‘Thứ nhất hậu duệ…’

Posted: August 10, 2013 in Uncategorized
Tags:

Nguyễn Hưng Quốc (VOA-Blog) – Tôi mới được nghe, từ một người bạn, một câu tục ngữ mới về quy chế tuyển dụng nhân sự ở Việt Nam hiện nay:

Thứ nhất hậu duệ – Thứ nhì quan hệ – Thứ ba tiền tệ – Thứ tư trí tuệ


Cùng đề tài, trước đây, tôi đã nghe một câu tục ngữ khác:

Thứ nhất tiền tệ – Thứ nhì hậu duệ – Thứ ba ngoại lệ – Thứ tư đồ đệ

Câu đầu hay hơn. Và có lẽ cũng đúng với thực tế hơn. Ngay cả khi quen biết rộng rãi hay có tiền bạc nhiều đến mấy, một trí thức ngoài 30 tuổi chưa từng có kinh nghiệm về chính trị hay quản lý không thể bỗng dưng nhảy vọt một cái lên làm Thứ trưởng Bộ xây dựng như Nguyễn Thanh Nghị; một phụ nữ khác, mới ngoài 30 tuổi, không thể nắm giữ chức chủ tịch của hết công ty này đến công ty khác, trong đó có Ngân hàng Bản Việt với số vốn lên đến 142 triệu Mỹ kim như Nguyễn Thanh Phượng; một thanh niên khác, trẻ hơn, mới ngoài 20 tuổi, không thể bỗng dưng được cử làm giám đốc Trung tâm Hỗ trợ và Phát triển Sinh viên Việt Nam như Nguyễn Minh Triết; một thiếu nữ khác, mới 25 tuổi, không thể vụt một cái nhảy lên làm Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng Vinaconex – PVC, một công ty có gần 2000 cán bộ công nhân viên như Tô Linh Hương.

Những người trên là ai? Ba người đầu là con của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, người cuối là con của ông Tô Huy Rứa, trưởng ban Tổ chức Trung ương đảng.

Trong nhiều bài báo đăng đây đó, một số người đã nêu lên hiện tượng “thái tử đảng” ở Việt Nam (cũng như ở Trung Quốc), một hiện tượng còn được gọi là CCCC (con cháu các cụ; thay cho cách nói con ông cháu cha quen thuộc trước đây). Không cần thông minh, không cần tài năng, không cần học giỏi, không cần kinh nghiệm, chỉ cần là con nhà nòi thôi, vô số người đã nhảy phóc lên được những chiếc ghế quyền lực và béo bở trong guồng máy kinh tế cũng như guồng máy chính trị trong nước. Có khi không nhảy được, “các cụ” sẽ bồng ẵm họ lên, bỏ vào các chiếc ghế hiếm hoi và quý báu ấy.

Điều cần lưu ý là những điều được giới truyền thông nhắc nhở nhiều nhất thường chỉ là những hiện tượng nổi bật nhất. Họ không thể đề cập đến mọi chuyện. Còn vô số những vụ bổ dụng khác, nhỏ và thầm lặng hơn, vẫn lan tràn đầy trong xã hội nhưng không được nói đến. Bản thân tôi biết được ít nhất cũng năm bảy người, vốn đi học ở Úc, phần lớn không học xong cái gì cả, hoặc nếu xong, may lắm được một bằng cử nhân, khi về lại Việt Nam, một thời gian ngắn sau, nghe nói đã làm giám đốc công ty này, công ty nọ. Lý do: bố mẹ là những quan chức lớn, có người là bộ trưởng hay thứ trưởng.

