“Trụ đỡ” nền kinh tế đang lung lay?

Posted: May 7, 2013 in Uncategorized
Tags:

Nguyên Thảo (VN Ecomomy) – Gạo liên tục giảm giá, cá tra mất thị trường, cà phê gặp hạn nặng… thế mạnh của nông nghiệp Việt Nam đang yếu đi rõ rệt…

(Xem thêm: Gạo Việt đang bị ép giá – Nghề nuôi cá tầm: Chưa kịp lớn đã đối diện với cái chết? – Hạn chế tầm nhìn thì dễ bị lòng tham chi phối – Biến đổi khí hậu tác động lên vùng đồng bằng Cửu Long – Cứu gạo hay cứu đất?) …


"Gạo là cứu cánh cho nền kinh tế song giá xuất khẩu giảm liên tục, cá tra là cứu cánh
của đồng bằng sông Cửu Long lại còn khó hơn, cử tri kêu than rất dữ".

Những năm gần đây, trong sự xiêu vẹo của nền kinh tế, vai trò của nông nghiệp vẫn được nhắc đến như "trụ đỡ", cứu cánh đặc biệt riêng có của Việt Nam.

Tuy nhiên, một năm trước, ở kỳ họp thứ ba của Quốc hội, đã có khá nhiều ý kiến cho rằng nông nghiệp chưa được đối xử công bằng và nông dân được hưởng ít nhất từ những thành quả phát triển kinh tế, xã hội. Nay, tiếp xúc cử tri trước kỳ họp Quốc hội thứ năm sẽ khai mạc vào ngày 20/5 tới đây, một số vị đại biểu đã không khỏi sốt ruột trước sự lung lay của "trụ đỡ" này.

Nền nông nghiệp đang có vấn đề, xuất khẩu thủy sản, cà phê và lúa đáng báo động, đại biểu Mai Thị Ánh Tuyết (An Giang) nhấn mạnh khi cùng Ủy ban Kinh tế xem xét báo cáo của Chính phủ về tình hình kinh tế xã hội tại phiên họp cuối tháng Tư vừa qua. Theo báo cáo của Chính phủ, trong quý 1/2013, chỉ có khu vực dịch vụ tăng trưởng cao hơn so với cùng kỳ năm trước đạt 5,65% (cùng kỳ tăng 4,99%). Công nghiệp và xây dựng tăng 4,93%, thấp hơn cùng kỳ cả ba năm từ 2010 – 2012.

Riêng nông lâm nghiệp và thủy sản chỉ đạt 2,24%, là mức tăng thấp nhất so với cùng kỳ các năm gần đây. “Giá trị xuất khẩu thủy sản giảm 2,3%, cà phê giảm 1,5%, gạo giảm 1,4%, đây là vấn đề đáng báo động, cần xem xét cho cặn kẽ để có giải pháp thật là căn cơ”, bà Tuyết sốt ruột. Nhiều tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, trong đó có An Giang, theo phản ánh của nữ đại biểu này đã rơi vào tình cảnh điêu đứng, khi hai sản phẩm xuất khẩu chủ lực là lúa và cá đã gần như bị tê liệt cả năm 2012 và quý 1/2013.

"Gạo là cứu cánh cho nền kinh tế song giá xuất khẩu giảm liên tục, cá tra là cứu cánh của đồng bằng sông Cửu Long lại còn khó hơn, cử tri kêu than rất dữ", bà Tuyết nói.

Cơ chế chính sách không phát huy hiệu quả, nghị quyết 02 của Chính phủ triển khai quá chậm nên gần như không có tác động gì được bà Tuyết nhìn nhận là các nguyên nhân quan trọng dẫn đến những khó khăn nói trên. Bên cạnh báo cáo của Chính phủ, thông tin đến từ các bộ chuyên ngành cũng cho thấy rõ hơn "sức khỏe" của nền nông nghiệp.

Bộ Công Thương, ở những mặt được của hoạt động xuất nhập khẩu cho biết kim ngạch của nhóm hàng nông sản, thủy sản giảm nhẹ 0,35% và tỷ trọng của nhóm hàng nông lâm sản giảm từ 19% xuống còn 15,8%. Còn ở chiều ngược lại, Bộ đánh giá, lượng xuất khẩu của một số mặt hàng nông sản giảm cho thấy sự hạn chế trong việc gia tăng sản lượng và sự phụ thuộc vào điều kiện thời tiết.

Thứ trưởng Bộ này, bà Hồ Thị Kim Thoa nói rằng, để tăng giá trị xuất khẩu nông sản đòi hỏi có sự tích cực của nhiều bộ ngành chứ riêng một bộ thì rất khó trả lời. “Hiện nay vẫn đang con gà đẻ trước hay quả trứng đẻ trước, quy hoạch thế nào, giống thế nào, tiêu thụ thế nào để có sản phẩm cạnh tranh là bài toán phải giải trong thời gian tới”, bà Thoa nói.

