Trung Quốc và một mô hình đang “nguy kịch”

Posted: August 24, 2013 in Uncategorized
Tags:

Lê Dung (infonet.vn) – Những năm gần đây, nền kinh tế Trung Quốc liên tục suy giảm tốc độ tăng trưởng khiến dư luận cảm thấy lo ngại thậm chí có tiếng nói dự báo về sự sụp đổ. Phải chăng mô hình kinh tế “diệu kì” một thời của Trung Quốc đang bước vào giai đoạn “nguy kịch”?

(Xem thêm: ‘Hạ cánh’ kiểu gì thì kinh tế Trung Quốc cũng phải đau đớn – Trung Quốc táo tợn vơ vét các ngư trường trên Biển Đông – Cổ vật – chiêu bài ‘khẳng định chủ quyền’ mới của Trung Quốc tại Biển Đông? ‘Trung Quốc tham lam từ Hoa Đông đến Biển Đông’) …

Theo tác giả Michael Moran trên trang Globalpost, trên khắp thế giới, các quốc gia thuộc nhóm các nền kinh tế mới nối BRICS gồm Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc và Nam Phi đều đang đối mặt với tình trạng tăng trưởng suy giảm, ở một số nước còn suy giảm mạnh.


Thượng Hải – một thành phố biểu tượng cho sự thành công của nền kinh tế Trung Quốc.

Năm ngoái, Brazil gần như không tăng trưởng mấy và đối mặt với nhiều cuộc biểu tình lớn ở các thành phố. Nền kinh tế Nam Phi tăng trưởng “èo uột” với giá cả hàng hóa giảm nghiêm trọng và các cuộc nổi loạn đẫm máu của người lao động, đặc biệt là công nhân mỏ.

Trong khi đó, Ấn Độ, quốc gia một thời “khoe khoang” rằng nước này sẽ quyết đuổi kịp Trung Quốc trong thập kỷ này, sẽ trở thành quốc gia may mắn nếu đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế khoảng 5% – một mức tăng trưởng thực ra là quá thấp để nước này có thể thay đổi được cuộc sống nghèo khổ của hơn 1 tỷ dân. Nga, quốc gia với nạn tham nhũng tràn lan và có nền kinh tế lệ thuộc vào giá dầu mỏ, chỉ đạt tốc độ tăng trưởng hơn 1% trong quí II năm nay và triển vọng cũng không mấy sáng sủa.

Còn bản thân Trung Quốc, câu chuyện về mô hình kinh tế tư bản định hướng nhà nước với kết quả là tốc độ tăng trưởng 2 con số trong nhiều năm qua dường như sắp đến hồi kết. Nước này đang chịu bong bóng bất động sản và tín dụng, kết hợp với tình trạng cầu hàng hóa suy giảm ở các thị trường xuất khẩu phương Tây. Không chỉ có vậy, Trung Quốc chịu sức ép ngày càng tăng về vấn đề cải thiện điều kiện sống trong nước.

Các thị trường chứng khoán ở Thượng Hải và Hồng Kông trong năm qua đã trải qua một năm tồi tệ nhất thập kỷ do các nhà chính sách dùng mọi biện pháp để ngăn giá bất động sản tiếp tục tăng, kích thích khu vực sản xuất và đổ thêm tiền đầu tư cho các doanh nghiệp nhà nước.

Nói tóm lại, thời điểm này, nền kinh tế “siêu nhân” của Trung Quốc như đang ở vào giai đoạn “hấp hối”.

Theo các bài báo kinh tế viết về chủ đề “sự kết thúc của mô hình Trung Quốc”, “người khổng lồ” này sẽ đạt mức tăng trưởng khoảng 7,5% trong năm nay – mức tăng trưởng thấp so với tốc độ 2 con số trong những thập kỷ vừa qua, nhưng đó là qui luật bởi lẽ không nền kinh tế nào duy trì được mức tăng trưởng đó mãi mãi.

Tốc độ tăng trưởng suy giảm cũng đủ khiến các nhà lãnh đạo Trung Quốc lo ngại và thông báo về một “gói kích thích nhỏ” vào trung tuần tháng Bảy vừa qua, nhằm tới các doanh nghiệp nhỏ và một số ngành chiến lược như đường sắt và các ngành công nghiệp xuất khẩu.