Hiện tượng gọi là thái tử đảng hay CCCC, thật ra, cũng không có gì lạ. Ngay từ trước, với chủ trương bổ dụng cán bộ dựa trên “hồng” (chính trị) hơn là “chuyên” (chuyên môn hoặc học thức) đã là một truyền thống kéo dài ít nhất từ những năm giữa cuộc kháng chiến chống Pháp. “Hồng” có hai loại: một, thuộc thành phần “cốt cán”, ưu tiên hàng đầu là công nhân hoặc bần cố nông; hai, thuộc thành phần có lý lịch tốt, mà lý lịch tốt nhất là con cái các cán bộ gộc. Hiện nay, chỉ có một sự thay đổi lớn: thành phần được gọi là “cốt cán” biến mất. Chỉ còn lại thành phần con cháu các cán bộ gộc.

Một số người lý luận: Ngay ở Mỹ cũng có hiện tượng “thái tử đảng” (princeling) như thế: vợ hay con cái của những người có chức quyền cao, như Tổng thống hay Phó tổng thống, Thượng nghị sĩ nổi tiếng cũng thường có ưu thế hơn hẳn những người khác trên con đường chính trị. Trong mấy chục năm vừa qua, dòng họ Clinton hay Bush thay nhau nắm chính quyền và còn hứa hẹn lảng vảng trên sân khấu quyền lực rất lâu. Tuy nhiên, thực chất vấn đề ở đây khác hẳn hiện tượng thái tử đảng ở Việt Nam hay Trung Quốc. Ở Mỹ, vợ hay con cháu của những chính khách lớn có nhiều ưu thế chủ yếu ở ba lãnh vực: Một, sống trong một gia đình có truyền thống hoạt động chính trị, họ dễ học hỏi được nhiều kinh nghiệm về chính trị từ rất sớm; hai, họ có mạng lưới quen biết rất rộng; và ba, tên tuổi của họ được nhiều người biết, do đó, dễ thu hút được dư luận. Hết. Tổng thống Bill Clinton không thể bế vợ lên đặt vào chiếc ghế Thượng nghị sĩ và sau đó, Bộ trưởng Ngoại giao. Tổng thống George Bush (cha) không thể ẵm George W. Bush lên làm Tổng thống thứ 43 của Mỹ, và sắp tới, năm 2016, họ cũng không thể đưa Jeb Bush lên làm Tổng thống. Tất cả những người ấy đều phải tự mình tranh đấu để giành giật cho được chiếc ghế quyền lực. Người quyết định cuối cùng vẫn là dân chúng. Bằng lá phiếu của họ.

Ưu tiên thứ hai trong việc được bổ dụng hay đề bạt là quan hệ. Quan hệ có ba loại: một, bà con; hai, bạn bè; và ba, quen biết. Trong loại thứ ba còn có một trường hợp phụ: được sự giới thiệu của một người quen biết. Loại thứ ba này, thật ra, không đủ để có việc hay được thăng chức. Nó thường phải đi kèm với ưu tiên thứ ba: tiền tệ.

Tôi biết khá nhiều sinh viên du học ở Úc về nhưng vì không có “quan hệ” hay “tiền tệ”, suốt cả mấy năm trời, vẫn cứ đi lang thang kiếm việc. Mà bằng cấp không phải nhỏ. Một số có bằng Thạc sĩ từ những trường thuộc loại lớn nhất ở Úc. Và ngành chuyên môn của họ không phải là không quan trọng. Có người học Kinh tế, có người học Tin học, thậm chí, có người học Y khoa. Về, vẫn không có việc. Tôi ngạc nhiên nhất là trường hợp một số người học Y khoa mà về, vẫn loay hoay chạy đôn chạy đáo để tìm việc. Cả năm trời vẫn không được. Trước, tôi cứ tưởng đó là lãnh vực Việt Nam đang rất cần. Có bằng cấp từ Úc lại càng cần. Vậy mà không phải. Hỏi, mới biết, để được nhận làm việc trong các bệnh viện lớn, người ta phải đút lót cả mấy chục, thậm chí, mấy trăm triệu đồng. Có người, sau khi được người quen giới thiệu, được nhận vào một bệnh viện lớn, nhưng vì không có tiền đút lót nên phải chấp nhận một điều kiện khó khăn: thực tập không lương trong vòng một năm!

