huy và trở thành một phần trong sinh hoạt đời sống xã hội Mỹ.

Các hội học sinh, sinh viên gốc Việt thường tổ chức văn nghệ dịp tháng Tư. Vùng San Francisco năm nay có văn nghệ của học sinh trường Santa Teresa, của sinh viên San Jose City College, Stanford, U.C. Berkeley. Các em cố gắng vẽ lên lịch sử của nước nhà, của cộng đồng; đưa lên những nét đẹp quê hương qua điệu múa, câu hò tiếng hát bên cạnh tiếng nhạc, điệu nhảy sống động của văn hoá Mỹ.

Trong gia đình người Việt hải ngoại vẫn có tà áo dài, áo gấm, vẫn còn chai nước mắm, gói bún. Bữa ăn vẫn có rau mồng tơi, rau muống, cá kho tộ, có bát phở, tô mì Quảng hay bún bò Huế. Cạnh dàn máy ti-vi có DVD Thuý Nga, Asia hay Duyên Dáng Việt Nam. Có tiếng hát Khánh Ly, Thanh Tuyền, Hồng Nhung, Tuấn Ngọc, Vũ Khanh, Duy Khánh, Phi Nhung, Hương Lan, Quang Linh, Duy Quang, Bằng Kiều, Mỹ Linh, Quang Dũng qua ca từ nhạc Trịnh Công Sơn, Phạm Duy, Trầm Tử Thiêng, Hoàng Thi Thơ, Trần Thiện Thanh, Thanh Tùng, Bảo Chấn, Phú Quang…

Ngày nay, trong trường cấp 3 và đại học Mỹ đề tài chiến tranh Việt Nam vẫn được thảo luận hay nghiên cứu, nhưng không còn làm nhức nhối lương tâm, không còn gây nhiều xúc động trong lòng thế hệ trẻ như đã từng có đối với thế hệ cha anh. Âm hưởng của chiến tranh mờ dần và nét văn hoá Việt đang trở nên dấu ấn trong đời sống Mỹ với phở, bún, áo dài, Tết, bánh mì.
Văn hoá, hiểu một cách tổng quát là những sinh hoạt của một tập thể mà trang phục và thực phẩm dễ cảm nhận được nhất.

Nói đến “Tết” thì hầu như các sắc dân khác đều biết, vì cứ độ cuối tháng Giêng tây cộng đồng Việt lại rộn ràng với chợ hoa, hội chợ tết, cây nêu tràng pháo. Tết về có thiếu nữ mặc áo dài đội nón lá, có áo tứ thân khăn mỏ quạ, có bánh chưng, bánh tét, mứt kẹo (…)

Áo dài, nón lá

Mấy năm gần đây, trung tuần tháng Năm còn có hội chợ văn hoá Á châu, nhấn mạnh đến truyền thống của những nước Đông Á như Việt Nam, Cam Bốt, Lào, Miến Điện, Thái Lan, Hàn Quốc.

Trung tâm Văn hoá Âu Cơ đã đóng vai trò phối hợp tổ chức lễ hội này để làm phong phú thêm cho sinh hoạt thành phố và cho văn hoá cội nguồn Việt Nam với những áo bà ba, áo tứ thân, áo dài tung tăng trên phố.

Trong nét đẹp của văn hoá Việt, tà áo dài và nón lá là hình ảnh được thế giới biết đến nhiều nhất. Chiếc nón lá được dùng khắp nơi, từ bác nông dân ra ruộng cày cấy, mẹ đi chợ, bà bán hàng rong cho đến nữ sinh, phụ nữ ra đường đi học, đi làm cũng đội nón lá. Huế trở nên đẹp và thơ mộng với chiếc nón bài thơ, với áo dài nữ sinh Đồng Khánh. Sài Gòn giờ tan trường ngập tràn áo trắng Trưng Vương, Gia Long, áo hồng Thiên Phước, áo xanh Bác Ái. Những hình ảnh đã là dấu ấn của một thời thăng hoa nét đẹp áo dài trên quê hương. Những tà áo đã đi vào âm nhạc, vào văn học.

