Để tránh “tai hoạ từ tài nguyên”

Posted: September 16, 2013 in Uncategorized
Tags:

Nguyen Thuy (bvn) – Những thảm họa liên quan đến sự phát triển tài nguyên mà TS TVT tìm cách báo động qua bài Lời nguyền tài nguyên đăng trên BVN, thực ra là vấn đề chung của các nước chậm tiến đang còn trên đường phát triển, gây thảm đến nỗi dư luận toàn cầu phải dùng cụm từ “Resource curse” trong tiếng Anh để chỉ (có thể dịch là “Tài nguyên khốn nạn” hay “Tai họa từ tài nguyên”). Bài của TS TVT nêu lên hai vấn đề: một về quản lý sự phát triển tài nguyên thiên nhiên nói chung và hai về quản lý sự phát triển điện lực nói riêng. Để góp ý tôi cũng xin bàn về hai đề tài này.

(Xem thêm: Bờ biển Việt Nam bị xói lở trầm trọng – Chính sách đất đai bất cập hay là vấn đề “lợi ích nhóm” và sự vô cảm của những kẻ thực thi – Bản đồ mốc giới trên biên giới Việt – Trung – Bảo tồn đa dạng sinh học: Nghèo giữa “rừng vàng”) …

Quản lý sự phát triển tài nguyên thiên nhiên

Theo Larry Diamond & Jack Mosbacher là hai tác giả của bài “Petroleum to the People” tạm dịch là “(trả) Nguồn lợi dầu hỏa về cho nhân dân”, đăng trên báo Foreign Affairs số tháng 9/10 2013 thì sự phát triển tài nguyên thiên nhiên thường đi đôi với tham nhũng vì những kho dự trữ lớn lao chưa được khai thác thường là nằm ở các nước chậm tiến kém phát triển về mọi mặt và đặc biệt là về Pháp lý với luật pháp lỏng lẻo dễ bị lợi dụng khai thác. Do đó nguồn tài nguyên thiên nhiên vĩ đại có thể trở thành cái họa làm các nước đang mở mang như Phi châu trong tương lai sẽ bị dẫn đến cảnh bị chậm tiến triền miên (trích: so-called resource curse, a global phenomenon in which vast natural resource wealth leads to rapacious corruption, decimated governance and chronic underdevelopment) .

Từ lâu những ai nghiên cứu về phát triển kinh tế đều nghĩ là sự sở hữu các nguồn lớn tài nguyên đa dạng là một lợi thế giúp cho sự phát triển nhanh chóng của một quốc gia. Nói như vậy có nghĩa là những tài nguyên đáng giá được xem như một loại gia tài được thượng đế ban cho, vì thế mà Học giả Norton Ginsburg vào năm 1957 đã viết như sau (trích: the possession of a sizable and diversified natural resource endowment is a major advantage to any country embarking upon a period of rapid economic growth). Chỉ từ năm 1980 thì các chuyên gia mới nhận ra được là hiện tượng ngược cũng có thể xẩy ra khi thực tế cho thấy là KT các nước giầu tài nguyên phát triển kém hơn KT các nước láng giềng nghèo tài nguyên.

Trong những nước có dân chủ thực sự thì người dân đóng thuế để đổi lấy việc được trả lại bằng các dịch vụ như y tế xã hội v.v… cũng như về an ninh tức để được bảo vệ. Như vậy lợi tức của chánh phủ là đến từ thuế nên thuế được xem như một loại giao kèo gắn bó trách nhiệm của hệ thống công quyền với các bộ phận trong xã hội (taxation becomes the binding force of accountability between public officials and their constituents). Các bộ phận nhân dân là một loại chủ đầu tư kiểm soát trực tiếp, do đó tiền đóng thuế sẽ được dùng đúng mức và hữu hiệu. Ý thức về sự tương quan giữa thuế, nhân dân và nhà nước chưa được hiểu như nêu trên tại các nước nghèo như ở phi châu hiện nay, vì 3/5 ngân sách quốc gia còn phải nhờ vào sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế và của các chính phủ tây phương, do kinh tế yếu kém, kỹ nghệ lạc hậu. Mặc dầu các tổ chức quốc tế cũng có kiểm soát cách sử dụng nguồn vốn cho vay nhưng không thể hữu hiệu bằng trường hợp các nước có chính thể tam quyền phân lập.