Đưa ra các con số cụ thể hơn, một vị thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết quý 1/2013 giá trị xuất khẩu nông sản tăng 6,2% nhưng, hết tháng 4 chỉ còn tăng ở mức độ rất thấp, là 0,4%. So với cùng kỳ năm trước, hàng nông sản chủ yếu là gạo và cao su giảm hơn 4%, thủy sản giảm hơn 3%. Đặc biệt là giá gạo xuất khẩu giảm 40% so với bình quân cùng kỳ nên lượng gạo xuất khẩu quý 1 tăng đến 34% nhưng kim ngạch thu về thấp hơn cùng kỳ năm trước.

Câu hỏi đặt ra là nếu thế thì nguyên nhân vì sao và ứng xử thế nào để định hướng cho nông dân, tôi tiếp xúc cử tri thì chỗ nào cũng hỏi đầu ra, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Nguyễn Văn Giàu ngắt lời. Trả lời rằng câu chuyện về thị trường, nhất là thị trường quốc tế thì cơ bản vẫn là Bộ Công Thương, song vị này cũng nhấn mạnh là trong nước cũng phải giải quyết các vấn đề của nội tại các doanh nghiệp xuất khẩu khi tình trạng tranh mua tranh bán vẫn quá nhiều, dù năm rồi đã giảm 100 đầu mối. Một số doanh nghiệp chủ lực như hai tổng công ty lương thực miền bắc và miền nam cũng có vấn đề tồn tại đang phải giải quyết, ông cho biết.

Tiếp mạch khó khăn, với cà phê, gian nan lại đến ngay từ khâu trồng trọt khi 20% diện tích đang khô hạn rất nghiêm trọng. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến 30% năng suất mà còn mất cả năm tiếp theo để phục hồi, vẫn thông tin từ ngành nông nghiệp. Nhìn về khả năng tăng trưởng của ngành từ nay đến cuối năm, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nêu ra khá nhiều ảnh hưởng không tích cực.

Đó là tình hình hạn hán gay gắt ở các tỉnh Tây Nguyên và Trung bộ có khả năng đến cuối tháng 8/2013 mới dần được cải thiện. Dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi diễn biến phức tạp, tiếp tục đe dọa sản xuất.

Bên cạnh đó thị trường tiêu thụ nông, lâm, thủy sản tiếp tục gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là đối với gạo, sản phẩm chăn nuôi, thủy sản.

Vì vậy, dù Chính phủ có “hứa” sẽ đẩy mạnh ưu tiên cho vay các lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, nông thôn, song nỗi lo của các vị đại biểu vẫn chẳng hề vơi.

Bởi, như dẫn chứng của một vị đại biểu đến từ Lạng Sơn, thì vừa qua Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh tỉnh này đã chuyển 1.000 tỉ đồng “về Trung ương”, vì huy động được nhưng không cho vay được.

Còn theo nhìn nhận của Phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Mai Xuân Hùng thì mặc cho nông dân nóng lòng chờ đợi, một số chính sách mà điển hình là mua thóc tạm trữ nói là hỗ trợ nông dân nhưng nông dân chưa hề được hưởng. Trong khi giá gạo vẫn giảm sâu và thị trường xuất khẩu gần như không có.

Gạo Việt đang bị ép giá
Nguyễn Huyền (VN Ecomomy) – Nguồn lúa hàng hóa mới dồi dào trong khi thị trường gạo xuất khẩu trầm lắng đang tạo nhiều áp lực…

“Giá gạo Việt Nam đang thấp hơn nhiều so với giá thế giới
nhưng khách hàng vẫn ngại mua vì nghĩ có khả năng giảm giá tiếp”.

Nhu cầu thấp, nguồn cung dồi dào đang tạo áp lực lên thị trường gạo xuất khẩu. Dự báo tiêu thụ lúa hè thu sẽ rất khó khăn và Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) đang đề nghị Chính phủ có kế hoạch mua tạm trữ…

Đó là thông tin đưa ra tại cuộc họp sơ kết xuất khẩu gạo tháng 4, bàn kế hoạch xuất khẩu tháng 5 của VFA mới đây.

Tuy số lượng hợp đồng ký nhiều nhưng giao hàng chậm, một số doanh nghiệp bị áp lực tồn kho và quay vòng vốn bắt buộc phải bán giá thấp để giải quyết đầu ra nên hiệu quả kinh tế không cao. Trong 4 tháng đầu năm, các doanh nghiệp đã ký được 4,231 triệu tấn gạo, tăng 9,92% so với cùng kỳ 2012. Số lượng hợp đồng còn lại giao từ tháng 5 là 2,08 triệu tấn.

Kết quả xuất khẩu trong tháng 4 đạt 700.710 tấn, trị giá FOB 301,066 triệu USD. Lũy kế xuất khẩu từ ngày 1/1 đến 30/4/2013 đạt 2,151 triệu tấn, trị giá FOB 942,418 triệu USD, giá xuất khẩu bình quân đạt 429,66 USD/tấn.

