Nỗi hổ thẹn của báo chí nhà nước

Posted: August 20, 2013 in Uncategorized
Tags:

Phạm Chí Dũng (VOA||ABS) – Gần hết trong hơn 700 tờ báo nhà nước ở Việt Nam vẫn như đang hôn mê trong nỗi hổ thẹn từ tiềm thức đến vô thức, trong bối cảnh chưa bao giờ xã hội lại cần đến tiếng nói phản biện của báo chí như hiện tình.

Với gần hết đội ngũ tổng biên tập và cả phó tổng biên tập đã được “cơ bản tái cơ cấu”, không có mấy phóng viên nhiệt thành nào lèn được bài viết phản ánh thực tồn xã hội ngổn ngang lên mặt báo.

(Xem thêm: Đài báo Việt Nam tự do làm hàng chợ? – Chuyện lạ “Cấm” công dân và nhà báo ghi hình CSGT làm nhiệm vụ? – Cục CSGT đường bộ, đường sắt ra công văn lạ hạn chế quyền giám sát của công dân – Xe tải vượt mặt CSGT đi vào đường cấm – 'Mùa xuân Ả rập' và Mùa xuân Myanmar) …


Điệp khúc: Hiện nay, hành lang pháp luật báo chí chưa đầy đủ, tác nghiệp báo chí gặp nhiều khó khăn.
Hôn mê

Cách đây không lâu, báo Thanh Niên suýt bị khởi tố vì mạo phạm Ngân hàng nhà nước qua bài “Rửa vàng”. Còn trước đó, việc bắt và xử tù phóng viên Hoàng Khương của báo Tuổi Trẻ đã gần như đặt dấu chấm hết cho lớp nhà báo muốn phanh phui câu chuyện “núp lùm” của cánh cảnh sát giao thông.

Hơn một năm đã trôi qua kể từ quý 2 năm 2012 – được xem là cơn thủy triều thình lình của báo chí chính thống với hơn 2.000 bài viết khắc họa về chân dung “Người nông dân nổi dậy” Đoàn Văn Vươn, một phần rất lớn các tờ báo nhà nước lại trở về thế nằm cam chịu dưới vô số “chỉ đạo định hướng” của Ban tuyên giáo trung ương và Bộ Thông tin và Truyền thông.

Những định hướng của các cơ quan tuyên giáo và quản lý báo chí lại ngày càng bốc đồng tính xu thời cùng với thời vận quốc gia lâm nguy trong cơn hoạn nạn về tham nhũng, nhóm lợi ích, suy thoái kinh tế, sa sút đạo đức, tệ nạn xã hội…

Bất chấp một số bài viết lên án sự vô cảm của đồng loại, báo chí vẫn hiển hiện như một mặt trận vô cảm không thua sút. Những nội dung phổ biến mà độc giả trong nước được thưởng ngoạn trên báo chí chính thống vẫn rất thường là các tin tức giật gân, câu khách, hay nói như dân gian là logic “cướp giết hiếp”… hẳn có mấy tờ báo còn đủ tự trọng để đánh động dư luận về những chuyện bất công xã hội vốn đang đầy rẫy ở xứ sở được Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan tự tin (note 17)“dân chủ gấp vạn lần tư sản”.

Đã từ hai năm qua, Vietnamnet – một trong những tờ báo điện tử có uy tín và thu hút được lượng truy cập lớn nhất Việt Nam – đã gần như đánh mất bản sắc phản biện của mình. Người ta không còn nhận ra sắc diện cống hiến trên mục Tuần Việt Nam và ở cả những chuyên mục xã hội, kinh tế của tờ báo này. Sau khi báo điện tử Tầm Nhìn bị đóng cửa vào tháng 7/2012, loại bài như “Mùa xuân Myanmar” trên Vietnamnet đã khiến những tác giả của nó không chốn dung thân.

Tương tự, những tờ báo đã từng tỏa hơi ấm nhân bản đồng loại trong vụ Tiên Lãng vào đầu năm 2012 như Giáo Dục Việt Nam, Dân Việt, Người Lao Động, Pháp Luật TP.HCM, Sài Gòn Tiếp Thị… cũng như lắng tiếng trong một tâm trạng mỏng manh chân đứng.

Quá nhiều chuyện cần được nói và cần phải tiết lộ, nhưng lại quá ít can đảm để thoát khỏi vòng kim cô. Những bài báo hiếm hoi về thực trạng quá sức bất công trong thu hồi đất đai ở một số địa phương thi thoảng mới được phản ánh trên báo Nông Nghiệp Việt Nam, cùng vài ba tờ khác với hàm lượng khiêm tốn hơn nhiều. Song qua cái số hiếm hoi ấy, độc giả vẫn chưa thể nhận ra một sự thật chính đáng nhất: nguồn cơn gây ra bất công và thái độ thích đáng đối với trách nhiệm của cá nhân lãnh đạo cùng các cơ quan điều hành quản lý liên quan.