Có sự lo ngại là nếu các công ty ngoại làm khai thác tại các nước giầu tài nguyên thiên nhiên nhưng không có dân chủ, trả thẳng lợi nhuận cho chánh phủ sở tại thì dân sẽ khó mà biết được số tiền đó là bao nhiêu. Hậu quả của viễn ảnh này là đầu độc sự phát triển, vì tuôn nguồn tiền lớn vào KT mà không có kiểm soát, do đó gây ra lạm phát, phung phí và tham nhũng nặng cũng như giết chết sự cạnh tranh của KT cổ truyền: trong lãnh vực xuất cảng nông nghiệp cũng như trong các ngành sản xuất khác của công nghệ. Theo ước tính thì trong tương lai sẽ có khoảng 12 nước ở phía đông và tây Phi châu sẽ trở thành những nước sản xuất dầu hỏa lớn với hàng tỉ thùng dầu (billions of barrels of exportable oil) được xuất cảng , có thể đem lại lợi tức hàng tỷ tỷ Mỹ Kim (trillions of dollars in oil revenue) .

Vì nghĩ rằng các chánh phủ sẽ phải “coi chừng” nếu người dân biết phần lợi tức mà các công ty trả, nên có nhiều nỗ lực toàn cầu (Global efforts) như phong trào “Publish What You Pay” (Công bố những gì đã trả), cố gắng tìm cách thuyết phục các công ty công bố những khoản tiền họ đã trả cho các chánh phủ (để được quyền khai thác), hoặc nhóm “Extractive Industries Transparency Initiative” với nghiên cứu tìm cách hoạch định các tiêu chuẩn về sự minh bạch và sự chịu trách nhiệm về các giải trình. Các nỗ lực nêu trên là cần thiết nhưng không đủ để ứng phó với các chính thể độc tài vì thế mà các tác giả đã đề nghị thêm giải pháp gọi là “Oil to cash approach”, do một nhóm Học giả ở trung tâm phát triển toàn cầu (Center for Global Development) thiết kế.

Mục đích của giải pháp kể trên là để cho dân có thể làm chủ các nguồn lợi tức. Nguyên tắc là: khởi đầu phân nửa lợi tức mà các công ty khai thác dầu trả được phân phối thẳng cho dân theo một công thức KT nào đó để trung bình các gia đình nghèo có thể nhận một số tiền cho đúng mức, làm sao khi họ tiêu xài sẽ không gây lạm phát hay các biến dạng khác cho nền KT. Và chánh phủ chỉ được vào cuộc sau đó để để đóng thuế lợi tức những tiền được chuyển cho dân. Như vậy cũng như chánh phủ sẽ phải đi xin tiền dân để cung cấp các dịch vụ. Phải khai báo đàng hoàng là lấy tiền của dân để làm gì và Quốc hội phải cho phép thì mới hợp pháp. Họ nghĩ là với tiến bộ ngày nay của kỹ thuật về điện toán trong ngành ngân hàng, việc này có thể được thực hiện một cách tự động qua các chương trình được cài trong hệ thống máy điện tử.