So với tháng 3/2013, sản lượng gạo xuất khẩu đã giảm 0,8%, trị giá FOB giảm 3,01%, giá xuất bình quân giảm 9,8 USD/tấn. Dự kiến tháng 5, các doanh nghiệp sẽ xuất khẩu 0,75 triệu tấn gạo, tháng 6 là 0,75 triệu tấn, quý 2 sẽ xuất khẩu 2,2 triệu tấn.

Giá gạo giao dịch trong tháng 4 giảm từ 10 – 15 USD/tấn so với tháng 3 và tiếp tục sụt giảm đã ảnh hưởng đến việc thực hiện các hợp đồng đã ký trước có giá cao hơn và tâm lý người mua chờ đợi giá giảm thêm để tránh rủi ro.

Giá xuất khẩu bình quân tháng 4 cũng giảm trên 28 USD/tấn so với cùng kỳ 2012. Hợp đồng đăng ký trong tháng 4 khá tốt, cao hơn số lượng xuất khẩu, gồm 187 ngàn tấn đã ký với NFA, nhưng khoảng 230 ngàn tấn gạo ký với tư nhân Philippines trước đó khó có khả năng thực hiện do chưa có quota và bị kiểm soát nhập lậu.

Tốc độ giao hàng đi Trung Quốc cũng khá chậm vì các thương nhân nước này đang muốn trì hoãn nhận hàng nhằm tạo áp lực lên xuất khẩu gạo Việt Nam để ký các hợp đồng mới giá thấp. Tuy số lượng hợp đồng chưa giao còn nhiều nhưng khả năng bị huỷ cũng lớn.

Với khả năng tài chính thấp, đến ngày 20/5 là hết thời hạn hỗ trợ lãi suất tạm trữ 1 triệu tấn gạo nên doanh nghiệp buộc phải bán ra để có tiền trả nợ vay. Tháng 6/2013, lúa hè thu sẽ thu hoạch, gạo đông xuân chưa bán hết, nguồn lúa hàng hóa mới dồi dào trong khi thị trường gạo xuất khẩu trầm lắng đang tạo nhiều áp lực cho ngành lúa gạo Việt Nam…

Hiện các nhà nhập khẩu gạo thế giới đều biết những thông tin này, nên dù gạo xuất khẩu của Việt Nam đang thấp ở mức nhất, nhì thế giới nhưng họ vẫn muốn ép giá gạo Việt Nam xuống thêm nữa. So sánh giá thị trường hiện nay và giá mua tạm trữ thì các doanh nghiệp đang bị lỗ khoảng 20 – 25 USD/tấn.

Ông Phạm Văn Bảy, Phó chủ tịch VFA nhận định, “giá gạo Việt Nam đang thấp hơn nhiều so với giá thế giới nhưng khách hàng vẫn ngại mua vì nghĩ có khả năng giảm giá tiếp”.

Trước thực tế này, VFA đề nghị Chính phủ xem xét kéo dài thời gian (2 – 3 tháng) thu hồi vốn vay mua tạm trữ 1 triệu tấn gạo đông xuân cho các doanh nghiệp (không hỗ trợ lãi suất) để không tạo áp lực trả nợ. Giá sàn loại gạo 35% tấm tiếp tục giữ ở mức 365 USD/tấn vì nếu hạ thêm, sẽ dưới giá thành sản xuất của nông dân và là điều bất hợp lý.

Ông Trương Thanh Phong, Chủ tịch VFA cho biết, sắp tới thị trường gạo xuất khẩu sẽ rất khó khăn. Tuy đang có diễn biến hết bất thường nhưng VFA khẳng định, sẽ tiếp tục giữ giá sàn hiện nay mà không hạ thêm nữa vì nếu hạ sẽ dưới giá thành sản xuất. Để giảm áp lực trả nợ cho doanh nghiệp khi đến hạn, VFA sẽ có văn bản đề nghị Chính phủ kéo dài thời gian trả nợ vì 1 triệu tấn gạo tạm trữ chưa có đầu ra.

Theo nguyện vọng của các tỉnh, thành đồng bằng sông Cửu Long, vụ hè thu tới VFA đề nghị chuyển giao tạm trữ lúa gạo về cho Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và UBND các tỉnh, thành điều hành.

(Nguồn: Thời báo Kinh tế Việt Nam)

Nghề nuôi cá tầm: Chưa kịp lớn đã đối diện với cái chết?
Mạnh Quân (VN Ecomomy) – Cá tầm Trung Quốc nhập lậu rồi núp dưới mác cá tầm Việt Nam đang làm nhiều doanh nghiệp trong nước sản xuất cá tầm điêu đứng…

Nuôi cá tầm trên hồ thuỷ điện Hàm Thuận – Đa Mi.
Khoảng một năm trở lại đây, cá tầm Trung Quốc nhập lậu rồi núp dưới mác cá tầm Việt Nam đang làm nhiều doanh nghiệp trong nước sản xuất cá tầm điêu đứng. Và hàng không bị nghi ngờ là kênh chính để cá tầm lậu đi từ Bắc vào Nam.