Một số nhà quan sát ở phương Tây, chủ yếu là những nhân vật có tư tưởng cánh hữu, đang “rêu rao” về “sự chấm dứt của mô hình Trung Quốc”. Điều đó thực ra là vô nghĩa.

Andrew Gilholm, nhà phân tích hàng đầu về châu Á, đã từng nói rằng bây giờ cuộc tranh cãi không nên về chủ đề liệu nền kinh tế Trung Quốc có sụp đổ hay không mà là về vấn đề chính quyền Trung Quốc cần phải làm gì sau những dấu hiệu “ốm yếu” vừa qua.

Nếu trong những năm tới, các nhà làm chính sách Trung Quốc tập trung vào cải cách thị trường thì cuộc tranh luận về sự khác biệt giữa mô hình kinh tế Trung Quốc và phương Tây sẽ chấm dứt. Và khi Trung Quốc “ngấm” bài học về hậu quả của năng lực dư thừa, để thị trường định hướng nền kinh tế đồng thời học hỏi các phương pháp điều hành hệ thống kinh tế thị trường của phương Tây thì hai mô hình kinh tế trên có thể được dung hòa.


Nền kinh tế Trung Quốc đang gặp những thách thức to lớn.

Nhưng nhiệm vụ cải cách không hề đơn giản và dưới đây là một số thực tế mà kinh tế Trung Quốc hiện đang đối mặt:

– Nhu cầu về hàng hóa giá rẻ trên toàn thế giới là có giới hạn
– Do vấn đề chu kì kinh tế, hiện những nước lệ thuộc mạnh vào xuất khẩu như Trung Quốc đang mất khách hàng vì một lí do đơn giản là khách hàng buộc phải “thắt chặt hầu bao” vì kinh tế khó khăn.
– Dịch chuyển kinh tế từ mô hình lệ thuộc vào xuất khẩu sang mô hình chú trọng cầu trong nước mà các nhà kinh tế học vẫn gọi là “tái cân bằng” đòi hỏi sự dịch chuyển thận trọng và đầy rủi ro.
– Vào một thời điểm nào đó với thu nhập bình quân và nhận thức về mức thu nhập ở các quốc gia khác của lực lượng lao động tăng lên thì phong trào đòi tăng lương, độ an toàn, bảo vệ môi trường và các yêu cầu về cải thiện khác của người lao động sẽ tăng lên.
– Thế mạnh “lao động rẻ” của một quốc gia luôn luôn bị phá vỡ vì một nơi nào đó trên thế giới có giá nhân công còn rẻ hơn – hiện tại là Bangladesh, Lào, Campuchia – chưa kể tới Ấn Độ và khu vực châu Phi hiện nay còn chưa được chạm tới.

Nhưng xét cho cùng, vấn đề chính mà “mô hình Trung Quốc” gặp phải có lẽ là vấn đề sau: Con người (sự quản lý).

Ở một khía cạnh nào đó, rủi ro có thể không cao với nền kinh tế trong đó sản xuất phải theo hạn ngạch (quota), hệ thống luật pháp về sở hữu tư nhân không rõ ràng, tình trạng đô thị hóa tràn lan và một bộ máy chính quyền quản lý như người bảo trợ cho hàng nghìn doanh nghiệp nhà nước và tư nhân kém hiệu quả.

Tuy nhiên, hệ thống đó cũng nuôi dưỡng nạn tham nhũng và thúc đẩy chính phủ tới việc đầu tư cho các lĩnh vực đáng lẽ nên “khai tử” hoặc nên thu nhỏ bớt. Trên thực tế, hệ thống đó đã dẫn tới tình trạng năng lực dư thừa và bong bóng bất động sản có thể gây nguy hại tới nền kinh tế toàn cầu giống như bong bóng bất động sản ở Mỹ vào năm 2008.

Tóm lại, mô hình kinh tế Trung Quốc đang gặp các rắc rối thực sự và chúng đang được thể hiện không chỉ ở nước này mà còn ở các quốc gia có mô hình tương tự như Nga và Brazil. Tuy nhiên, vẫn còn sớm để đưa ra kết luận về “cái chết” của mô hình này.

‘Hạ cánh’ kiểu gì thì kinh tế Trung Quốc cũng phải đau đớn

Lục Dương Tổng hợp
(SMO) – Dù các nhà kinh tế cũng như chính trị gia vẫn đang mải miết tranh cãi liệu về nền kinh tế Trung Quốc, song tất cả đều không thể chối bỏ rằng: thời kỳ bùng nổ đã qua. Theo phân tích từ tờ The Australian, câu hỏi giờ chỉ còn là: Trung Quốc sẽ chọn hạ cánh mềm hay cứng mà thôi.