Nghe, lúc đầu, tôi cứ ngờ ngợ. Sau, tôi phải hỏi một người bạn vốn là một cán bộ khá lớn từ Việt Nam mới sang. Anh cười: “Ồ, đó là chuyện thường! Ngay cả sinh viên tốt nghiệp các trường sư phạm ra, muốn có nơi trong thành phố nhận dạy, cũng phải đút lót. Trường lớn, giá cao; trường nhỏ, giá rẻ. Không có tiền thì chỉ có nước về nông thôn, có khi là nông thôn thật hẻo lánh, thậm chí, không có cả điện nước!”

Không phải ngẫu nhiên mà gần đây nhiều cán bộ cao cấp cũng phải thừa nhận là có hiện tượng chạy chức, chạy quyền. Làm cán bộ cấp quận, cấp huyện cũng phải mất ít nhất một trăm hoặc vài trăm triệu. Đó là những chức vụ lèng èng. Còn các chức vụ cao cấp, có nhiều quyền lực và quyền lợi, từ các cơ quan cấp tỉnh và thành phố đến cấp trung ương, đặc biệt các tập đoàn nhà nước thì sao? Nghe nói, mỗi chiếc ghế đều có giá riêng.

Người bạn đã đọc cho tôi nghe câu tục ngữ dẫn ở đầu bài viết này, sau đó, kể tiếp: Anh có mấy người cháu từ Việt Nam được gia đình gửi sang Úc du học. Học xong, các em về Việt Nam để thăm dò tình hình công việc. Cả mấy tháng trời vẫn không được nơi nào hứa hẹn cả. Bài học lớn duy nhất mà các em học được là mấy câu tục ngữ trên. Nản quá, các em quay lại Úc và tìm cách để ở lại Úc luôn.

Trong hai câu tục ngữ trên, ở câu sau, phần trí tuệ bị gạt bỏ; ở câu trên, đứng ở vị trí cuối cùng. Điều đó cho thấy Việt Nam đang ở vị thế rất lạ so với thế giới hiện đại, ở đó, học vấn, kiến thức và tài năng bao giờ cũng được coi trọng, được xem là điều kiện tối cần để xây dựng và phát triển đất nước. Hơn nữa, đó cũng là cách thức tốt nhất để thực hiện dân chủ: Trong khi dân chủ, bất cứ là nền dân chủ nào, cũng không thể bảo đảm sự bình đẳng cho tất cả mọi người, ở đâu người ta cũng cố gắng bắt đầu từ hai điểm căn bản: Một, sự bình đẳng trong giáo dục; và hai, sự bình đẳng trong cơ hội bổ dụng chỉ dựa vào một tiêu chuẩn duy nhất: tài năng (vốn là một kết quả của giáo dục).

Nhưng dù sao, nghĩ lại, cũng thấy tình hình Việt Nam bây giờ cũng may mắn lắm. Ngày trước, chỉ cách đây mấy chục năm, có lúc trí tuệ còn bị cho là không bằng một cục phân nữa!

Một kẻ hở quá to trong sự phân loại của Nghị định 72
Tâm Sự Y Giáo – Nghị định 72 ra đời hơn một tuần nay, và đã trở thành “nổi tiếng”, thậm chí là một “cơn sốt” không chỉ ở Việt Nam mà ngay cả ngoài nước. Trong nghị định này, điểm được tập trung phân tích, bình luận nhiều nhất là Điều 20, có nội dung như sau:

Điều 20: Phân loại trang thông tin điện tử

Trang thông tin điện tử được phân loại như sau:

1. Báo điện tử dưới hình thức trang thông tin điện tử

2. Trang thông tin điện tử tổng hợp là trang thông tin điện tử của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp cung cấp thông tin tổng hợp trên cơ sở trích dẫn nguyên văn, chính xác nguồn tin chính thức và ghi rõ tên tác giả, hoặc tên cơ quan của nguồn tin chính thức, thời gian đã đăng, phát thông tin đó.