Các dự án của tư bản đỏ VN không phải là để phát triển đất nước mà là để kiếm chác ăn chia lợi nhuận, cứ ai đấm mõm là cấp giấy phép. Không những cho công ty Trung Cộng vào xây dựng mà còn cho cả công nhân của TC vào làm. Vậy dân mình ăn cái gì trong đó. Bây giờ đến Nam Hàn cũng bắt chước đòi đem công nhân sang làm (trích: Trong chuyến đi tới Việt Nam kéo dài năm ngày, bà Park đã ở TP. HCM một ngày để thăm và làm việc với giới chức lãnh đạo thành phố bao gồm cả các cuộc gặp với Bí thư Thành Ủy Lê Thanh Hải và Chủ tịch UBND Lê Hoàng Quân… Bốn lĩnh vực được Tổng thống Nam Hàn đặc biệt nhấn mạnh trong cuộc gặp với giới lãnh đạo thành phố là: nới lỏng luật lệ tuyển dụng người nước ngoài để tạo điều kiện cho những người theo học từ các trường dậy nghề cấp trung học ở Nam Hàn có thể làm việc tại đây. Ông Lê Thanh Hải được dẫn lời nói rằng ông sẽ cố gắng giải quyết các chủ đề này và nhấn mạnh rằng làm được như vậy sẽ đóng góp vào việc xây dựng niềm tin giữa hai nước).

Bên các nước tư bản tiến bộ chuyên viên kỹ thuật đào tạo ở cấp trung học rất là cần thiết vì có thể nói là cột trụ xương sống của các xí nghiệp trung và nhỏ là loại rất năng động. Kinh tế của một quốc gia có phát triển mạnh hay không là nhờ ở tiềm lực của loại xí nghiệp nêu trên, có thể nói là động cơ của kinh tế thị trường vì là guồng máy tạo ra phần lớn công ăn việc làm. Không hiểu sao mà các “đỉnh cao trí tuệ” lại không nhìn ra sự kiện sơ đẳng này mà phải chờ bà tổng thống đến từ Nam Hàn sang “dậy cho” mới biết. Đào tạo loại chuyên viên này không có khó, lại thêm không mất nhiều thời gian. Loại trường huấn nghệ này, do chính phủ tiểu bang trợ cấp, có đầy rẫy bên Canada vì là nhu cầu lớn của kỹ nghệ. Miền Nam trước 75 cũng có trường trung học kỹ thuật Cao Thắng đào tạo loại này.

Có một thời các trường đào tạo kỹ sư ở Quebec phải đóng cửa phân khoa dậy về kỹ thuật điện (Électrotechnique) vì không có học sinh. Lớp trẻ đổ xô đi học về điện tử (Électronique) vì là phong trào, làm các công ty điện lực không có KS trẻ thay thế khi đám già đi về hưu, nên đã buộc phải bỏ cả triệu dollars để cho các đại học thuê thầy mở lại các phân khoa. Để đáp ứng nhu cầu của công nghệ, chương trình học được hoạch định chung giữa các GS với các KS kỳ cựu có kinh nghiệm của các hãng. Còn hứa hẹn thêm là một chỗ làm khi ra trường sẽ được dành cho người được tuyển vào học. Nhờ vậy mà đã tuyển được một số SV ưu tú vì có nhiều đơn xin học. Thay vì nhập cảng công nhân người Hàn, Tp nên đáp ứng nhu cầu bằng một chương trình đào tạo quy mô về nhân lực các loại mà công nghệ NH cần, như vậy có nghĩa là họ cũng phải bỏ vốn vào việc này. Có thể dùng các Kỹ sư bên nhà để làm việc giảng dậy đào tạo, như vậy là một công hai chuyện tạo công ăn việc làm cho cả KS.

Quản lý sự phát triển điện lực

Đọc bài của TS TVT cũng thấy coi bộ “ảnh hưởng môi trường” không phải là phần quan trọng trong các dự án về điện tại VN trong khi ở tiểu bang Quebec (Qc) bên Canada là nơi có nhiều công trình vĩ đại hạng nhất nhì thế giới về thủy điện, thì phần này là hóc búa nhất. Bên này khi làm thủy điện thì cũng chỉ lấy mấy con sông ở phía Bắc cực thưa dân thường chỉ có mấy ngàn người dân tộc thiểu số sống. Cách làm là dồn nước một hai con sông đổ vào một chỗ trũng rộng lớn làm bể chứa. Người ta chọn làm sao để nước chẩy từ phía cao xuống thấp đi ra biển.Và chọn đường làm sao để có thể lợi dụng địa thế xây nhiều chặn đập điện dọc đường tức nước ở đập trên chẩy xuống đập dưới rồi chảy xuống đập dưới nữa v.v.. Ví dụ như ở Qc nước ở đập Mc 5 sau khi làm chạy “turbine” để sản xuất điện thì chảy suống các đập phía dưới …đập Mc 2, Mc 1. Và đập điện cũng chỉ chắn phần nào lối đi của con sông để vẫn còn chỗ cho cá như loại cá hồi có thể di chuyển bơi theo dòng ra biển.