“Đừng nấp trong gấu áo của nhân dân”

Suốt nhiều năm qua, không một quan chức cao cấp nào từng công khai vi hành ở các chợ búa và các vùng sâu, vùng xa, nơi những đứa trẻ phải bắt chuột thay cơm và ở những nơi mà sức chịu đựng của người dân đang tiệm cận giới hạn cuối cùng của sự kiệt lực.

Thế nhưng, trước tất cả những cảnh trạng ngang ngược chưa từng thấy của các nhóm lợi ích độc quyền, giới công luận ở Việt Nam vẫn chỉ dám hô hấp một cách hổn hển. Khi thời gian giữa năm 2013 buộc phải chứng nhận ba cú tăng giá xăng dầu và một lần phóng giá điện lực làm náo loạn xã hội, đa phần các bài báo vẫn chỉ chạm khẽ vào hiện trạng giá cả tăng làm ảnh hưởng đến đời sống dân sinh và lạm phát. Họa hoằn mới có một tờ báo phỏng vấn những chuyên gia độc lập như Ngô Trí Long, Nguyễn Minh Phong để hé ra đôi chút tính phản biện đối với chính sách tăng giá vô tội vạ. Nhưng những bài báo đó lại quá ít ỏi so với phong trào phản biện chống tăng giá điện và xăng dầu trên báo chí lề phải vào cuối năm 2011, và càng không thể so sánh với gánh ì của trên 17.000 người viết báo có thẻ ở Việt Nam.

Thật hiếm hoi, một tờ báo nhỏ như Văn Hóa Nghệ An vào tháng 8/2013 đã khơi dậy tinh thần phản kháng còn sót lại trong tâm khảm những người viết báo đối với nhóm lợi ích: “Nếu cần gì hãy cứ nói thẳng với Nhân Dân. Nhân Dân chưa bao giờ tiếc một cái gì, kể cả mạng sống vì Đất nước. Hãy minh bạch đối diện với Nhân Dân, đừng nấp trong gấu áo của Nhân Dân để phục kích, làm hại Nhân Dân”.

Cũng còn những cuộc “phục kích” khác… Những năm qua, nghe nói còn có cả những chỉ thị của Ban tuyên giáo trung ương và Bộ Thông tin Truyền thông đối với báo chí về một “vùng cấm” nào đó trong việc đưa tin viết bài về chuyện độc quyền tăng giá, cả về chuyện “tránh để các thế lực thù địch lợi dụng”.

Một nhà báo giấu tên còn cho biết những hành xử ẩn lộ trong mấy năm gần đây của các cơ quan quản lý báo chí đã khiến cho giới phóng viên sinh ra không ít nghi vấn về một mối quan hệ “đi đêm” nào đó giữa các nhóm lợi ích và các cơ quan chỉ đạo báo chí – như hiện tượng đã từng bị dư luận dị nghị không ít lần trong quá khứ. Nhiều người cũng còn nhớ việc một nhà báo đã tố cáo một quan chức tuyên giáo nhận “lại quả” lên đến vài chục ngàn USD xảy ra những năm về trước…

Tiền bạc có thể tạo ra truyền thông nhưng cũng dễ làm cho báo chí phải ngậm miệng. Chưa bao giờ tính nghi ngờ của giới phóng viên lại cao độ như vào lúc này, khi họ liên tục nhận được các chỉ thị bất bình thường từ hệ thống tuyên giáo liên quan đến những “vùng kín” đắt đỏ.

“Định hướng”, “nhắc nhở”, “phê bình”, “kiểm điểm”, “kỷ luật”, “phạt hành chính”… có lẽ mới là ngôn luận chính thống của một nền báo chí được xem là chính thống. Hàng tuần và hàng tháng, cơ quan tuyên giáo và quản lý truyền thông ở cấp trung ương và ít nhất hai thành phố lớn Hà Nội và TP.HCM vẫn miệt mài vận động với não trạng lê mòn không đổi khác.

Không có lấy một lối thoát khả dĩ cho báo chí trong việc lên tiếng đánh thức lương tâm và chế ngự tính vô cảm tràn lan trong xã hội. Những phóng viên có nghề và có tâm huyết dần dần bỏ viết, rời khỏi báo, trong khi những nhà báo trẻ kế cận lại chưa thể kế thừa kinh nghiệm và phong cách của lớp đi trước. Còn lại, đại đa số hàng ngũ tổng biên tập mới chính là một dấu ấn đặc trưng cho “nhà báo quan chức” hoặc “trí thức cận thần” khép miệng trùm mền.