3. Trang thông tin điện tử nội bộ là trang thông tin điện tử của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp cung cấp thông tin về chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, sản phẩm, dịch vụ, ngành nghề và thông tin khác phục vụ cho hoạt động của chính cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp đó và không cung cấp thông tin tổng hợp.

4. Trang thông tin điện tử cá nhân là trang thông tin do cá nhân thiết lập hoặc thiết lập thông qua việc sử dụng dịch vụ mạng xã hội để cung cấp, trao đổi thông tin của chính cá nhân đó, không đại diện cho tổ chức hoặc cá nhân khác và không cung cấp thông tin tổng hợp.

5. Trang thông tin điện tử ứng dụng chuyên ngành là trang thông tin điện tử của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ ứng dụng trong lĩnh vực viễn thông, công nghệ thông tin, , phát thanh, truyền hình, thương mại,, tài chính, ngân hàng, văn hóa, y tế, giáo dục và các lĩnh vực chuyên ngành khác và không cung cấp thông tin tổng hợp.

(Trong đó, theo điểm 19, Điều 3: Thông tin tổng hợp là thông tin được tổng hợp từ nhiều nguồn thông tin, nhiều loại hình thông tin về một hoặc nhiều lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội.
Còn theo điểm 21, Điều 3: Trang thông tin điện tử (website) là hệ thống thông tin dùng để thiết lập một hoặc nhiều trang thông tin được trình bày dưới dạng ký hiệu, số, chữ viết, hình ảnh, âm thanh và các dạng thông tin khác phục vụ cho việc cung cấp và sử dụng thông tin trên Internet).

Sở dĩ trích dẫn một cách dài dòng như trên là để lát nữa ta đối chiếu cho nó dễ.

Trước hết cần xác định rõ về nguyên tắc phân loại: các trường hợp không được chồng lấn lên nhau, và các trường hợp phải bao gồm hết tất cả các khả năng có thể xảy ra.

Nếu đọc kỹ các nội dung trên, ta có thể nhận thấy sự phân loại các trang thông tin điện tử như trên là không rõ ràng về tiêu chí phân loại. Đã có sự nhập nhằng giữa hai tiêu chí: đối tượng thiết lập trang thông tin điện tử và việc có cung cấp thông tin tổng hợp hay không.

Để làm rõ vấn đề, ta tạm gọi đối tượng thiết lập trang thông tin điện tử gồm cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp là đối tượng loại I, còn cá nhân là đối tượng loại II; trang thông tin điện tử (TTĐT) cung cấp thông tin tổng hợp là trang loại A, còn trang TTĐT không cung cấp thông tin tổng hợp là trang loại B.

Thế thì sự phân loại các trang TTĐT một cách đầy đủ, đồng thời tuân theo cả hai tiêu chí, phải bao gồm 4 loại sau đây:

1- Trang TTĐT loại I-A: do cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp thiết lập, có cung cấp thông tin tổng hợp.

2- Trang TTĐT loại I-B: do cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp thiết lập, không cung cấp thông tin tổng hợp.

3- Trang TTĐT loại II-A: do cá nhân thiết lập, có cung cấp thông tin tổng hợp.

4- Trang TTĐT loại II-B: do cá nhân thiết lập, không cung cấp thông tin tổng hợp.

Rõ ràng, ngoại trừ loại báo điện tử thì sự phân loại các trang TTĐT trong điều 20 của Nghị định 72 mới chỉ đề cập đến 3 loại 1, 2 và 4. Trang TTĐT chuyên ngành và trang TTĐT nội bộ chẳng qua đều thuộc vào loại 2, tức I-B.

Đương nhiên, sự phân loại nói trên thiếu hẳn đi loại 3, nghĩa là thiếu loại trang TTĐT do cá nhân thiết lập và có cung cấp thông tin tổng hợp.

