Ăn thịt chính mình

Posted: September 15, 2013 in Uncategorized
Tags:

An Quý (NLĐO||QC) – Không chỉ hàng trăm dự án thủy điện nhỏ và vừa bị Bộ Công Thương và chính quyền các tỉnh, thành “khai tử”, hàng chục dự án thủy điện gần đây cũng được các chủ đầu tư bán lại. Đây có thể gọi là cuộc tháo chạy khỏi lĩnh vực từng có một thời hoàng kim này.

Vì sao tháo chạy? Lý do bề nổi là đầu tư lớn song hiệu quả thấp, còn nguyên nhân ngầm – hầu như ai cũng đoán biết được – là đã đạt được mục đích chính: khai thác lâm sản, gọi là… phá rừng cũng chẳng sai!

(Xem thêm: Nhìn lại tổng thể bài toán phát triển thủy điện – Việt Nam có mất đất không, thưa Ts Trần Công Trực? – Nỗi day dứt về biên giới phía Bắc – Áo Đụp Rận Đàn) …


Khu vực xây dựng thủy điện Thượng Kon Tum. Ảnh: CAO NGUYÊN
Dự án thủy điện nhiều như nấm sau mưa và trong đó số dự án “trùm mền” cũng nhiều vô kể, trong khi điện vẫn thiếu và đặc biệt là nhiều cánh rừng đã mất vĩnh viễn. Báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN-PTNT) về việc chuyển mục đích sử dụng rừng sang xây dựng thủy điện gửi Chính phủ cách đây vài tháng chứng minh điều này.

Theo đó, giai đoạn năm 2006-2012, cả nước có 160 dự án thuộc 28 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện việc chuyển mục đích sử dụng rừng sang xây dựng thủy điện với diện tích gần 20.000 ha, trong đó rừng đặc dụng là gần 3.100 ha, rừng phòng hộ gần 4.500 ha; rừng sản xuất hơn 12.300 ha. Khu vực có nhiều dự án chuyển mục đích sử dụng rừng sang làm thủy điện nhiều nhất là Tây Nguyên (50 dự án, gần 8.200 ha, chiếm 41,2% cả nước), Bắc Trung Bộ (23 dự án, hơn 4.500 ha, 22,9% cả nước), Tây Bắc, Nam Trung Bộ…

Theo tính toán của các nhà khoa học, cứ 1 MW điện làm ra, chúng ta mất đi từ 10-30 ha rừng. Mà nào đâu phải rừng nghèo, những địa điểm làm thủy điện được các nhà đầu tư chọn đều là rừng đặc dụng, vùng lõi vườn quốc gia… Thế nên, giới làm ăn thường kháo nhau thủ thuật kiếm chác từ tài nguyên thiên nhiên, đó là muốn khai thác lâm sản hợp pháp, hãy tìm cách… chạy dự án thủy điện. Khi đã qua truông khâu cấp phép thì khoanh vùng mà đốn gỗ, sau này cho dự án nằm ì cũng chẳng sao, cùng lắm là bị thu hồi. Thật đáng sợ! Vì thế, báo cáo của Bộ NN-PTNT nhấn mạnh: “Rừng bị phá không kiểm soát được”.

Chắc chắn, diện tích rừng thực tế bị mất phải lớn hơn con số 20.000 ha nói trên rất nhiều vì tiếp sau mỗi thủy điện được triển khai là hoạt động di dân, tái định cư, tức là rừng sẽ bị triệt hạ thêm nữa. Rừng đã mất thì hầu như không thể phục hồi, bởi theo Bộ NN-PTNT, diện tích rừng trồng bù chỉ đạt 3,7% (735 ha trên tổng số gần 20.000 ha rừng chuyển đổi). Tội đồ rõ ràng là các chủ đầu tư, trong đó có phần trách nhiệm của chính quyền những địa phương có dự án. Hậu quả thế nào, ai cũng đã nhìn thấy: Khô hạn, lũ quét tàn phá hạ du; người dân hạ nguồn thiếu đói, bất an…

Khai thác tài nguyên để phục vụ nhu cầu năng lượng trong nước, thậm chí xuất khẩu năng lượng (bán điện sang một số nước) là việc làm chính đáng nhưng cái cách đánh đổi như từ trước đến nay thật quá đáng và phũ phàng. Ăn vào tài nguyên thì bao giờ cái mất cũng nhiều hơn cái được. Và như thế chẳng khác nào ăn thịt… chính mình!