Cơ hội và “dũng khí”

Không hoặc chưa thể vượt qua nỗi sợ hãi đang chế ngự chính mình, phần lớn nhà báo quốc doanh đang để vuột khỏi tay họ điều được gọi là lương tâm nghề nghiệp.

Báo chí nhà nước cũng đang dần mất đi cơ hội ngang bằng phải lứa, ít nhất trên phương diện tin tức, so với giới truyền thông xã hội.

Vài cuộc hội thảo, tọa đàm gần đây đã gián tiếp xác nhận trong số hơn 30 triệu người dùng Internet ở Việt Nam, lượng người truy cập vào truyền thông xã hội đã tăng vọt theo cấp số nhân, chuyên chú vào nhiều sự kiện thời sự mà báo chí “lề phải” đã không tự nguyện dấn thân.

Dù vẫn bị những báo cáo nội bộ nào đấy đánh giá là “phản động”, không ít trang mạng xã hội như Basam, Bauxite Vietnam, Quechoa, Chuacuuthe… đang có xu hướng chuyên nghiệp hóa báo chí, với đội ngũ cộng tác viên được tăng trưởng về số lượng và nâng tầm về nghiệp vụ. Nhưng điều rõ ràng nhất có lẽ là các trang này đã không ít lần dám công khai những chủ đề và vấn đề chính trị – xã hội mà giới báo chí nhà nước hầu như không dám đụng đến. Có lẽ, đó cũng là một đặc tính riêng cần khắc họa khi bàn về cái được gọi là “dũng khí báo chí”.

Điều đáng tiếc không kém cho giới báo chí quốc doanh là họ đã không nắm bắt được cơ hội ngay cả khi có dịp may. Bởi từ đầu năm 2013, những điều kiện về đối ngoại chính trị và phản ứng lẫn phản kháng đối nội đã tỏ ra khởi sắc hơn hẳn bối cảnh năm ngoái, đặc biệt là tiếng nói phản biện của giới nhân sĩ, trí thức độc lập ngày càng mạnh mẽ.

Chưa bao giờ truyền thông xã hội lại quyết đoán như hiện nay.

Tuy thế, nghe nói tại nhiều tòa soạn báo quốc doanh vẫn luôn tồn đọng một danh sách những tác giả bị cấm cản. Bài viết của những trí thức từng có tên tuổi trên truyền thông quốc tế như Tương Lai ở Sài Gòn hay Nguyễn Quang A ở Hà Nội lại luôn là “đối tượng” bị ngăn chặn như vậy.

Dù phía trước là cơ hội đang mở ra cho báo chí nhà nước, cơ hội về thông tin và quan trọng hơn là cơ may để bình luận về các sự kiện thời sự, đặc biệt là mối quan hệ Việt – Mỹ đang bớt lạnh giá, nhưng điều rõ ràng là hiện chỉ có quá ít cây bút bình luận mang tính khách quan và độc lập, nếu không tính tới đội ngũ “ngoại giao đoàn” ở các báo đảng quen thuộc như Nhân Dân, Quân Đội Nhân Dân.

Cũng chưa cần xét đến nội trị, mối quan hệ đối ngoại giữa nhà nước Việt Nam với Hoa Kỳ và Cộng đồng châu Âu sẽ có thể không được mặn mà theo đúng nghĩa của nó, một khi chính giới quốc tế vẫn chán nản về chuyện giới truyền thông nhà nước Việt Nam còn lâu mới đủ dũng khí để phản biện những vấn đề bất công và bất bình đẳng gay gắt của xã hội, cũng như vẫn chưa “hòa hợp” với giới nhân sĩ trí thức trung lập ôn hòa.

Một nhà báo ở Sài Gòn cảm thán: “Việt Nam đang ‘tự do báo chí’ theo kiểu cách không giống ai. Một nền báo chí chỉ đạo tập trung hóa như vậy mà đòi thâm nhập vào cả Hội đồng nhân quyền Liên hiệp quốc sao?”.

Đài báo Việt Nam tự do làm hàng chợ?
Nguyễn Giang (BBC Vietnamese) – Truyền thông Việt Nam hiện nay là một môi trường phát triển mạnh nhưng các nỗ lực kiểm soát vì lo ngại an ninh, cộng với sự phản ứng của dư luận thiếu niềm tin vào báo chí đứng đắn đã tạo ra một môi trường báo đài lệch chuẩn.

Truyền thông Việt Nam đang bùng nổ và có đầy cơ hội làm ăn
Một thống kê sơ bộ cho thấy, số đầu báo, tạp chí, bản tin trên TV, đài ở Việt Nam đạt con số không dưới 700 cho trên 90 triệu đầu dân nhưng về lý thuyết, cả nước chỉ có một vị tổng biên tập là Trưởng ban Tuyên Giáo của Trung ương Đảng Cộng sản.