Thực tế là cả hai trường hợp đều dẫn đến một kết cục xấu. Hạ cánh cứng, đồng nghĩa với việc bị đau gần như ngay lập tức, sẽ khiến niềm tin vào chính quyền sụt giảm một cách trầm trọng và khiến cho đội ngũ lãnh đạo vừa mới chính thức lên nắm quyền hồi tháng 3 có một nhiệm kỳ đầy khó khăn. Còn Hạ cánh mềm đồng nghĩa với những vấn đề cấu trúc nghiêm trọng không thực sự được giải quyết, mà chỉ là bị ẩn đi, nói cách khác cũng chỉ là một hình thức trì hoãn thời gian trước khi cơn đau đớn thực sự bộc phát.

Quá nhiều vốn bị dồn vào các dự án “ma” và hàng triệu đơn vị nhà ở sang trọng nằm ngoài tầm với của hầu hết người dân, hệ thống ngân hàng Trung Quốc đã tích lũy được một khoản nợ xấu khổng lồ song chẳng ai biết quy mô thực sự của nó là bao nhiêu. Theo Ủy ban Giám sát Ngân hàng Trung Quốc, nợ xấu cuối quý II/2013 là 540 tỷ NDT, giới phân tích quốc tế cho rằng con số này phải lên tới 900 tỷ NDT (147 tỷ USD) trong khi Fitch từng cảnh báo có thể phải tới hơn 2 nghìn tỷ USD.

Vậy là, dù không biết nợ xấu thực hư thế nào, một chương trình tái cân bằng kinh tế hướng tới tiêu dùng nội địa vẫn được thiết lập. Nếu tiến hành tái cơ cấu thực sự, sẽ dẫn đến một cú hạ cánh cứng. Như đã nói ở trên, chính phủ sẽ phải chấp nhận từ bỏ những báo cáo thành tích làm màu, đồng thời chấp nhận sự lan tỏa của cuộc cải cách kinh tế lên tất cả các mặt chính trị, văn hóa, xã hội. Do không thể ép buộc tiêu dùng thì con đường duy nhất để người dân tăng chi chính là tăng thu nhập và niềm tin tiêu dùng. Để có được điều đó, không phải cứ lấy tiền của người kiếm được nhiều hơn đem san sang người kiếm được ít hơn, mà chính là sự công bằng trong cơ hội. Trung Quốc có đến 144.000 DNNN, chiếm một nửa nguồn lợi kinh tế và 70% tài sản cố định, trong khi hàng chục triệu công ty tư nhân chiếm số ít ỏi còn lại. Nâng cao thu nhập cho các hộ gia đình đồng nghĩa với việc từ bỏ sự bảo hộ cho các DNNN và tạo sân chơi bình đẳng cho các doanh nghiệp tư nhân. Chừng nào còn sự thiên vị, chừng đó chưa thể gọi là cải cách hay đổi mới.

Nhưng có vẻ Trung Quốc đang hướng tới một kịch bản thứ hai. Chính quyền nước này chỉ đang cố gắng kiềm chế hệ thống tín dụng đen với tổng giá trị hiện nay đã lên tới 6 nghìn tỷ NDT, tăng mạnh so với 4,7 nghìn tỷ USD năm 2012 theo báo cáo của Moody’s. Vấn đề là những nỗ lực tránh cho bong bóng bất động sản phình quá to bằng cách hạn chế tín dụng hiếm khi mang lại kết cục tốt. Tín dụng đen đầy rủi ro, song lại là nguồn nuôi sống chủ yếu cho khối doanh nghiệp tư nhân ở Trung Quốc.