Nhìn lại tổng thể bài toán phát triển thủy điện
Tô Văn Trường (Nguoilotgach||Quechoa) – Lời nguyền tài nguyên có câu “ăn của rừng rưng rưng nước mắt” ngẫm suy thật chuẩn xác vì đó là cái giá phải trả do đối xử tệ hại với môi trường sinh thái tự nhiên. Ngoài nguyên nhân do lâm tặc hoành hành, sự tiếp tay của những phần tử thoái hóa trong chính quyền, thì việc phát triển thủy điện tràn lan, tàn phá rừng đầu nguồn kể cả vườn quốc gia cũng là tác nhân gây nên các hiện tượng lũ quét, lũ ống, sạt lở núi đồi vv…phá hủy các cơ sở hạ tầng, làm nhiều người bị rơi vào cảnh “màn trời chiếu đất”, đặc biệt là cướp đi biết bao sinh mạng của người dân vô tội.

Chúng ta đều biết điện sử dụng bằng điện sản xuất cộng điện nhập khẩu trừ đi điện tiết kiệm. Phương trình này đơn giản nhưng không phải là bài toán dễ giải .Thủy điện là nguồn điện rẻ, sạch, có khả năng tái tạo cho nên các quốc gia có tiềm năng về thủy thế, nguồn nước đều ưu tiên coi trọng thủy điện. Tuy nhiên, nhìn tổng thể bài toán cơ cấu nguồn điện năng của nước ta thì thủy điện chiếm tỷ lệ quá cao trong tổng sơ đồ điện. Thủy điện đòi hỏi đầu tư rất lớn nhưng tác động đến môi trường cũng không nhỏ phải di dân tái định cư, thay đổi dòng chảy tự nhiên, môi trường sinh thái động thực vật, đa dạng sinh học, đặc biệt tàn phá rừng.

Nguồn năng lượng điện ở Việt Nam từ trước đến bây giờ vẫn chủ yếu dựa vào các nguồn nhiên liệu chính là than đá, khí (nhiệt điện), và nước mặt ở các dòng sông (thuỷ điện), trong đó nguồn thuỷ điện luôn duy trì tỷ trọng lớn khoảng 40% trong cơ cấu nguồn điện ở Việt Nam từ trước đến nay. Tiềm năng lý thuyết thủy điện Việt Nam khoảng 75.000MW, tiềm năng kỹ thuật khoảng 31.000MW và tiềm năng kinh tế-kỹ thuật khoảng 20.000MW. Năm 2001, công suất max hệ thống khoảng 6000MW nhưng đến năm 2009 con số này đã là khoảng 14.000MW (trung bình tăng 1000MW/năm với tỷ lệ tăng khoảng 12%/năm), trong đó thuỷ điện chiếm 6.500MW. Hiện tại, công suất thủy điện trong hệ thống khoảng 11.000MW. Dự báo đến các năm 2020 và 2030 tổng công suất hệ thống là khoảng 75.000MW và 150.000MW, trong đó thuỷ điện tương ứng là 17.000MW (23%) và 18.000MW (12%). (…)

Mấy nhận xét qua bài trả lời của tiến sỹ Trần Công Trực
về “Sự thật về Thác Bản Giốc” của ông Mai Thái Lĩnh
đăng trên Báo Giáo dục VN ngày 11/09/2013.

Thái Bình (BVN||Quechoa) – Tóm lại, câu hỏi cốt lõi mà tất cả người dân VN đặt ra vẫn chưa được ông trả lời minh bạch và thuyết phục: Với Hiệp định trên, Việt Nam có mất đất không? (… Mời xem theo 2 link)

Nỗi day dứt về biên giới phía Bắc
Hàn Vĩnh Diệp (CLB Phan Tây Hồ) (BVN) – Bài viết này của Hàn Vĩnh Diêp (tức Diệp Đình Huyên) công bố năm 2008, vào lúc có tin sắp hoàn thành việc cắm mốc biên giới trên đất liền.Sau những trận càn quét của “tin tặc” (không biết từ đâu ra và do ai nuôi?), bài viết chỉ còn xuất hiện trên một vài trang blog không nổi tiếng lắm. Bauxite VN đăng lại theo bản lưu trữ.

Cột mốc 53 trơ trọi trên đầu thác Bản Giốc
Trong bài viết này tác giả bác bỏ ý kiến của ông Vũ Dũng (lúc đó là Thứ trưởng Bộ Ngoại giao) khi ông này tuyên bố với báo chí rằng “hoàn toàn không có chuyện mất đất!”. Ông đã chứng minh rằng tại hai địa điểm (Thác Bản Giốc và Hữu Nghị Quan) mà ông Thứ trưởng đã dẫn chứng – và được ông đại biểu Quốc hội Nguyễn Lân Dũng phụ họa, đều có chuyện di dời cột mốc và mất đất.