Nhìn vào hàng loạt tựa đề tin tức giật gân trên báo mạng cả nước, khó có thể tin rằng vị tổng biên tập đầy quyền uy trên có thời gian và tâm trí quyết định về mọi bài báo, bản tin về các vụ 'chân dài', án mạng rùng rợn, tệ nạn xã hội.

Trên thực tế, sự kiểm soát chỉ tập trung vào an ninh chính trị cho hệ thống và toàn bộ phần còn lại là tùy vào cảm quan của các chủ báo, vừa ăn lương quan chức, vừa đóng vai tổng biên tập.

Quan báo làm hàng chợ

Điều đặc dị của Việt Nam là chính quyền trên 60 tỉnh thành đều có các đài truyền thanh, truyền hình riêng và quan chức nhà nước, sỹ quan quân đội, công an đã dùng thời gian công, tiền bạc công để ‘làm báo’.

Họ dùng lợi thế có sẵn về nguồn tin và nghiễm nhiên chiếm thị phần từ vị trí đặc quyền của mình, tạo ra một thị trường méo mó và hiển nhiên là đưa tin theo quan điểm quyền lợi nhỏ lẻ của ngành mình.

Một số còn vào cả cuộc chơi mạng xã hội để phát tán quan điểm riêng đôi khi mang tính ân oán giang hồ hoặc để đánh bóng tên tuổi.

Thị phần cho báo chí có nội dung lành mạnh bị thu hẹp vì có quá nhiều tác nhân tham gia nên cuộc chạy đua cũng khiến các báo đua nhau giật tít ‘khủng’, và bất kể từ vị trí nào cũng làm báo lá cải và sản xuất 'hàng chợ'.

Ví dụ điểm qua trang giaoduc.net (7/8/2013) trong mục Văn hóa có thể thấy các tựa bài như:

“Ngọc Trinh: Cú lột xác từ 'chân dài não ngắn' đến chủ cơ ngơi tiền tỷ”.
“"Hoa hậu 3 con" Thu Hoài khoe vai trần như thiếu nữ 18”.

Chuyên mục Xã hội của báo này có bốn bài dài về chủ đề ‘Đánh ghen kinh dị tại Bình Dương’ với các tựa đề như "Vụ đánh ghen, lột quần áo: Chồng giúp 'tình địch' làm đơn tố cáo vợ".

Không hiểu tính giáo dục của các bài đó nằm ở đâu?

Dù có 'định hướng' báo chí Việt Nam vẫn phải làm hàng chợ để sống
Trang web báo Công an TP. HCM cũng không thiếu các tin giật gân câu khách như trên, và còn đi sâu vào các chủ đề xã hội nhưng không hề mang tính phê phán và cũng không có chút gì về hoạt động của ngành công an.
Phóng sự điều tra: ‘Bướm đêm dập dìu’ của báo này viết về ‘đội ngũ gái vẫy khoác trên mình những bộ quần áo ngắn cũn, thiếu trên hụt dưới’ thi nhau mời khách lúc trời chập tối tại Sài Gòn, ghi rõ cả giá đi khách của các cô gái bán dâm.

Đó là về phía 'lề phải', còn báo mạng 'lề trái' cũng không phải là không thiếu các vấn đề, từ chất lượng bài vở, tính cá nhân chủ nghĩa đến thói quen công kích dễ dãi như 'đánh hội đồng' với người trái ý.

Cào bằng lịch sử.

Một trong những tiêu chí của báo chí là giải thích bối cảnh câu chuyện để người đọc nắm bắt được đầu đuôi của sự việc.

Nhưng tại Việt Nam, tin quốc tế cũng bị kiểm duyệt nên xảy ra tình trạng chỉ đưa tin chung chung mà né tránh toàn bộ phần lịch sử.

Ví dụ, tin về ông Kim Jong-un chỉ dừng lại ở chuyện lá cải như ông ta có mái tóc mới, vợ ông ta cũng dùng hàng hiệu mà không có câu nào về tình trạng kinh tế suy sụp ở Bắc Triều Tiên hay các trại trừng giới khủng khiếp.

Các chuyện về Nga, Cuba, Trung Quốc cũng bị cắt xén phần lãnh đạo nước này bị phê phán ra sao.

Chẳng hạn hồi tháng 4/2013, tin về tài sản tiền tỷ nhà cựu Thủ tướng Trung Quốc, ông Ôn Gia Bảo có thể tìm thấy trên trang web soha.vn, của một công ty cổ phần tại Hà Nội trích lại trang Người đưa tin.