Lý giải vì sao cá tầm Trung Quốc chỉ qua đường hàng không để vào sâu nội địa, ông Lê Anh Đức, tổng giám đốc công ty Cá tầm Việt Nam, nói: “Cá tầm không thể đi theo đường thuỷ vì đi dài ngày cá sẽ chết. Chúng tôi đã cử cán bộ theo dõi và tận mắt thấy những lô hàng cá tầm được chuyển đến sân bay Tân Sơn Nhất, từ đó đưa về các cơ sở tại Tp.HCM và các tỉnh phía Nam. Hàng ngày có hàng chục tấn cá tầm nhập vào TP.HCM như vậy”.

Trong khi đó, theo ông Nguyễn Viết Thuỳ, viện Nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản 3, để nhập cá tầm vào Việt Nam phải có ít nhất ba loại giấy tờ: giấy chứng nhận nguồn gốc xuất xứ, giấy kiểm dịch, giấy phép của cơ quan quản lý Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES) và CITES Việt Nam khẳng định chưa từng cấp phép cho lô cá tầm Trung Quốc nào vào Việt Nam.

Tôi nhập lậu cá tầm từ Trung Quốc!

Tại hội nghị của hiệp hội Nuôi cá nước lạnh diễn ra tuần trước tại Đà Lạt, ông Nguyễn Văn Toản, Giám đốc Công ty TNHH Trường Toàn, cho biết, tuy có quy mô vừa nuôi, vừa mua bán, cung ứng ra thị trường hàng trăm tấn cá tầm/năm nhưng công ty này cũng mua cá tầm nhập về từ Trung Quốc, qua đường hàng không vận chuyển từ Hà Nội vào Tp.HCM để bán.

“Chúng tôi để song song hai loại cá: cá tầm Việt Nam và cá tầm Trung Quốc, khách hàng ai mua loại nào thì họ mua. Nhưng nói chung, chẳng ai phân biệt được đâu là cá Trung Quốc đâu là cá Việt Nam”, ông Toản nói.

Các thành viên của hiệp hội Nuôi cá nước lạnh ngạc nhiên vì đây là lần đầu tiên có một doanh nghiệp thừa nhận mình kinh doanh cá tầm từ nguồn nhập lậu mà điều này ảnh hưởng lớn đến việc nuôi, kinh doanh cá tầm trong nước. Tuy nhiên, ông Lê Anh Đức, tổng giám đốc công ty Cá tầm Việt Nam, nói rằng, ông hoan nghênh công ty Trường Toàn đã làm một việc là bán riêng hai loại cá như trên, để ít nhất người tiêu dùng còn phân biệt được.

“Hiện nay cá tầm Trung Quốc chất lượng kém hơn cá tầm Việt Nam, giá lại rất rẻ nhưng lại được nhập vào bằng con đường phi pháp mà nếu núp dưới tên cá tầm Việt Nam thì đó là điều không công bằng. Người tiêu dùng hiện nay đang bị lừa vì hầu hết cơ sở bán cá tầm đều nhập nhèm không ghi rõ là họ đang bán cá Trung Quốc”, ông Đức nói.

“Nếu để xuất xứ rõ ràng thì người tiêu dùng sẽ chọn cá tầm Việt Nam vì chất lượng cao, thịt thơm, không nuôi bằng thức ăn tăng trọng, nguồn giống thuần chủng, không lai tạp”, ông Đức khẳng định.

Chịu không nổi

Ngày 29/4, một vụ nhập lậu cá tầm Trung Quốc lên tới 1,9 tấn đã bị bắt và tiêu huỷ tại Hà Nội. Các thành viên hiệp hội Nuôi cá nước lạnh giật mình vì giá cá tầm Trung Quốc nhập lậu bán buôn, trừ chi phí giảm còn có 50.000 đồng/kg trong khi giá cá Việt Nam 140 – 180.000 đồng/kg.

Mức giá quá thấp như vậy thì không một doanh nghiệp nuôi cá nào của Việt Nam có thể cạnh tranh được trừ phi cho cá ăn thức ăn tăng trọng.

Ông Đỗ Tiến Thắng, giám đốc Công ty TNHH Thiên Hà (Lào Cai) kể công ty ông cũng nuôi cá tầm với sản lượng 50 – 60 tấn/năm nhưng hiện nay, do cá Trung Quốc nhập lậu vào quá nhiều nên phải thu hẹp quy mô sản xuất vì không cạnh tranh nổi. “Theo tôi, nếu giám sát, quản lý chặt chẽ về giấy tờ, ít nhất là nguồn gốc xuất xứ thì không có lô cá nào vào Việt Nam được”.