Không chỉ vậy, bất chấp sự xuất hiện của những “thành phố ma”, Chính phủ Trung Quốc vẫn coi đô thị hóa như nút tháo gỡ cho nền kinh tế đang trong cơn bí bách. Tuy nhiên, theo chuyên gia tài chính Michael Pettis, đô thị hóa ở Trung Quốc không phải một quá trình tự nhiên, kinh tế phát triển sinh ra đô thị mà hoàn toàn ngược lại, thúc ép đất nông biến thành đô thị để từ đó tăng trưởng kinh tế. Trong khi đó, đô thị hóa chỉ tạo điều kiện cho phép tăng trưởng kinh tế. Nếu kinh tế phát triển nhanh, dòng lao động có tay nghề sẽ tự động chuyển dịch từ nơi có năng suất thấp đến nơi có năng suất cao, hình thành các thành phố tập trung một cách tự nhiên, thì đô thị hóa mang lại sự giàu có hơn nữa. Song do đô thị hóa ở Trung Quốc được xây dựng bởi sự cưỡng bức, phần lớn những tòa nhà chọc trời mọc lên giữa vùng đất kinh tế phát triển chậm chạp, hệ quả là đô thị hóa lại chỉ mang lại cái nghèo – một đoàn quân mất đất trở thành lực lượng thất nghiệp ăn bám, chứ không phải sự giàu có.

Kể từ giữa thập niên 90, tỷ lệ đô thị hóa còn chưa đến 1% mỗi năm, trong khi đầu tư cố định lại tăng vọt 20-40% mỗi năm trong thập kỷ qua và đến nay đã chiếm 50% GDP. Nhìn Nhật Bản, Đài Loan và Hàn Quốc, suốt thời kỳ đại công nghiệp hóa, đầu tư cố định chưa bao giờ quá 35% GDP. Theo phân tích từ The Australian, các mô hình kích thích kinh tế đã tỏ ra không hiệu quả khi 1 đồng USD hiện nay chỉ tạo ra 17 xu đầu ra, trong khi những năm kinh tế phát triển như 2007 có thể tạo ra đến 80 xu đầu ra.

Có thể thấy, cải cách ở Trung Quốc là không triệt để. Một kịch bản hạ cánh mềm đã được khởi động và tiếp tục gieo rắc những ảo tưởng về một nền kinh tế thần kỳ cho nhiều nước đi sau “học mót”.


Trung Quốc táo tợn vơ vét các ngư trường trên Biển Đông

Chí Đăng (SMO) – Trước việc hơn 9.000 tàu cá Trung Quốc tràn vào sục sạo Biển Đông nhằm củng cố tham vọng độc chiếm vùng biển này cũng như thỏa mãn cơn khát thủy sản của Bắc Kinh, Thời báo Hoàn Cầu ngày 21/8 đã cho đăng tải bài viết tuyên truyền một cách trắng trợn rằng: Trung Quốc là nước lớn nhất nên đương nhiên là độc tôn trong “cuộc chơi” này!


Ngư dân Trung Quốc đánh bắt cá trên Biển Đông. Ảnh: Nhân dân Nhật báo

Trong bài viết nói về vị trí của Trung Quốc khi đánh bắt cá trên Biển Đông, tờ Hoàn Cầu khẳng định chính quyền tỉnh Hải Nam đã ngang nhiên điều động gần 10.000 tàu cá tiến sâu vào khu vực trong tháng 8. Trước đó, Nam Phương Nhật báo ngày 1/8 đưa tin 9.007 tàu cá của huyện Quỳnh Hải thuộc tỉnh Hải Nam (Trung Quốc) đã đồng loạt xuống biển ngay khi lệnh cấm đánh bắt cá kết thúc sau 75 ngày thi hành trái phép trên Biển Đông.

Tờ báo giải thích rằng: hiện nay, Trung Quốc có nhu cầu rất lớn về thủy sản, đặc biệt là nhóm hàng tôm và cá. Song, các vùng biển gần bờ gần như đã bị các ngư dân khai thác hết. Vậy nên, Bắc Kinh đã quyết định điều các tàu cá của mình tiến sâu xuống Biển Đông nhằm vơ vét các ngư trường của các nước trong khu vực.

Nhưng không dừng lại ở đó, tờ Hoàn Cầu ngang nhiên tuyến bố ngư dân Trung Quốc có quyền đánh bắt cá trên toàn Biển Đông, đồng thời quy chụp các nước láng giềng đang gây căng thẳng khi phản đối hành động lấn lướt của Trung Quốc. Sau đó, tờ báo kết luận theo luận điệu dụ mị của lãnh đạo Bắc Kinh, rằng tốt nhất là “hợp tác để cùng phát triển”.