Nếu chỉ đọc báo Việt Nam, người ta có thể ngỡ rằng Nam và Bắc Triều Tiên không khác nhau bao nhiêu, và cũng không rõ cuộc chiến Triều Tiên 1953 do ai gây ra. Báo chí Việt Nam cũng gần như đặt thời Liên Xô cũ và nước Nga ngày nay 'ngang nhau', và mập mờ trong việc so sánh Trung Quốc thời Mao, thời Đặng và hiện nay.

Hệ quả của việc cào bằng khác biệt này đang tạo ra một cách tư duy né tránh các vấn đề nghiêm trọng của thế giới trong dư luận Việt Nam, khiến quốc gia mất đi tính nghiêm túc.

Vì sao có tình trạng kiểm soát thông tin mọi cách có chọn lựa, tùy đợt như hiện nay?

Như đã nói ở trên, sự bùng nổ thông tin và giao lưu quốc tế khiến truyền thông Việt Nam không phải là một môi trường khép kín như Bắc Hàn hay còn kém phát triển như Miến Điện. Nhưng Việt Nam cũng không có phương tiện hoặc chưa có đủ nhân tài vật lực như Trung Quốc để tạo ra cả một thế giới mạng song song với thế giới và cấm toàn bộ các kênh bên ngoài như Facebook, YouTube.

Việt Nam vì thế chỉ có thể cấm từng lúc, từng giai đoạn, hoặc qua các vụ bắt bloggers để cảnh báo giới viết bài và đăng tải ‘ngoài luồng’, hoặc ra các quyết định nhắm vào từng đối tượng cụ thể như Nghị định 72 gần đây nhất nói về mạng xã hội.

Nhưng báo chí không chỉ là chuyện hoạt động chính trị về nhân quyền, dân chủ hay các luồng quan điểm trái chiều. Quốc gia nào cũng cần có các kênh thông tin chính thức lành mạnh và năng động như một phần của sinh hoạt văn hóa, xã hội và tư tưởng.

Truyền thông Việt Nam cào bằng nhiều chủ đề lịch sử và quốc tế
Hệ quả và giải pháp

Việt Nam phần nào đã chấp nhận truyền thông là một phần của kinh tế thị trường – báo chí, truyền hình, truyền thanh là một loại hình kinh doanh – với các nhà đầu tư tư nhân, trong và ngoài nước cùng tham gia, mà mới nhất là đầu tư của Forbes.

Vì thế, có thể nói là phần hạ tầng cơ sở (infrastructure, hardware) và công nghệ kỹ thuật, các loại hình (genres, platforms) cho truyền thông Việt Nam đã có, khá hiện đại và còn tiếp tục pháp triển.

Nhưng phần thượng tầng kiến trúc của báo chí chưa làm được việc chuyển tải thông tin, tư tưởng, quan điểm các loại nhằm tạo ra các cuộc thảo luận rộng rãi để công luận giám sát giới chức lập pháp và hành pháp.
Một trong số các giải pháp chính mà chính quyền có thể làm được là hạn chế con số báo chí hiện nay để giảm bớt tính lá cải nói chung và sự lan truyền của các tin tức gây choáng, gây sốc làm nhiễu loạn dư luận nói riêng.

Về sự hỗn loạn của con số báo chí, đài phát thanh, phát hình ở Việt Nam, cần phải nhắc rằng số cơ quan công quyền được cho phép ra báo, phát hành tin tức ngoài lĩnh vực của họ lớn hơn nhiều so với một xã hội tự do như Anh Quốc.

Chưa nói đến các trang blog cá nhân, các trang mạng xã hội, chỉ riêng con số các báo tỉnh, báo ngành ở Việt Nam, từ báo toà án tới dầu khí, đã vượt xa Anh Quốc, nước chỉ có chừng 10 tờ báo lớn ra ở London, Manchester và Glasgow.

Về truyền hình, cả Liên hiệp Vương Quốc Anh cũng chỉ có bốn đài chính chuyên về tin tức quốc tế và quốc nội là BBC, Channel4 (công lập), ITV và Sky News (tư nhân).

Tại Việt Nam, Nhà nước chỉ cần nắm các đài phát thanh, truyền hình lớn, và để báo chí cho xã hội tự quản lý. Nhưng Nhà nước phải dám 'cắt rốn' cho báo chí buông bầu sữa 'bao cấp tư tưởng' để được lớn cùng xã hội dân sự.

Vì không được vào các lĩnh vực báo chí thực thụ, như phóng sự điều tra, đánh động dư luận về các vấn đề cơ bản, nhiều trang báo mạng Việt Nam bám vào phần rẻ tiền của thị trường lá cải. Các đài báo chính thống hơn cũng liên tiếp khai thác mấy chủ đề đã trở nên nhàm chán: hoa hậu, giải trí, thời trang.