Ông Thắng gay gắt và cho biết, ông đã lặn lội cùng công nhân đóng giả người dân đến khu vực biên giới theo dõi “và có thể khẳng định riêng biên giới Lào Cai, hàng ngày có hàng chục tấn cá lậu nhập vào Việt Nam”.

* Ông Trần Văn Hào, Chủ tịch hiệp hội Nuôi cá nước lạnh Việt Nam nói rằng, sản lượng cá tầm Việt Nam và trứng cá tầm đã đạt mức khá cao. Tổng sản lượng cá nước lạnh năm 2012 là 800 tấn thì cá tầm chiếm 90% và khả năng sản lượng còn tăng mạnh. Ông Hào cho biết, hiệp hội sẽ có kiến nghị mạnh mẽ để yêu cầu các cơ quan hữu quan chức năng quyết liệt hơn trong việc ngăn chặn cá tầm nhập lậu đồng thời kêu gọi các doanh nghiệp xem lại quy trình sản xuất, kênh phân phối để làm sao vừa có giá thành hợp lý, vừa đảm bảo chất lượng, giữ và phát triển được thị trường trong cuộc cạnh tranh ngày càng khó khăn với cá tầm Trung Quốc.

(Nguồn: Sài Gòn Tiếp thị)

Hạn chế tầm nhìn thì dễ bị lòng tham chi phối
SGTT.VN – Làm thế nào để phát triển kinh tế “mang khuôn mặt con người” là câu hỏi thường trực khiến PGS.TS Trần Đình Thiên, viện trưởng viện Kinh tế Việt Nam, luôn suy nghĩ, tìm kiếm. Theo ông, nếu như tự do – quyền năng của kinh tế thị trường – được các nhà làm chính sách khai thông, sẽ ảnh hưởng tích cực đến cuộc sống và con người thị trường.

…Nói duy nhất một lực cản nào là chính thì hơi khó. Đúng nhất là nên kể một số lực cản. Theo tôi, một cách khái quát, ta chưa kiểm soát được nhịp độ cải cách thị trường là vì trước hết, chúng ta chưa giải quyết thật rõ ràng mối quan hệ cơ bản nhất của chiến lược phát triển – cơ chế bảo đảm sự kết hợp hiệu quả giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa. Công thức phát triển này, cũng là khái niệm quan trọng nhất của sự phát triển hiện đại của Việt Nam, đã được nêu ra vài chục năm nay, vẫn chưa có sự giải thích đầy đủ, thuyết phục.

Nguyên nhân thứ hai là vấn đề tầm nhìn phát triển – là nhận thức, là tư duy về thời đại cho đúng tầm thời đại. Nghĩa là phải định vị đúng đất nước mình trong thời đại toàn cầu hoá và kinh tế tri thức, thời đại công nghệ cao để tìm cơ hội bứt phá, để vượt lên, sao cho có thể dần tiến kịp các nước đi trước chứ không phải cứ tiếp tục tụt hậu, thậm chí tụt hậu xa hơn, như hiện nay.

Cho đến nay, nền kinh tế nước ta vẫn chưa thoát khỏi mô hình tăng trưởng dựa chủ yếu vào khai thác và xuất khẩu tài nguyên thô, vào công nghiệp lắp ráp và gia công; bị lệ thuộc nặng vào vốn đầu tư dễ. Mô hình tăng trưởng này phải được vượt bỏ nhanh thì nước ta mới có cơ hội “tiến kịp để tiến cùng thời đại”. Mà thời đại ngày nay lại chính là thời đại “nhanh thì thắng, còn chậm thì chẳng bao giờ”.

Gần đây, ta nói nhiều về đổi mới mô hình tăng trưởng, về tái cơ cấu. Nhưng thực tế chưa làm được bao nhiêu. Một phần quan trọng là do những khó khăn ngắn hạn ngày càng gay gắt, phải tập trung trí tuệ và nguồn lực để lo tháo gỡ, chạy chữa. Nhưng một phần quan trọng là do tầm nhìn hạn chế, lại bị thiên kiến đè nặng, mãi chưa thoát khỏi cách nhìn phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế, vẫn muốn Nhà nước chi phối, dẫn dắt thị trường chứ chưa phải Nhà nước dựa vào thị trường và cùng với thị trường điều tiết nền kinh tế. Bị trói trong cái này thì khó thông thoáng, không thể mạnh dạn mở cửa, tích cực chuẩn bị các điều kiện cho hội nhập. Mà khi bị hạn chế tầm nhìn thì dễ mắc bệnh thiển cận, dễ bị lòng tham chi phối.

…Cụ thể hiện nay, niềm tin thị trường chỉ có khi các chính sách quản trị và điều hành vĩ mô bảo đảm được tính nhất quán và sự ổn định. Trong thời gian qua, đây là một trong những điểm yếu nhất trong hoạt động điều hành kinh tế vĩ mô của nước ta. Việc điều hành chủ yếu dựa vào các giải pháp hành chính, được sử dụng thường xuyên nhưng rất khó phối hợp và gây xung đột.
Vì vậy, kể từ khi trở thành thành viên WTO, mặc dù có nhiều cơ hội lớn để bứt phá phát triển, nền kinh tế nước ta lại rơi vào trạng thái khó khăn không bình thường: tốc độ tăng trưởng suy giảm liên tục, lạm phát cao, lên xuống thất thường, rơi vào bất ổn kéo dài, bộc lộ rõ những điểm yếu nghiêm trọng về cơ cấu, những bất cập của mô hình tăng trưởng.

