Việt Nam vẫn ‘đứng ngoài” nhân loại và sự phát triển?

Posted: September 27, 2013 in Uncategorized
Tags:

Tô Văn Trường (Kim Dung/Kỳ Duyên) – Chỉ cần tra cứu trên các phương tiện thông tin chính thống của Nhà nước có thể nhận thấy, đánh giá tình hình kinh tế trì trệ, vô vàn khó khăn làm người dân rối như “canh hẹ”. Hay nói đúng hơn là những người có trách nhiệm quản lý điều hành đất nước và bộ phận tham mưu giống như những học trò “kém” đang loay hoay đi tìm quỹ tích không hề có trong hình học không gian vậy!

(Xem thêm: Chỉ số thống kê chưa chính xác – Con số mà biết nói năng… – Khu vực ngân hàng VN 'bị khủng hoảng' – Doanh nghiệp FDI bỏ trốn: Xử lý thế nào? – Người siêu giàu ở Việt Nam: Họ là ai? – Vinashin – những sai lầm tỷ đô) …


Nguyên nhân cốt lõi

Tình hình các nước có sự phát triển vượt bực làm cho Việt Nam ngày càng lâm vào cảnh tụt hậu xa hơn. Thể chế và con đường chúng ta đang mò mẫm đi theo kiểu đã có “Đảng và Nhà nước lo” gây nên biết bao hệ lụy nhãn tiền!

Hiện nay, chỉ có ASEAN, Ucraina, Nga, Trung Quốc, Venezuela và Nam Phi công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường, nguyên nhân chỉ vì “kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo”, không phải do được quyết định bởi quy luật cạnh tranh tự do của thị trường.

TPP, WTO, hội nhập quốc tế, vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, doanh nghiệp nhà nước, sửa Hiến pháp.

Cũng là da vàng, tóc đen sùng bái “Đạo Khổng”, Singapore và Hàn Quốc cũng phải trải qua một thời kỳ kinh tế chính trị khắc khổ, độc tài và thắt lưng buộc bụng, mà sao con tàu kinh tế của họ vẫn về đến đích. Sự hy sinh của các thế hệ dẫu sao cuối cùng còn có nụ cười no ấm, dân chủ và hạnh phúc của con và cháu họ. Ít nhất sự trả giá còn có lối thoát.

Xã hội các nước châu Á có nét phát triển khác với châu Âu nên Mác-Ăng ghen có đề cập đến phương thức sản xuất châu Á. Theo tôi hiểu, thì phương thức sản xuất châu Á có đặc điểm là các cuộc cách mạng xã hội, gắn với các cuộc nổi nổi dậy của nông dân, dù có thành công, cũng chỉ dẫn đến thay đổi dòng họ trị vì chứ không thay đổi chế độ xã hội như đã xảy ra tại châu Âu.

Do đó, nhân dân Việt Nam đã có câu tổng kết “Con vua thì lại làm làm vua, con sãi ở chùa thì quét lá đa”. Nói cách khác, tâm lý phong kiến, tiểu nông đã ăn sâu vào thâm căn cố đế trong tư duy của người dân.

Các nước châu Á chưa qua giai đoạn cách mạng công nghiệp (gắn với thời đại phục hưng) như của các nước tư bản châu Âu. Do đó, nền sản xuất lớn cơ giới hóa được hình thành tại các nước này là do các nước thực dân, đế quốc phương Tây đưa vào chứ không phải do tự thân vận động của các nước đó. Tuy nhiên, cũng phải thấy Nhật Bản đã chủ động tiếp nhận quá trình công nghiệp hóa để phát triển nên mang tính chất ngoại lệ.

Chính sách đối với các nước thuộc địa của thực dân Pháp và thực dân Anh- Mỹ có nét khác biệt cơ bản. Về mặt kinh tế, thực dân Pháp duy trì nền kinh tế tại nước ta ở trình độ nền sản xuất nhỏ và chỉ đưa yếu tố của nền sản xuất lớn ở mức độ nhất định. Thế nhưng đế quốc Anh- Mỹ đã thực hiện chính sách tư bản hóa giai cấp lãnh đạo tại các nước mà họ đặt chân xâm chiếm, dẫn đến thực hiện công nghiệp hóa tại các nước này.