Đặc biệt là trong phần “phụ lục”, tác giả đã cho chúng ta biết thêm về một địa điểm khác tại Cao Bằng đã bị Trung Quốc lấn chiếm bằng cách “dời cột mốc từ trên núi cao xuống dưới chân núi”. Đó là cửa khẩu Ngọc Khê (Pò Péo)tại tỉnh Cao Bằng. Cửa khẩu này nằm gần nơi sông Quây Sơn chảy từ Trung Quốc sang đất Việt Nam, về phía thượng lưu của Thác Bản Giốc. Để độc giả dễ xác định vị trí của cửa khẩu này, tôi đã mạn phép đưa thêm một tấm bản đồ trích từ bộ Bản đồ Giao thông xuất bản năm 2004. (Xem theo link)

Áo Đụp Rận Đàn
Minh Diện (BVB) – Theo báo Pháp Luật và trang mạng Vnconomy, 6 tháng đầu năm 2013, Thanh tra chính phủ đã thực hiện 4.724 cuộc thanh tra hành chính, 89.281 cuộc thanh tra chuyên ngành, và 3.745 cuộc thanh tra do bộ, ngành và địa phương thực hiện, tại 283.183 đơn vị , cá nhân trên cả nước.

6 tháng = 180 ngày = 4.320 giờ, tính cả chủ nhật, ngày lễ. Từ đó suy ra, mỗi ngày có 543 đoàn thanh tra, kiểm tra và mỗi giờ thanh tra, kiểm tra được 65 đơn vị, cá nhân. Không biết Thanh tra chính phủ có phép Lão Tôn đi mây về gió và có những phép màu gì nữa mà tài tình thế?

Cũng theo hai tờ báo trên, thanh tra trung ương đã phát hiện sai phạm 12.225 tỷ đồng, 452 hec-ta đất, thanh tra các địa phương phát hiện 1.447 tỷ, và thanh tra ngân hàng phát hiện 682 tỷ đồng, 562 lượng vàng và 50.000 đô la. Tổng số tiền, vảng ấy quy ra bằng 683 triệu đô la Mỹ.

Nếu so với GDP bình quân thu nhập của Việt Nam năm 2012 là 1.407,11 đô la thì số tiền sai phạm, nói trắng ra là tham nhũng gấp 485.429 lần. Con số báo cáo, thống kê ở nước ta về mọi phương diện vẫn là những màn múa rối với những kịch bản theo trường phái trừu tượng!

(…) Tại Hội nghị trung ương lần thứ 5, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng nhận xét: “Công tác phòng chống tham nhũng chưa đạt yêu cầu”. Và ngày 23-11-2012, với 94,9% số phiếu, Quốc hội khóa XIII, đã biểu quyết thông qua “Luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật phòng chống tham nhũng” và thành lập “Ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng” do đích thân Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng làm Trưởng ban, thay Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, đồng thời Ban nội chính, Ban kinh tế trung ương được tái lập. Phen này Đảng quyết liệt ra tay thực hiện bằng được mục tiêu: “Ngăn chặn từng bước, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, tạo bước chuyển biến rõ rệt, để giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế-xã hội, củng cố lòng tin của nhân dân, xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch vững mạnh; đội ngũ cán bộ công chức kỷ cương, liêm chính!”(Nghị quyết TW 4).

Nhưng vẫn chưa thấy chuyển biến nào rõ rệt cả. Theo đánh giá của Tổ chức minh bạch quốc tế TI (Transparency Iternational) năm 2012, điểm số của Việt Nam tăng nhẹ từ 2,9 thang 10 lên 31 thang 100, nhưng vẫn bị tụt 11 bậc, không những so với quốc gia tiên tiến mà cả với các nước trong khu vực.

Nguyên nhân nào đã khiến việc chống tham nhũng của Việt Nam cam go như vậy?

Có một công thức như sau:

Tham nhũng (Conruption)= Độc quyền
+ Bưng bít thông tin (Discretion) – Trách nhiệm giải trình (Accounlabity).

Độc quyền hay độc tài bao giờ cũng gắn chặt với bưng bít thông tin, và thiếu minh bạch, đó là mảnh đất mầu mỡ để tham nhũng sinh sôi phát triển. Phải chăng chúng ta đang sở hữu toàn dân mảnh đất đó?