Chưa nói gì đến chuyện xây đập thuỷ điện trong đó phải để cả chục năm để chứng minh “Impact Environnemental” như cho thấy công ty điện lực có giải pháp để các loại cá sống trong dòng sông ít bị ảnh hưởng v.v.., xây một cái trạm biến điện cao thế không thôi cũng phải dự trù cả mười năm trước để thực hiện mặc dầu khía cạnh kỹ thuật không phải là vấn đề. Chỉ là nếu phải dẫn qua vùng danh lam thắng cảnh là bị dân kiện ra tòa, nói các đường giây cao thế với các cột điện làm biến dạng phong cảnh, đất đai của họ bị mất giá trị v.v.. làm phải đổi lộ trình dẫn điện đi vòng tốn tiền hơn. Khi bị như vậy là phải làm lại từ đầu tức phải tính toán lại xong đi xin phép lại v.v.

Chuyển lối đi của sông tức phá sông làm đập thủy điện sinh ra chất “thủy ngân” trong nước làm cá bị ô nhiễm sẽ gây bệnh tật khi câu lên ăn, vì thế bị người dân tộc thiểu số chống nói phá lối sống cổ truyền như săn bắn với câu cá của họ. “Pour avoir la paix sociale” tức để cho “xã hội được hài hòa” công ty điện của chánh phủ đã phải hứa dành ưu tiên một số công việc trong xây dựng cũng như khai thác thủy điện cho dân tộc thiểu số ngoài ra còn phải bồi thường một khoảng tiền rất lớn. Dân tộc thiểu số lấy tiền này để phát triển KT như xây dựng trung tâm thương mại lớn trong vùng của họ cũng như lập hãng máy bay riêng mang tên “Air Inuit” dịch ra tiếng Việt là (hãng) “Hàng không (của dân) Inuit”, độc quyền chở khách đường bay vùng phía Bắc.

Nếu biết khai thác thủy điện thì rất là lợi vì nhiên liệu là nước trữ không mất tiền mua. Một nhà máy điện chạy bằng than một khi đã đốt nhiên liệu than để sản xuất điện thì phải dùng cho hết khối đã sản xuất vì không thể tích trữ điện được. Nếu không dùng hết thì chỉ có nước vứt đi, mà vứt cũng là cả một vấn đề, nói nôm na là cũng phải có chỗ để vứt, vì thế thường là các nhà máy điện loại này có điện dư không dùng là họ bỏ lên mạng lưới rao bán. Khi mà số cung hơn số cầu thì nhiều khi phải bán rẻ dưới giá thành. Nhà máy thủy điện ngược lại có cái lợi điểm là nó như một cái robinet nước. Cần thì mở nước sản xuất điện, không cần thì đóng lại, nhờ vậy mà công ty điện ở Qc rất lời vì khi thấy điện được rao bán với giá rẻ trên mạng thì đóng máy nước mình lại để mua điện rẻ dùng. Khi thấy số cầu lớn, có hãng bên Mỹ sẵn sàng mua với giá rất cao nhiều khi gấp mấy chục lần giá bình thường, thì mở máy nước ra để sản xuất điện bán. Trường hợp VN còn có thể dùng để chống lụt, ví dụ như những đập thủy điện ở những vùng có bão lũ thì có thể mở máy nước sản xuất điện tối đa cho mức nước trong hồ chứa hạ xuống tối thiểu trước thời bão lũ. Như vậy có chỗ chứa nước tránh được lụt, lại thêm để dành được nhiều nước, đừng quên: là vàng trong kho chứa.