Nỗ sợ mất thị trường quảng cáo là điều không chỉ có báo Việt Nam mới gặp phải. Cách đây 4-5 năm báo chí Phương Tây cũng lo ngại sự phát triển của mạng Internet làm họ mất thị phần vì tiền bán báo và nhận quảng cáo sụt giảm. Nhưng sau khi chọn con đường trở lại tin tưởng vào bạn đọc, các báo Mỹ chẳng hạn, đã dũng cảm buông 'bầu sữa quảng cáo' từng chiếm 80% doanh thu của họ (theo The Economist 16/8), và áp dụng chế độ đọc trả tiền cho nội dung có chất lượng.

Nay, nhiều báo Anh và Mỹ đã có thu nhập tăng đều từ phí bạn đọc trả trực tiếp qua chế độ 'pay-wall', với riêng New York Times tính đến tháng 8/2013 có thu nhập 150 triệu USD từ lệ phí bạn đọc qua bạn đọc trên mạng, một thành công đáng kể.

Các báo khác ở Anh, Canada và một số nơi khác bắt đầu làm theo, và tin thời sự của BBC News Online cũng thu hút quảng cáo trên mạng ngoài nước Anh, đem lại nguồn thu cho tập đoàn này, cho thấy tin nghiêm túc vẫn có một thị trường bạn đọc.

Một bước tiến khỏi tình trạng bùng nhùng hiện nay là Việt Nam lập chế độ kiểm duyệt công khai (như ở Đông Dương thời Pháp) để làm rõ điều gì cấm, điều gì được phép trong in ấn, xuất bản.

Ông David Hunt từ Ủy ban Khiếu nại Báo chí Anh (PCC) trả lời phóng viên
Sự kiểm duyệt như vậy ít ra còn văn minh hơn chế độ kiểm soát mờ ảo tùy nhu cầu chính trị hoặc phe phái từng lúc của các quan chức, và mạnh mẽ hơn cách ra văn bản sau rụt lại vì bị phản đối. Tiến bộ hơn, Việt Nam có thể bỏ hoàn toàn cơ chế cơ quan chủ quản và lập ra Cục Giám sát Truyền thông như OFCOM và Ủy ban Khiếu nại Báo chí (Press Complaints Commission) ở Anh xem xét khiếu kiện khi báo chí phạm luật hoặc đạo đức nghề nghiệp.

Ngoài những điều cấm đã ghi rõ, báo chí được tự do hoạt động và tự chịu trách nhiệm khi bị kiện cáo dân sự.

Nhưng dù lập ra kiểu gì và gọi tên là gì, cơ quan này cần hoạt động theo luật định và độc lập với các đảng phái, và chắc chắn không thể thuộc về một bộ nào đó để tránh chuyện cơ quan hành pháp vừa ra quy định, vừa tự xử lý các vụ việc của chính mình.

Như mọi lĩnh vực khác, Việt Nam là nước có tiềm năng lớn trong thị trường truyền thông, thông tin; và sự hỗn loạn hiện nay có thể xếp vào thời kỳ quá độ nếu mọi bên quan tâm thực sự muốn vươn tới một cuộc chơi mới, văn minh, giàu có và nhiều tri thức hơn.

Nội dung chính của bài viết đã được đăng trên trang Grupo RSB ở Brazil tháng 4/2013 và trình bày tại một hội thảo hè về Việt Nam tại Singapore 12/8 vừa qua. Tác giả là khách mời của nhiều hội thảo quốc tế về truyền thông và đã tổ chức các khóa học của BBC College of Journalism cho các nhà báo BBC cùng khách mời Đông Nam Á ở Bangkok, Jakarta và London.

Chuyện lạ – “Cấm” công dân và nhà báo ghi hình CSGT làm nhiệm vụ?
GiadinhNet – Cục CSGT đường bộ, đường sắt (Bộ Công an) đã ra văn bản gửi Trưởng phòng CSGT các tỉnh, TP chỉ đạo về việc “Giả danh nhà báo ghi hình CSGT”. Nội dung văn bản này đang khiến bất kỳ ai đọc cũng có thể hiểu là từ sau khi có chỉ đạo này thì công dân, nhà báo sẽ không được ghi hình CSGT đang làm nhiệm vụ? (…)

Nội dung văn bản của Cục CSGT đường bộ, đường sắt đang gây khó hiểu cho PV khi tác nghiệp.
Cục CSGT đường bộ, đường sắt ra công văn lạ
hạn chế quyền giám sát của công dân