Cả thảy có 4 trường hợp thì lại thiếu mất một trường hợp! Rõ ràng đây là một “kẽ hở” quá to, to ghê gớm khi ban hành văn bản. Nói cách khác, phân loại như thế là hoàn toàn không đạt yêu cầu !

Ta sẽ không đi sâu để lý giải về cái “sự thiếu vắng” này.

Chỉ cần biết rằng trên thế giới, các nhân vật nổi tiếng thông thường đều có những trang thông tin điện tử của riêng mình. Và nhiều trang trong số đó có “cung cấp thông tin tổng hợp”. Chẳng hạn 2 trường hợp sau của Oprah Winfrey và Christiane Amanpour.

Oprah Winfrey là người dẫn chương trình, diễn viên, nhà sản xuất lừng danh của Mỹ. Bà được coi là người Mỹ gốc Phi giàu nhất thế giới của thế kỳ 20, là nhà từ thiện da đen lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ, và bà đã từng là một trong những người phụ nữ quyền lực nhất thế giới. Trang TTĐT của bà có địa chỉ oprah.com, đề cập đến đủ thứ chuyện, từ sức khỏe, thời trang, ẩm thực đến chính trị… Chỉ riêng blog của Oprah đã có tới 74 đề tài.

Christiane Amanpour là nhà báo hàng đầu của Mỹ, hiện đang là Trưởng ban quốc tế của kênh CNN. Trang blog của Amanpour bao gồm rất nhiều thông tin về chính trị, xã hội của bà và đồng nghiệp đối với rất nhiều quốc gia ở chấu Á, châu Phi.

Hẳn nhiên, các trang cá nhân của Oprah, Amanpour đều “cung cấp thông tin tổng hợp”.

Trang web của Oprah Winfrey

Trang blog của Christiane Amanpour

Nếu theo tinh thần Nghị định 72, thì sẽ chẳng biết xếp những trang TTĐT của Oprah, Amanpour và vô vàn những trang TTĐT khác trên thế giới vào loại nào.

Riêng ở Việt Nam, có một thực tế là đang tồn tại rất nhiều trang TTĐT do cá nhân thiết lập và có cung cấp thông tin tổng hợp. Những trang như thế sẽ thuộc lại nào trong sự phân loại của Nghị định 72, và tên gọi của chúng là gì?

Sự thiếu vắng một trong bốn loại trang TTĐT trong một bản nghị định của nhà nước không thể thay thế cho một sự ngăn cấm rằng loại đó không được phép xuất hiện.

Thiết nghĩ, chừng nào nhà chức trách chưa ban hành lệnh cấm một cách rõ ràng, cụ thể đối với những trang TTĐT thuộc lại II-A nói trên, thì chúng vẫn được quyền tồn tại. Bởi lẽ ai cũng hiểu rằng: người dân được làm những điều mà luật pháp không cấm.

Không rõ một kẽ hở quá to như vậy sẽ được các nhà soạn thảo bịt lấp lại như thế nào đây?

Lời bình của Ba sàm:

Xin bình tiếp về Nghị định 72, với những lỗ hổng, mù mờ và bước thụt lùi, ít nhất là trong kỹ thuật soạn thảo văn bản luật, so với NĐ97 vốn đã như bị chìm nghỉm suốt 5 năm qua.

+ Trong cả Điều 1 và Điều 2 của NĐ72 về Phạm vi điều chỉnh và Đối tượng áp dụng đều không nêu rõ ràng về các hoạt động và đối tượng là “tại Việt Nam” như NĐ97 từ 5 năm trước. Sự khác thường này còn liên quan tới Điều 22 "xuyên biên giới” mà sáng qua đã bình luận, dễ làm ta nghĩ đến “tham vọng” của cơ quan quản lý dường như muốn quản cả hoạt động và đối tượng “cung cấp thông tin công cộng” từ ngoài lãnh thổ VN khi “có người sử dụng/ truy cập tại VN”.