Nói như nêu trên không có nghĩa là nhắm mắt mà xây. Thứ nhất là vì luật bảo vệ môi trường rất gắt gao, đâu cho phá sông ngòi dễ dàng để xây. Thứ hai đi vay vốn để xây xong mới đi rao bán thì có thể sẽ bị ép giá mà không bán thì không có tiền trả nợ. Do đó trước kia bên Québec họ đi tìm khách hàng trước, ký kết đàng hoàng xong mới xây. Ví dụ như bên Mỹ cần một số lượng điện nào đó thì họ có thể điều đình để hãng Mỹ ký mua điện dài hạn hai ba chục năm, tối thiểu bằng thời gian họ trả nợ ngân hàng với một giá để có thể vừa trả nợ vừa có lời. Cả hai bên đều có lợi vì thường điện sản xuất bởi nhà máy thủy điện không những rẻ hơn điện sản xuất bởi nhà máy chạy bằng than hay dầu vì nhiên liệu là nước không mất tiền mua, lại thêm không làm ô nhiễm môi trường như khí than đốt thải ra không khí. Giá cũng ổn định hơn vì không bị ảnh hưởng lên xuống của thị trường nhiên liêu. Do đó lúc trước Mỹ rất thích mua điện của Québec. Bây giờ thì khác, do công ty điện lực Mỹ cho xây nhà máy chạy bằng khí “shale” rất rẻ được gây dựng gần những nơi tiêu dùng nên còn không bị tốn phí tổn để chuyển như trong trường hợp điện sản xuất tại Qc từ xa đến. Như vậy là bài toán về điện lực của Qc đã bị thay đổi, phải tính khác.

Cuộc mua bán điện nêu trên giữa các công ty Mỹ và Qc hiện còn chưa được hoàn hảo là do chưa phải “On line”, còn phải qua “Opérateur” tức còn phải qua người điều hành điều khiển. Nếu có thể tự động hóa hết để có thể làm dịch vụ trực tiếp thì sẽ nhanh và hữu hiệu hơn. Đây cũng là mục tiêu chung của các công ty điện trên thế giới. Mộng này có khả năng được thực hiện nhờ sự tiến bộ của hai ngành IT(Information technology) và điện tử, mở ra một kỷ nguyên mới trong ngành điện gọi là thời đại của các mạng lưới điện thông minh mà tiếng Anh gọi là “Smart Grid”. Người ta cũng cho đây là một cuộc cách mạng về kỹ thuật (révolution technologique). Các công ty điện bỏ hàng tỷ dollars vào các dự án loại này. Người ta hy vọng là nếu điện được sản xuất và tiêu dùng một cách hữu hiệu thì sẽ tránh được phần nào việc phải phá thiên nhiên để xây đập điện. Bên mình có năng lượng mặt trời dồi dào. Các gia đình VN có thể tự sản xuất điện ra để dùng bằng cách đặt các bảng hứng ánh sáng mặt trời (Panneau solaire) trên mái nhà v.v… Nếu dùng không hết thì còn có thể bán điện lại cho EVN. Do đó chánh phủ nên khuyến khích các chương trình này trước khi phá sông xây đập một cách vô trật tự v.v..

Chú thích:Larry Diamond là thành viên thâm niên của Viện Hoover và của Viện Freeman Spogli thuộc đại học Stanford, là nơi nghiên cứu về các vấn đề Quốc tế, đặc biệt tại đây ông cũng là người điều khiển trung tâm nghiên cứu về dân chủ,về phát triển và về tinh thần luật. – Jack Mosbacher là một cộng sự viên làm nghiên cứu ở Viện Freeman Spogli thuộc đại học Stanford.