(SMO) – Chính nhờ rất nhiều video, ảnh chụp mà những trường hợp lực lượng thi hành công vụ có dấu hiệu lạm quyền, vi phạm pháp luật mới được phát hiện và có thể được đem ra xử lý sau đó. Tuy nhiên, một công văn do Phó Cục trưởng Cục CSGT đường bộ, đường sắt ký cho thấy bất cứ ai cũng có thể phải xin phép trước khi chụp ảnh ghi hình cảnh sát giao thông khi đang làm nhiệm vụ. (…)

Kết quả cuộc khảo sát xã hội học với đề tài “Tham nhũng từ góc nhìn của công chức, người dân và doanh nghiệp” do Thanh tra Chính phủ và Ngân hàng Thế giới (WB) phối hợp điều tra cho thấy ngành CSGT đứng đầu nạn tham nhũng.
Xe tải vượt mặt CSGT đi vào đường cấm
(SMO) – Mặc dù đang trong khung giờ cấm nhưng nhiều xe tải hạng nặng vẫn thoải mái di chuyển nhiều trên tuyến đường tại TP. HCM mà không gặp phải bất cứ sự kiểm tra, xử phạt nào của lực lượng cảnh sát giao thông (CSGT). (…)

Xe tải di chuyển trái phép tại khu vực chợ hoa Hồ Thị Kỷ
Xem lại bài viết đã bị gỡ bỏ, Dân Luận đăng 02/01/2013.

'Mùa xuân Ả rập' và Mùa xuân Myanmar
Hồng Ngọc Theo Tuần Việt Nam – Cùng thuộc về một làn sóng dân chủ hóa trên thế giới, nhưng "Mùa xuân Ả rập" để lại những vết thương sâu sắc chưa hứa hẹn ngày lành, thì Mùa xuân Myanmar cũng chính là quá trình làm lành vết thương của thời kỳ độc tài.

Mùa xuân bão táp ở Ả rập

Một loạt chế độ tại Ả rập – từng ưỡn ngực với sự "đặc thù" của văn hóa Hồi giáo mà từ chối nền dân chủ – đã đồng loạt đi đến hồi kết. Tất cả được châm mồi với chỉ một đốm lửa ở Tunisia hai năm trước.

…Trong Mùa xuân Ả rập, cựu Tổng thống Yemen Ali Saleh đã ra đi theo một cách êm ả nhất có thể: ông từ chức sau 33 năm cầm quyền và sang Mỹ đổi lại quyền miễn tố, để lại một Yemen kiệt quệ và đối mặt với các cuộc nổi dậy và nội chiến.

Hầu hết trong số đó đều tiếp tục nhiệm kỳ của mình sau các cuộc "bầu cử" không có ứng cử viên đối lập và chiến thắng với tỷ lệ phiếu bầu cực cao. Nhưng sự "tín nhiệm cao" đó không che giấu được những vấn đề trầm trọng của dân chúng và khối tài sản kếch xù của những nhà cầm quyền.

Và những cuộc nổi dậy của "Mùa xuân Ả rập" đã lột tả bản chất của sự "tín nhiệm cao" chính là sự sợ hãi của dân chúng, chứ không phải vì đó là chính quyền của nhân dân như các nhà độc tài vẫn tự xưng.

Nhưng sự cai trị bằng nỗi sợ hãi của dân chúng cũng tạo ra sự căm phẫn âm ỉ, và nó sẽ bùng lên khi tích tụ đủ mạnh và có một mồi lửa ném vào.

Cái giá mà đất nước họ phải trả còn lớn hơn thế. Là sự kiệt quệ của dân chúng do sự bòn rút của họ. Là sự hèn đụt và tính thụ động của dân chúng do sự đe dọa của họ. Là sự khủng hoảng lòng tin và đạo đức của dân chúng, do sự cai trị vô đạo đức và chia rẽ dân chúng của họ. Và cuộc nổi dậy như một vết thương được làm loét thêm, do tâm lý trả thù không chỉ nhằm vào nhà độc tài mà còn hướng cả vào những người từng tham gia hệ thống ấy, và những người được lợi nhờ hệ thống ấy, tạo ra một xã hội bị chia rẽ.

Mùa xuân ấm áp với Myanmar

Myanmar, giành độc lập năm 1948, bị hết thống tướng này đến thống tướng khác cai trị sau cuộc đảo chính quân sự năm 1962. Trong ngôn ngữ của chính trị học, đó là chế độ Qủa đầu (độc tài nhóm), một hình thức tinh vi hơn của độc tài cá nhân.

Dù tinh vi tới đâu thì bản chất của mọi chế độ độc tài đều là cai trị đất nước để phục vụ cho quyền lợi của những kẻ cai trị, thay vì để phụng sự nhân dân và đất nước. Đó là nguyên nhân Myanmar từ vị thế là một đất nước phát triển hàng đầu châu Á đầu thập kỷ 1960 đã tụt hậu và kiệt quệ thành một nước lạc hậu nhất ở Đông Nam Á những năm qua.