Ngoài nét mỹ thuật của áo dài nón lá, hai trang phục này còn là cách bảo vệ da tốt nhất trong điều kiện khí hậu nhiệt đới. Sau 1975, sân trường và đường phố Việt Nam không còn nhiều tà áo tung bay như trước.

Cho đến khi Việt Nam mở cửa giao thương với phương Tây vào đầu thập niên 1990, hình ảnh áo dài được làm sống lại qua các cuộc thi hoa hậu với những biên cải, cách tân. Nhưng cách tân quá độ làm mất đi nét đẹp đơn sơ, trang nhã của áo dài.

Năm ngoái ở San Jose có trình diễn áo dài của các nhà thiết kế Đức Hùng, Minh Hạnh, Sĩ Hoàng từ trong nước và Quang Chánh, Debbie Nghiêm ở California, nhưng không thu hút chú ý. San Jose Center for the Performing Arts với hai nghìn chỗ mà chỉ có chừng 500 khán giả. Ngoài bộ áo của Sĩ Hoàng thoát lên nét thanh tao của áo dài, còn lại các nhà thiết kế khác đã làm đậm nét cung đình, quý phái cộng thêm khăn đóng quá khổ trên đầu và lủng lẳng nhiều thứ khác khiến người mẫu trông như nữ hoàng Ai Cập hay châu Phi. Còn áo dài của ông trưởng ban tổ chức cắt quá ngắn nên trông như áo của người Ấn Độ.

Áo dài thực là dấu ấn của văn hoá Việt vì loại hình trang phục này đã được triển lãm trong bảo tàng Hoa Kỳ, một lần ở San Jose Quilt Museum vào năm 2006 và tại American Museum of Natural History ở New York dịp Tết vừa qua.

Chuyện chọn quốc phục cho Việt Nam cũng được bàn luận trong nước từ nhiều năm. Năm 2006, tuy chưa gọi là quốc phục nhưng Chủ tịch Nguyễn Minh Triết đã mặc áo dài gấm vàng, cùng với lãnh đạo các nước tham dự hội nghị APEC ở Hà Nội. Đầu năm nay chuyện quốc phục lại được truyền thông trong nước nhắc đến. Báo Đất Việt ngày 21-1-13 có bài phỏng vấn nhà sử học Dương Trung Quốc và ông bày tỏ muốn có bộ quốc phục là khăn đóng áo dài. Còn trên báo Đời Sống ngày 24-3-13, nhà ngoại giao Vũ Cường cho rằng chọn quốc phục là không cần thiết vì áo dài tự bản chất đã đậm nét văn hoá Việt vì rất nhiều người mặc, như áo kimono của người Nhật. Ông nêu vấn đề nếu tôn vinh áo dài lên quốc phục, còn trang phục của 53 sắc dân khác thì sao?

Sau Chủ tịch Nguyễn Minh Triết, chưa thấy lãnh đạo nào khác đã mặc khăn đóng áo dài trong dịp lễ hội. Tại hải ngoại, quan chức ngoại giao Việt Nam như Tổng lãnh sự Lê Quốc Hùng và Nguyễn Bá Hùng lại đi bước trước khi các ông mặc khăn đóng áo dài đón Tết cùng kiều bào vùng San Francisco.

Nhưng làm sao để nhiều người Việt thích mặc áo dài là một điều khó khi ảnh hưởng văn hoá Âu Mỹ ngày càng sâu đậm tại Việt Nam. Có thể bắt đầu từ học đường. Một chính sách đồng phục cho học sinh, nữ sinh mặc áo dài, nam sinh quần xanh áo trắng sẽ giúp thăng hoa áo dài trở lại và làm đẹp cho phong cảnh quê hương.

Tháng Tư nghĩ về văn hoá. Vì văn hoá là hạt mầm sẽ nở ra những bông hoa tươi đẹp.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s