Bờ biển Việt Nam bị xói lở trầm trọng
Thanh Phương (RFI) – Bờ biển Việt Nam bị xói lở trầm trọng, gây ra những tổn hại trên thiên nhiên, thất thoát về vật chất và đem lại những khó khăn cho cuộc sống của con người. Từ cuối thế kỷ XX đến nay, mức độ xói lở bờ biển Việt Nam ngày càng gia tăng từ phạm vi đến cường độ, đặc biệt trên những đoạn bờ thấp,cấu tạo bởi chất trầm tích bở rời như cát, đất bùn, bột nhuyễn sạn sỏi.

Trả lời phỏng vấn RFI Việt ngữ từ Sydney, tiến sĩ Huỳnh Long Vân, thuộc Nhóm Nghiên cứu Văn hóa Cửu Long Đồng Nai Úc Châu, cho biết những nguyên nhân khiến bờ biển Việt Nam bị sạt lở trầm trọng như vậy, và trình bày những giải pháp có thể giúp ngăn chận hiện tượng này:

(…)(…)(…)
TS Huỳnh Long Vân: – Bờ biển Việt Nam dài khoảng 3260 km, về phía Đông trung bình mỗi 20 km có một cửa sông và tình trạng xói lở là hiện tượng gây ra bởi những yếu tố nội sinh của thiên nhiên và ngoại sinh do ảnh hưởng của con người: tác động tương tác giữa đất liền và biển cả: chế độ thủy hải văn của các dòng sông, sóng biển, và thủy triều; ảnh hưởng của gió mùa, cuồng phong và những sinh hoạt khai thác ven biển.

Vì thế khi tiến hành xác định nguyên nhân xói lở bờ biển, ngay cả cho từng địa phận, ảnh hưởng của những tác nhân nêu trên phải được nghiên cứu để từ đó đề ra những biện pháp ứng phó hữu hiệu bảo vệ bờ biển.

Thực tế cho thấy tình trạng xói lở bờ biển Việt Nam trở nên trầm trọng hơn, trước những tác động ngày càng rõ rệt của biến đổi khí hậu trên toàn thể lãnh thổ Việt Nam. Tuy nhiên gần đây, vào tháng 07.2013 trong buổi hội thảo tham vấn báo cáo quốc gia về “Đánh giá xói lở bờ biển Việt Nam” giới chức Tổng Cục Biển và Hải Đảo Việt Nam cho biết hiện nay Viêt Nam vẫn chưa có một kế hoạch đồng bộ và toàn diện về mặt kỹ thuật lẫn pháp luật như: chiến lược phòng chống xói lở bờ biển, cửa sông; giải pháp và phương án ứng phó thích hợp cho từng khu vực, luật đê diều, luật bảo vệ môi trường, luật bảo vệ và phát triển rừng, luật tài nguyên nước v.v… để ứng phó với tình trạng bờ biển bị sạt lở trầm trọng.

Vì thế, tổ chức quốc tế điều phối Biển vùng Đông Nam Á (COBSEA), đã thúc giục chánh phủ Việt Nam phải khẩn cấp thiết lập những kế hoạch cụ thể và mạng lưới theo dõi để bảo vệ bờ biển và trong khi COBSEA cũng cho biết sẽ sẵn sàng hỗ trợ Việt Nam xây dựng nguồn năng lực để có đủ khả năng phục hồi, quản lý tốt đẹp nguồn tài nguyên ven biển hiện đang bị đe dọa. Đây là tiếng chuông báo động về thực trạng của bờ biển Việt Nam.

Hiện nay, Việt Nam nhận được sự trợ giúp về tài chánh lẫn khoa học- kỹ thuật từ một số quốc gia như Hoà Lan, Na Uy, Đức, Úc châu và COBSEA nhưng thiết nghĩ việc bảo vệ bờ biển Việt Nam là trách nhiệm của giới hữu trách Việt Nam, vì thế giới hữu trách CHXHCNVN không thể trông đợi nước ngoài gánh vác mọi việc, ngay cả việc thiết lập chiến lược phòng chống xói lở bảo vệ bờ biển của xứ sở mình.