Đứng trước nguy cơ bị lệ thuộc vào cường quốc láng giềng, giới lãnh đạo Myanmar đã có những thay đổi kịp thời và ngoạn mục.

Cuộc bầu cử dân sự năm 2010 tưởng như chỉ là mang tính hình thức để hợp thức hóa sự cai trị của những tướng lĩnh cũ, mà Tổng thống được bầu vào Mùa xuân 2011 Thein Sein nằm trong số này. Lần đầu tiên nắm quyền cao nhất ở Myanmar, vị tướng cũ đã từ bỏ đường lối cai trị độc tài, bằng cách chấm dứt những dự án của cường quốc láng giềng gây nguy hại cho Myanmar, công nhận đảng đối lập và tổ chức cuộc bầu cử bổ sung tự do vào Mùa xuân 2012, phóng thích hàng loạt tù nhân lương tâm, và cho phép tự do báo chí.

Myanmar còn có một nhân vật vĩ đại nữa làm biểu tượng cho quá trình dân chủ hóa: Aung San Suu Kyi, người đã để lại gia đình của mình ở nước Anh để trở về nước vận động dân chủ năm 1988 bất chấp bị đàn áp, đe dọa, bắt bớ, cấm tranh cử, rồi bị giam lỏng trong thời gian bầu cử năm 1990. Kết quả: bà chiến thắng áp đảo cùng Đảng của mình (82% số phiếu) nhưng bị từ chối chuyển giao quyền lực và tiếp tục bị giam lỏng, và bà từ chối rời khỏi đất nước để tiếp tục cuộc đấu tranh cho dân chủ. Ngày đó đã đến như mong mỏi của bà và nhân dân Myanmar, cho dù Đảng của bà chỉ tranh cử ở cuộc bầu cử bổ sung 45/664 ghế.

Một người từ bỏ quyền lực độc tài để đưa đất nước đến với dân chủ, và ca ngợi đối thủ từng bị phe mình giam giữ. Một người đã chiến thắng trong cuộc bầu cử dân chủ nhưng chấp nhận sự cai trị của chính phe phái từng tước đoạt quyền lực của mình, thậm chí vận động quốc tế xóa bỏ cấm vận với chính quyền đương nhiệm, để tìm kiếm sự khởi đầu mới cho quá trình dân chủ hóa đất nước. Qúa trình dân chủ hóa của Myanmar, nhờ vậy, đồng thời là quá trình hòa giải dân tộc, giúp Myanmar không chỉ giữ được hòa bình mà còn giảm nguy cơ bị chia rẽ.

Đó là lý do cả hai được xếp hàng đầu trong danh sách 100 nhà tư tưởng của thế giới năm 2012 do Tạp chí Foreign Policy (Mỹ) lựa chọn. Riêng Thein Sein được tờ Straits Time (Singapore) bình chọn là Nhân vật châu Á của năm 2012. Vì từ bỏ độc tài quyền lực để trả quyền lực về cho nhân dân luôn là lựa chọn vô cùng khó khăn của mọi chế độ độc tài trong lịch sử.

Nhưng đó là lối thoát duy nhất cho một quốc gia muốn phát triển, và ngay lập tức đầu tư nước ngoài đã xếp hàng vào Myanmar. Và cũng là lối thoát duy nhất cho nhà độc tài để tránh bị xét xử hay bị giết hại khi dân chúng nổi dậy và trả thù, như đã diễn ra với "Mùa xuân Ả rập".

Ba ngàn năm trước, nhà tư tưởng chính trị Khương Tử Nha đã thấu hiểu điều đó khi nhắc nhở Chu Văn Vương rằng: Thiên hạ không của riêng ai, thiên hạ là của cả thiên hạ, chung lợi ích với thiên hạ thì được thiên hạ, đoạt lợi ích của thiên hạ thì mất thiên hạ. Nhờ tư tưởng đó, nhà Chu tồn tại tới tám trăm năm, và là thời kỳ phát triển rực rỡ nhất về tư tưởng, triết học, binh pháp, kỹ thuật của Trung Quốc cổ và trung đại.

Ngày nay, không cần phải thông thái như Khương Tử Nha cũng biết điều đó. Quá nửa quốc gia trên thế giới là những nền dân chủ, thể chế buộc chính quyền phải chung lợi ích với thiên hạ, thay vì chờ đợi chính quyền tự nguyện như triều đại nhà Chu. Nhờ thế, những quốc gia thịnh vượng nhất, văn minh nhất đều là những nền dân chủ.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.