“Tham vọng” trên càng rõ hơn khi trong Điều 2 NĐ72 này không có đoạn quan trọng như NĐ97, là “trong trường hợp các Điều ước quốc tế liên quan tới Internet mà Việt Nam ký kết và gia nhập có quy định khác với Nghị định này thì áp dụng quy định của Điều ước quốc tế”.

Có điều, các tác giả của NĐ72 hình như đã quên rằng ngay trong những lời mở đầu bản NĐ, họ đã viết rằng: “… Căn cứ Luật công nghệ thông tin ngày 29 tháng 6 năm 2006”. Họ “quên” vì ngay Điều 2 của Luật Công nghệ thông tin đã “khoanh” Đối tượng áp dụng chỉ là “tổ chức, cá nhân Việt Nam, tổ chức cá nhân nước ngoài tham gia hoạt động ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin tại Việt Nam”. Như vậy cái sự “quên” đó có thể được gọi là vi phạm “luật mẹ” mà NĐ72 căn cứ vào, là Luật công nghệ thông tin hay không?

Chưa hết, “luật mẹ” đó còn có cả quy định mà NĐ72 đã như lờ đi là “Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của luật này thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó”. (Điều 3. Áp dụng Luật công nghệ thông tin).

+ Và … vẫn còn nữa “tham vọng”, với dấu hiệu không những muốn qua mặt “luật mẹ” mà còn tự mâu thuẫn với chính mình, trong NĐ72. Trong Điều 20. Phân loại trang thông tin điện tử, có đoạn “4. Trang thông tin điện tử cá nhân là trang thông tin điện tử do cá nhân thiết lập hoặc thiết lập thông qua việc sử dụng mạng xã hội để cung cấp, trao đổi thông tin …". Ở điều này, có lẽ nhiều người đọc, nhiều báo, và cuối cùng là cả các quan chức Bộ 4T qua các cuộc phỏng vấn đã tự suy diễn rằng nó bao gồm cả các blog, các trang dưới dạng “mini blog” trên Facebook và các mạng xã hội khác. Thế nhưng, họ đã “quên” rằng trong Luật công nghệ thông tin, “trang thông tin điện tử” đã được “khoanh” rất rõ là chỉ những website, tại Điều 4. Giải thích từ ngữ, mục 17, mà hoàn toàn không nhắc tới “blog” hay các trang được lập trên mạng xã hội. Thêm nữa, ngay trong chính NĐ72, trong Điều 3. Giải thích từ ngữ, mục 21 cũng ghi rõ “trang thông tin điện tử” là các website, có nghĩa không bao gồm các dạng blog.

Còn nhiều nữa những điều cần được mổ xẻ, đến độ không khéo số phận của NĐ72 này sẽ được quyết định nhanh, chứ không phải đợi tới khi có thông tư hướng dẫn như người anh số 97 của nó. Có điều, không rõ là Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của Bộ Tư pháp có dám “thổi còi”, để bổ sung NĐ này vào danh sách dài bất tận lẫy lừng thế giới, chưa từng có trong lịch sử VN, với 4.178 văn bản ít nhiều vi phạm luật, được đánh giá bằng ngôn từ khéo léo rằng “chưa đảm bảo tính hợp pháp”, chỉ tính riêng từ đầu 2013 đến nay?

Mỹ “mở”, Việt “khoá”
Nguyễn Quang Thiều (Gocnhin Alan) – Những ngôi nhà ở Mỹ thường “quên” khóa cửa nhưng không thấy kẻ cắp, kẻ trộm lọt vào. Việt Nam thì khóa đủ các loại khóa vẫn bị bẻ khóa, cắt khóa. Khóa cửa nếu xét về mặt cơ học thì chỉ là hành động diễn ra trong mấy phút. Nhưng để đi đến việc không cần khóa cửa thì có lẽ người Việt Nam cũng phải mất 100 năm nữa mới có thể làm được. (…)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.