Xung quanh vấn đề ký kết COC, Hoàn Cầu còn lật ngược quan điểm duy trì sự ổn định và hòa bình trên Biển Đông khi cho rằng hợp tác cùng khai thác nghề cá ở Biển Đông “khả thi” hơn COC. Trong đó, giải pháp là các nước chấp nhận Trung Quốc nắm quyền “hoạch định một số khu vực không đánh bắt, thiết lập chương trình đánh bắt đúng cách và liệt kê rõ các loài không được đánh bắt”.

Và để thực hiện cái gọi là “bảo vệ ngư dân”, Trung Quốc đã điều động nhiều tàu giám sát và tàu chiến vào Biển Đông, theo Hoàn Cầu. Điều này không những vi phạm Tuyên bố DOC, Công ước của LHQ về Luật biển (UNCLOS) mà còn xâm phạm vùng biển chủ quyền của các nước trong khu vực, bởi nơi được Hoàn Cầu cho là “vùng lãnh hải Trung Quốc” nằm trong chính đường lưỡi bò phi pháp đang bị cộng đồng quốc tế lên án.

Trên tờ International của Nga hồi đầu tháng 8, giáo sư chiến lược học James Holmes thuộc Đại học Hải quân Mỹ cho rằng: nếu Mỹ và Trung Quốc xảy ra xung đột thực sự, rất có thể Bắc Kinh có thể dùng tới cả tàu cá để chặn tàu chiến của Washington bởi sức mạnh của Hải quân Trung Quốc hiện nay chưa thể mạnh bằng Hải quân Hoa Kỳ, ít nhất là vào thời điểm hiện tại.

Cổ vật – chiêu bài ‘khẳng định chủ quyền’ mới
của Trung Quốc tại Biển Đông?

Chí Đăng (SMO) – Ngày 22/8 tại Bắc Kinh, Trung Quốc đã tổ chức một buổi triển lãm trưng bày các mẫu cổ vật từ một chiếc tàu bị đắm được khai quật trong vùng biển chủ quyền của Việt Nam.


Hình ảnh trong buổi triển lãm. Ảnh: Tân Hoa xã

Theo China.org, buổi triển lãm bắt đầu mở cửa từ ngày 22/8 tại Bắc Kinh. Tại đây, Trung Quốc đã cho trưng bày khoảng 280 mẫu cổ vật, trong đó có các loại sản phẩm làm từ gốm như bình, bát, lọ,… Chiếc tàu bị đắm có niên đại từ triều đại Nam Tống (1127-1279) và được phát hiện bởi ngư dân Trung Quốc vào năm 1996.

Bắc Tống – Nam Tống là một trong những triều đại yếu ớt nhất trong lịch sử Trung Hoa. Trước đó, vào năm 981, triều đình Tống Thái Tông nhăm nhe xâm chiếm nước Nam, tuy nhiên đã bị quân và dân Đại Cồ Việt đánh cho đại bại. Huyền thoại về bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước Việt, Nam Quốc Sơn Hà, cũng ra đời trong thời kỳ này. Các bản đồ lịch sử thời Tống cho thấy, cương vực của Trung Hoa cũng chỉ dừng lại đến đảo Hải Nam.

Sự kiện trưng bày các hiện vật khảo cổ khai quật tại Hoàng Sa này diễn ra song song với sự kiện tàu ngầm Giao Long được tung vào “nghiên cứu Biển Đông” từ tháng 6 cho đến nay. Hải trình của Giao Long không được tiết lộ nhưng có thể thấy các dự án mang danh văn hóa nhưng mục đích vẫn là tìm cách xâm hại nghiêm trọng vùng biển chủ quyền của Việt Nam.

Trong khi đó, tại TP. HCM đang diễn ra triển lãm Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam (từ ngày 22-29/8). Tại đây trưng bày gần 150 bản đồ, tư liệu, văn bản, hiện vật và ấn phẩm, tập hợp từ các nhà nghiên cứu, học giả trong nước và quốc tế cho thấy bằng chứng lịch sử và pháp lý chứng minh chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

‘Trung Quốc tham lam từ Hoa Đông đến Biển Đông’

Chí Đăng (SMO) – Hậm hực trước cái bắt tay Nhật-Đài trong việc thỏa thuận đánh bắt cá trên Hoa Đông nhưng lại chủ động đề xuất “hợp tác cùng phát triển” trên Biển Đông, Trung Quốc cho thấy những đề xuất hình thức không thể che dấu được sự tham lam xuyên suốt từ Hoa Đông đến Biển Đông. (…)

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.