Chủ tịch tổ chức minh bạch quốc tế Peter Eigen phát biểu trên hãng tin Routers: “Tham những làm giảm hiệu năng hoạt động của chính phủ Việt Nam, bên cạnh các vấn đề như thiếu giải trình, thiếu minh bạch và guồng máy hành chính cồng kềnh, các nhóm đặc quyền, đặc lợi, trong khi chính quyền đặt trọng tâm trong vấn đề an ninh!”

Thiếu minh bạch, thiếu giải trình, đặc quyền đặc lợi do đâu sinh ra? Cách đây hai năm, giáo sư Hoàng Tụy đã nói thẳng là do cơ chế. Ông viết: “Tham nhũng ở ta là căn bệnh của cơ chế, đã ngấm vào máu rồi!”. Nguyên tổng bí thư Lê Khả Phiêu đồng ý như vậy và ông cộng thêm vào yếu tố con người. Ông nói “Tệ nạn tham nhũng ở ta do cơ chế và con người mà ra!”

Cái cơ chế ấy như một tấm huân chương, mặt phải thêu dệt lộng lẫy nhưng mặt trái nham nhở nhiều nút thắt!

Thử nhìn vào cơ chế tiền lương và cơ chế cán bộ, công chức xem có đúng là một nguyên nhân gây ra tham nhũng không? Marx viết: “Tiền công không phải là giá cả hay giá trị của lao động mà chỉ là hình thái cải trang của giá trị hay giá cả của lao động!” Trên cơ sở triết học đó, nhà nước ta đưa ra một khái niệm rất hay về tiền lương: “Đó là một trong những động lực kích thích mọi người làm việc hăng say, tất cả đều phụ thuộc vào năng lực, trình độ của người lao động!”

Lý thuyết như vậy, nhưng thực tế tiền lương ở ta không trả theo năng lực của người lao động, không kích thích mọi người làm việc hăng say, và cán bộ, công chức không được tuyển dụng theo trình độ và công việc của mỗi người. Thực tế mức lương của Việt Nam rất thấp, thấp hơn cả những nước nghèo nhất thế giới hiện nay như Cộng hòa Haiti, Cộng hòa Guinea Xich Đạo, Cộng hòa dân chủ Côngo. Tháng 7 vừa qua nước ta mới nâng mức lương cơ bản lên 1.150.000 đồng, tương đương 54,8 đôla một tháng, trong khi mức lương cơ bản ở Congo 214 đô la.

Nhưng cán bộ, công chức Việt Nam hiện nay lại giàu sang, sung sướng hơn công chức những nước Thái Lan, Hàn Quốc, và ngay cả Singapore.

Tôi đã tìm hiểu, Singapore lương khởi điểm công chức là 1.300 đô la và lương cấp thứ trưởng 40.000 đô la, nhưng hầu như không ai có biệt thự riêng, xe hơi ngoại sang trọng. Họ ở chung cư, đi làm bằng xe buýt, ăn uống rất tiết kiệm. Ở Việt Nam, lương khởi điểm 54,8 đô la, lương cấp thứ trưởng 523,5 đô la, mà ông bà nào cũng nhà cao cửa rộng, có ông bà không chỉ một mà hai ba căn. Những bữa tiệc thừa mứa rượu ngon và sơn hào hải vị thường xuyên bày ra trước mắt. Các vị đầy tớ của dân ấy miệng leo lẻo kêu lương bèo, mà bụng kễnh ra, mặt nung núc nhờn mỡ.

Thử hỏi tiền đâu ra?

(…) “Cảnh báo, cảnh tỉnh, răn đe, giáo dục” như TBT Nguyễn Phú Trọng coi là thực hiện NQTƯ 4 thành công, thực ra chỉ có hiệu quả khi mà đại đa số cán bộ công chức không cần, không muốn, không có điều kiện tham nhũng. Còn với hiện trạng bây giờ thì phải thay đồi cơ chế để giống như Singapore, cán bộ công chức chẳng những không muốn, không cần mà còn không dám, không thể tham nhũng.

Cơ chế của ta hiện nay tạo quá nhiều thuận lợi cho tham nhũng lợi dụng, như chiếc áo chắp vá cho loài rận ẩn núp. Phải chăng đã đến lúc thực hiện cơ chế công khai, minh bạch hóa, như ông James Anderson, chuyên viên cao cấp của ngân hàng thế giới khuyến nghị: “Càng công khai minh bạch thì tham nhũng càng ít!” . Hóa ra, nhìn thẳng vào thực tế, các biện pháp và những nỗ lực thực thi xử lý tham nhũng chỉ chắp vá như 'áo đụp' còn cả bầy sâu vẫn nhung nhúc như 'rận đàn'.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.