Chính sách đất đai bất cập
hay là vấn đề “lợi ích nhóm”
và sự vô cảm của những kẻ thực thi

Nguyễn Trọng Bình (Viet Studies) – Những bất cập liên quan quan đến chính sách đất đai hiện nay trên bình diện vi mô lẫn vĩ mô đã được bàn nhiều. Đã có những kiến nghị điều chỉnh, sửa chữa những bất cập ấy cho phù hợp với tình hình thực tế từ các chuyên gia trong lĩnh vực này lẫn những người trong cuộc (những người trong bộ máy công quyền trực tiếp thực thi). Nói cách khác, hiện nay hầu như mọi người đều thừa nhận một cách nôm na rằng “luật đất đai không theo kịp tình hình thực tế”. Điều ấy cũng có nghĩa là, dù muốn dù không những người thực thi chính sách đất đai hiện nay buộc lòng phải căn cứ vào những văn bản luật hiện hành để giải quyết những vấn đề có liên quan. Đây là lẽ đương nhiên. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là những người đang thực thi hiện nay có thật sự tuân thủ luật hay không? Ngoài ra, trong hoàn cảnh mà ai cũng biết “luật đang không theo kịp thực tế” thì trước những vấn đề nảy sinh, “những người có trách nhiệm” đã làm gì để đảm bảo lợi ích chính đáng của người dân một cách thấu tình đạt lý nhất? Và từ góc nhìn tất cả phải đặt lợi ích của dân lên hàng đầu, phải “vì dân mà phục vụ” thì những người đang trực tiếp thực thi chính sách đất đai hiện nay có thật sự là những “công bộc” của dân hay chưa? Những tiếng súng của Đoàn Văn Vươn hay Đặng Ngọc Viết… liên tiếp nổ ra gần đây cùng hàng ngàn đơn khiếu kiện vượt cấp của nhân dân trên cả nước hiện nay cho chúng ta thấy điều gì? (…) (Xem tiếp theo link)

Thác Bản Giốc – Những Căn Cứ Pháp Lý
Mai Thái Lĩnh (phản biện bài trả lời của ông Trần Công Trục) (Basam.info) – Trước hết, tôi ghi nhận thiện ý của ông Trần Công Trục khi ông viết: “tôi mong muốn thông qua quá trình trao đổi, đối thoại để thu hẹp khoảng cách trong nhận thức xã hội về vấn đề chủ quyền lãnh thổ sao cho có lợi nhất cho công cuộc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ hợp pháp của quốc gia, dân tộc, đặc biệt trong bối cảnh căng thẳng trên Biển Đông ngày càng gia tăng và tiềm ẩn những nhân tố khó lường.”

Tuy nhiên, để có thể “thu hẹp khoảng cách” trong nhận thức của xã hội về vấn đề chủ quyền lãnh thổ, chúng ta không thể dựa trên ý chí của từng cá nhân, từng nhóm người hay thậm chí dựa trên ý chí của một đảng chính trị – cho dù đảng đó đang nắm giữ bộ máy Nhà nước. Khoảng cách đó chỉ có thể được thu hẹp và tạo nên sự đồng thuận một khi dựa trên quyền lợi chung của toàn dân tộc, và nhất là phải tôn trọng sự thật. Ngày nay, với phương tiện truyền thông có tính toàn cầu, không thể bưng bít sự thật hay tìm cách khuôn sự thật theo ý muốn của một cá nhân hay một nhóm người nào cả.