Trong điều kiện như vậy, lòng tin suy giảm mạnh là không tránh khỏi. Môi trường chính sách thay đổi quá nhanh, lại mang tính hành chính cao độ nên khó đoán định. Đó là chưa kể sự phân biệt đối xử trong cách điều hành, rồi cơ chế xin – cho tuỳ tiện. Khi đó, doanh nghiệp sẽ không biết phải ứng xử chính sách thế nào cho phù hợp. Đó là chưa kể tinh thần hỗ trợ doanh nghiệp, nhất là khu vực tư nhân, của các chính sách nhiều khi không rõ, thậm chí rất yếu. Có thể nêu cách điều hành chính sách lãi suất vài năm qua làm ví dụ.

Một yếu tố khác ảnh hưởng tiêu cực đến lòng tin của doanh nghiệp là tính công khai, minh bạch của môi trường thông tin. Ai cũng biết môi trường thông tin thiếu công khai minh bạch thì không thể hoạch định chiến lược và chính sách đúng. Đây chính là loại rủi ro phát triển lớn nhất trong thời đại công nghệ thông tin.

Gầy dựng lại lòng tin thị trường, doanh nghiệp, chắc chắn không thể ngày một ngày hai và bằng cách thức dễ dàng. Và tuyệt đối không thể theo lối mị dân.

Chúng ta thường nghe câu “khủng hoảng, khó khăn là cơ hội của cải cách”. Chúng ta tin vào nguyên lý đó. Chúng ta chờ đợi điều đó xảy ra sớm trong nền kinh tế nước ta. Nhưng cho đến nay, đã sáu năm sau khi gia nhập WTO, nền kinh tế ngày càng khó khăn, số doanh nghiệp “ra đi” tiếp tục tăng lên. Nhưng cải cách – dưới hình hài cụ thể là tái cơ cấu, là đổi mới mô hình tăng trưởng, vẫn tiếp tục là cơ hội mà chưa thấy chuyển hoá thành hiện thực như trông đợi. Để lấy lại lòng tin, chỉ có một cách: hành động cải cách thực sự, quyết liệt và bài bản. Tái cơ cấu kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng phải diễn ra thực, không thể chỉ “quyết liệt” hô hào, chỉ dừng lại ở các đề án trên giấy và các cuộc tranh luận trong các phòng họp.

Điểm cuối cùng tôi muốn nói: muốn được dân tin, doanh nghiệp tin thì trước hết Nhà nước, Chính phủ phải tin dân, tin doanh nghiệp. Vế thứ hai này lâu nay ít được quan tâm. Vai trò của khu vực kinh tế tư nhân không được đánh giá đúng, vị thế của lực lượng doanh nghiệp trong phát triển chưa được coi trọng đúng mức. Chức năng của thị trường còn bị bộ máy quản lý điều hành nhà nước lấn át, chèn ép.

Nhìn vào số lượng doanh nghiệp bị phá sản, ông có chia sẻ gì với doanh nhân khi được mất, thành bại… chỉ trong gang tấc?

Tôi luôn luôn coi doanh nhân là lực lượng quyết định sự phát triển trong nền kinh tế thị trường. Ở đây, tôi nhấn mạnh khu vực tư nhân bởi vì đây là lực lượng yếu thế, thường là đối tượng bị phân biệt đối xử, trong khi nó cần phải được đối xử một cách công bằng và bình đẳng với các thành phần kinh tế khác, trước hết là đối với khu vực doanh nghiệp nhà nước.

Trong quan niệm của tôi, việc hình thành lực lượng doanh nghiệp mà chúng ta có như ngày hôm nay, dù còn nhiều yếu kém, vẫn phải được coi là thành quả quan trọng nhất của công cuộc đổi mới. Đổi mới mang lại rất nhiều kết quả to lớn, thậm chí, có những kết quả mang tính đổi đời như tăng trưởng GDP, tăng trưởng xuất nhập khẩu, hay ấn tượng còn hơn thế – thành tựu xoá đói giảm nghèo. Nhưng lực lượng doanh nghiệp – chủ thể quyết định sự phát triển của nền kinh tế thị trường, lực lượng định vị chân dung thời đại của Việt Nam, quyết định vị thế của Việt Nam trong tấm bản đồ kinh tế thế giới hiện đại, phải được coi là thành quả quan trọng nhất của quá trình đổi mới.