Về những bằng chứng lịch sử liên quan đến Thác Bản Giốc, tôi có một cách nhìn hoàn toàn khác với ông Trần Công Trục, bởi vì đối với đường biên giới Việt-Trung – vốn là một đường biên giới có lịch sử lâu đời và có liên quan đến sự tồn vong của dân tộc ta, đất nước ta, không thể không đề cập đến phương diện lịch sử. Hơn thế nữa, những bằng chứng lịch sử đó có từ rất lâu – trước khi Đảng Cộng sản nắm chính quyền trên toàn miền Bắc, thậm chí trước khi Đảng Cộng sản ra đời, vì thế không thể nói rằng đó là kết quả của “hệ thống tài liệu tuyên truyền chính thức” trong giai đoạn cuối thập niên 1970 – khi quan hệ giữa hai nước trở nên căng thẳng. Chính vì lẽ đó, tôi đã giới thiệu lại các bài viết của ông Diệp Đình Huyên (tức Hàn Vĩnh Diệp) để chứng minh rằng “Thác Bản Giốc hoàn toàn thuộc về Việt Nam” từ rất lâu và suốt trong thời kỳ quan hệ giữa hai nước vẫn còn hữu hảo, phía Trung Quốc không hề thắc mắc gì về “sự thật” này. Hơn thế nữa, nếu Việt Nam thật sự là một quốc gia dân chủ bảo đảm đầy đủ quyền tự do ngôn luận cho mọi công dân thì sẽ có rất nhiều người noi gương ông Diệp Đình Huyên sẵn sàng đứng ra làm nhân chứng cho “sự thật” đó.

Trong phạm vi của bài phản biện này, tôi tạm thời gác lại khía cạnh lịch sử của chủ đề “Thác Bản Giốc”, để tập trung bàn về những căn cứ pháp lý.

1) Tại sao các tài liệu liên quan đến Thác Bản Giốc và Cồn Pò Thoong không được mang đi đàm phán? (…)

2) Tại sao lại công nhận vị trí mới của cột mốc 53? (…)

3) Tại sao không được phép sử dụng những tài liệu pháp lý mà Bộ Ngoại giao và Bộ Quốc phòng có sẵn trong tay? (…)

Mời xem bài viết và nhiều hình ảnh minh họa theo Link

Bản đồ mốc giới trên biên giới Việt – Trung
BVN xin chân thành cảm ơn sự tín nhiệm của hai nhà nghiên cứu Dương Danh Huy và Phan Văn Song thể hiện trong việc gửi gắm cho BVN công bố công trình công phu này, và xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc. (…)

Bảo tồn đa dạng sinh học: Nghèo giữa “rừng vàng”
(ĐĐK) – "Rừng vàng, biển bạc” là niềm tự hào của Việt Nam và điều này hoàn toàn dễ hiểu khi Việt Nam được biết đến như là một trong các trung tâm đa dạng sinh học (ĐDSH) của thế giới với các hệ sinh thái tự nhiên phong phú và đa dạng. Thế nhưng, ĐDSH của Việt Nam lại đang suy thoái với tốc độ rất nhanh.

Rừng nguyên sinh ở huyện Bác Ái (Ninh Thuận)
Ảnh: Thiên Bình

Phải giải quyết những xung đột lợi ích

Sự tăng trưởng kinh tế và sự gia tăng dân số nhanh chóng(???) đã tạo ra các nhu cầu lớn về tiêu thụ tài nguyên cũng như sử dụng đất, diện tích các khu vực có các hệ sinh thái tự nhiên quan trọng bị thu hẹp dần, số loài và số lượng cá thể của các loài hoang dã bị suy giảm mạnh nhất là ở núi Bà Tài (Kiên Giang), Vườn quốc gia (VQG) Núi Chúa… Phát biểu tại hội thảo "Giới thiệu chiến lược quốc gia về ĐDSH và góp ý Quy hoạch tổng thể bảo tồn ĐDSH của cả nước” do Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) tổ chức ngày 13-9 tại Tp.Hồ Chí Minh, ông Bùi Cách Tuyến – Thứ trưởng Bộ TN&MT cho biết: Tổng số động thực vật hoang dã đang bị đe dọa hiện nay là 882 loài và đã có 9 loài động vật được xem đã tuyệt chủng ngoài tự nhiên Việt Nam như tê giác 2 sừng, heo vòi, cầy rái cá, bò xám, hươu sao… (…)

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s