Với quan niệm như vậy, ai chẳng đau lòng khi thấy hàng trăm ngàn doanh nghiệp “ra đi” trong vài năm qua. Nhưng không có gì phải bi luỵ. Nó trái với bản lĩnh, khí phách của dân tộc Việt, con người Việt. Tất nhiên, các doanh nhân Việt Nam đang trải qua một cuộc thử lửa khốc liệt. Cạnh tranh quốc tế sống còn, bươn chải kinh doanh trong điều kiện lạm phát bất thường và lãi suất cao vượt trội các đối thủ cạnh tranh quốc tế của mình – tôi chia sẻ với doanh nghiệp Việt Nam tất cả những khó khăn này. Nhưng từ đây, để thực sự công bằng, cần phải nhìn nhận vấn đề từ cả hai góc độ. Một là mổ xẻ những nguyên nhân thuộc về mô hình phát triển, cơ chế và chính sách vận hành, các giải pháp điều tiết – tức là những nguyên nhân gắn với hệ thống quản trị, điều hành kinh tế quốc gia với chủ thể là Nhà nước, làm cho các doanh nghiệp của ta chậm lớn, khó phát triển, thậm chí, không muốn phát triển theo đúng nghĩa. Hai là phải làm rõ xem doanh nghiệp Việt Nam bươn chải lên như thế nào – có bản lĩnh, tự xây đắp năng lực để tự vươn lên, để thắng trong cạnh tranh hay vẫn mang tâm lý dựa dẫm Nhà nước, chỉ ham “đánh quả”, đầu cơ chụp giật. Câu hỏi phải được đặt ra một cách nghiêm túc là tại sao doanh nghiệp Việt Nam chậm lớn đến vậy? Nguyên nhân tự thân từ doanh nghiệp là ở đâu? Tôi nghĩ rằng câu hỏi chưa được đông đảo các doanh nghiệp tìm cách trả lời một cách nghiêm túc và nghiêm khắc. Những nguyên nhân yếu kém tự thân của một bộ phận không nhỏ doanh nghiệp Việt Nam đang bộc lộ ngày càng rõ – thói dựa dẫm (hay cấu kết?) vào Nhà nước, tính ham đầu cơ chụp giật, sự ham thích kinh doanh kiểu “đánh quả”, ngại cạnh tranh, thiếu tầm nhìn chiến lược, v.v. đang bắt họ phải trả giá. Mọi sự đang vận hành đúng theo nguyên lý: lợi nhuận dễ thì rủi ro càng lớn.(…)

Biến đổi khí hậu tác động lên vùng đồng bằng Cửu Long
Thanh Phương (Vi RFI) – Vào đầu tháng Tư vừa qua, Cơ Quan Viện Trợ Quốc Tế Hoa Kỳ – Ủy Ban Đặc Trách Phát Triển Khu Vực Á Châu (USAID-RDMA) đã ra một báo cáo về tác động của biến đổi khí hậu đối với vùng hạ lưu Mekong, trong đó có vùng đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam.

Một đồng lúa ở vùng đồng bằng Cửu Long
Trước những tác động này, nông dân đồng bằng Cửu Long và chính quyền Việt Nam nên có những biện pháp như thế nào để đối phó? Sau đây mời quý vị nghe phần phỏng vấn với tiến sĩ Huỳnh Long Vân, Nhóm Nghiên cứu Văn hóa Đồng Nai Cửu Long Úc châu. (Nghe và xem theo link)

Tiến sĩ Huỳnh Long Vân : Báo cáo của Cơ Quan Viện Trợ Quốc Tế Hoa Kỳ – Ủy Ban Đặc Trách Phát Triển Khu Vực Á Châu (USAID-RDMA), mang tên “Khả năng Thích ứng và Hồi phục của vùng Mekong đối với BĐKH” là đề án nghiên cứu khoa học có thời hạn 5 năm được USAID-RDMA tài trợ, có mục đích nghiên cứu những tác động của Biến đổi khí hậu (BĐKH) và ứng phó của vùng hạ lưu Mekong.

Đặc điểm của phần nghiên cứu là chọn 9 tỉnh thành tiêu biểu trong vùng hạ lưu Mekong và xem đây như là những “điểm nóng” của khu vực gồm : Kiên Giang và Gia Lai ở Việt Nam, Mondul Kiri, Kamong Thom và Stung Treng ở Cao Miên; Champasak và Khammouan ở Lào và Sakon Nakhon và Chang Rai ở Thái Lan. Những nơi này có những đặc tính tượng trưng cho hệ sinh thái của toàn thể lưu vực, sản xuất hỗn hợp các mùa màng chánh có giá trị thương mại, được dự đoán có nhiệt độ không khí và lượng mưa biến đổi và sau cùng những thay đổi do BĐKH sẽ gây ra những thiệt hại đáng kể về sản xuất và cuộc sống của người dân nơi đây. Để từ đó tìm hiểu về những tác động của BĐKH trên hệ sinh thái, trên các khu vực trồng trọt hiện rất thích hợp cho mùa màng và trên cuộc sống cùng cơ hội sống còn của người dân điạ phương.

Kết quả nghiên cứu được công bố tại Bangkok vào 08/04/2013 cho thấy những ảnh hưởng của BĐKH trên hạ lưu Mekong có phần nghiêm trọng hơn các nơi khác trên thế giới. Ông Jeremy Carew-Reid, người cầm đầu đề án nghiên cứu đồng thời cũng là Giám Đốc Trung tâm Quốc tế Quản lý Môi trường cho rằng vùng hạ lưu Mekong sẽ trải nghiệm những biến đổi cực đoan về nhiệt độ và lượng mưa, vượt xa những tiên đoán trước đây; nhiệt độ không khí trong vùng có chiều hướng tăng gấp 3 lần so với các nơi khác trên thế giới và đến năm 2050, nhiệt độ không khí vùng hạ lưu Mekong tăng khoảng 4°C.

Báo cáo này còn cho biết là dưới ảnh hưởng của nhiệt độ tăng và thiếu nước vào mùa khô, năng suất của lúa sẽ giảm ở 7 (ngoại trừ Sakon Nakhon) trong số 8 nơi [Mondul Kiri, Kampong Thom, Stung Treng (Cao Miên); Gia Lai (Việt Nam); Champasak, Khammouan (Lào); Chang Rai, Sakon Nakhon (Thái Lan)] được nghiên cứu. Những vùng hiện nay trồng cây cà phê như Gia lai của Việt Nam, Mondul Kiri ở phía Đông Cao Miên và Champasak, Attapeu của Lào trong tương lai sẽ không còn thích hợp, do nhiệt độ không khí và lượng mưa gia tăng. (…)

Cứu gạo hay cứu đất?
SGTT.VN – Tranh cãi xoay quanh vấn đề Nhà nước nên hay không nên cứu các doanh nghiệp bất động sản vẫn chưa có hồi nghỉ và Nhà nước vẫn chưa có động thái quyết liệt cho một giải pháp nào thì ở một lĩnh vực khác – nông nghiệp – vẫn đang mỏi mòn chờ đợi “bàn tay” của Chính phủ.

Có ý kiến cho rằng nên cứu vì lo ngại các doanh nghiệp bất động sản với lượng tồn kho khủng cùng các ngân hàng thương mại đang điêu đứng với lượng “nợ xấu bất khả… đòi” sẽ đẩy kinh tế Việt Nam vào tình trạng khủng hoảng trong dài hạn. Nhưng cũng có ý kiến cho rằng nên để thị trường bất động sản “rơi tự do” nhằm thanh trừ các doanh nghiệp yếu, tạo điều kiện cho người dân có cơ hội “mua nhà giá thấp” và hệ thống ngân hàng có điều kiện phục vốn.

Trong khi cuộc bàn cãi này vẫn chưa có hồi nghỉ và Nhà nước vẫn chưa có động thái quyết liệt cho một giải pháp nào thì ở một lĩnh vực khác – nông nghiệp – vẫn đang mỏi mòn chờ đợi “bàn tay” của Chính phủ. Bài toán đặt ra là Nhà nước phải can thiệp vào bên nào trước để đảm bảo lợi ích lâu dài của quốc gia? (…)

Tranh cãi xoay quanh vấn đề Nhà nước nên hay không nên cứu các doanh nghiệp bất động sản vẫn chưa có hồi nghỉ và Nhà nước vẫn chưa có động thái quyết liệt cho một giải pháp nào thì ở một lĩnh vực khác – nông nghiệp – vẫn đang mỏi mòn chờ đợi “bàn tay” của Chính phủ.

Chọn lối nào?

Có bốn kịch bản cho hành động của Chính phủ trong thời gian tới.

Một là cứu cả hai (nông nghiệp lẫn bất động sản). Đây sẽ là việc rất khó cho Nhà nước khi ngân sách eo hẹp và nguồn lực thiếu thốn.

Hai là để cả hai tự bơi. Kịch bản này khó có thể diễn ra khi hơn lúc nào hết Chính phủ phải đảm bảo vai trò của mình trong việc giải cứu nền kinh tế đang lâm vào suy thoái trầm trọng. Việc để “bàn tay vô hình” theo cơ chế thị trường điều chỉnh, theo lý thuyết kinh tế, chỉ có thể đưa nền kinh tế trở lại cân bằng trong dài hạn, nghĩa là cả hai sẽ chết trước khi được cứu.

Hai kịch bản còn lại là tập trung “cứu một trong hai”. Như đã phân tích ở trên, bàn cân đang nghiêng về nông dân – nông nghiệp – nông sản nhưng trong thực tế, đáng buồn thay lời kêu cứu từ phía họ vẫn chưa được chú ý thật sự. Ông bà xưa có câu “nước xa không cứu được lửa gần”. Nếu tiếp tục chần chừ, ngành nông nghiệp sẽ càng khó thoát khỏi giá rẻ và hao hụt thặng dư sản phẩm!

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.