Ai cũng nhìn thấy vấn đề ở đây là hạn chế về tư duy, phẩm chất của nhiều vị lãnh đạo, (do lỗi hệ thống tuyển chọn nhân tài). Vấn đề minh bạch, cần tra soát đề bạt và bãi miễn hệ thống nhân sự điều hành cho phù hợp với năng lực và hoàn cảnh cống hiến trở nên là “vấn đề “của Việt Nam trong con mắt các nhà đầu tư sáng giá và chuẩn “vàng ròng”.

Còn chúng ta thì sao nhỉ? Ra nước ngoài thì cũng là thân phận thấp hèn, dù trí tuệ và nhân phẩm của một nhóm con người ưu tú đâu có thua dân tộc nào. Còn ở trong nước thì từ cao đến thấp phổ biến tự dối lừa bản thân và tự ngạo mạn vô lối. Trong dân gian có câu khẩu ngữ 4 D nói về “nhóm lợi ích” thao túng đất nước “Đố kỵ, Dối trá, Độc ác, Dửng dưng” nghe thật cay đắng, bởi thế chưa có thời kỳ nào người dân coi thường lãnh đạo như ngày nay.

Ngược lại, bản thân người dân cũng lúng túng, loay hoay không biết dựa vào ”cột trục” chuẩn mực nào để xây cuộc đời.

Chỉ riêng bài toán kinh tế cũng không có nghiệm vì tình trạng phổ biến là nhiều vị lãnh đạo từ trung ương đến địa phương có xu hướng báo cáo nặng về thành tích, nói đến khuyết điểm chỉ mang tính chất cho có vẻ khách quan, cốt để đánh bóng cho bản thân mình, tìm cách trấn an dư luận xã hội.

Trong nội bộ lãnh đạo, không có cơ chế kiểm soát hữu hiệu, thiếu sự đấu tranh tự phê và phê bình một cách nghiêm túc dẫn đến mất đoàn kết nội bộ đã được đại hội Đảng nhiệm kỳ VI-XI liên tục ghi nhận nhưng hầu như không chuyển biến. Theo đánh giá của đại hội Đảng lần thứ VI thì đội ngũ cán bộ chiến lược (tham gia vào quá trình hoạch định và tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách) đã phạm sai lầm nghiêm trọng và kéo dài vì bị chi phối bởi hệ tư tưởng tiểu tư sản vừa tả khuynh vừa hữu khuynh.

Nợ công và con số thống kê

Để đánh giá “sức khỏe” của nền kinh tế phải dựa vào các con số thống kê, trong đó có nợ công để đưa ra các quyết sách. Tương tự như trong lĩnh vực khoa học tài nguyên nước, khi muốn xây dựng con đê, cống lớn, nhà máy thủy điện vv…người ta phải dựa vào mô hình toán thủy văn, thủy lực để mô phỏng lựa chọn phương án tốt nhất.

Độ chính xác của mô hình phụ thuộc vào số liệu cơ bản, chất lượng phần mềm tính toán và năng lực của người xử lý mô hình. Chỉ riêng số liệu cơ bản đầu vào mà sai thì chất lượng của mô hình coi như đồ bỏ, nếu sử dụng thì chỉ mang lại tai họạ! Đấy chỉ là trong phạm vi của ngành, còn số thống kê của cả nước sai sự thật, thì hậu quả còn lớn hơn nhiều.

Nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan khi nghe những báo cáo thống kê nửa chặng đường phát triển kinh tế trong 5 năm từ 2011 – 2015, đã phát biểu “Các con số của Việt Nam cứ thế nào ấy. Tôi không dám tin. Thế mà chúng ta lại đem số liệu đấy ra phân tích nữa thì chắc là càng không đúng”. Bản thân người viết bài này ngay từ mấy năm trước đã mạnh dạn viết về sự bất cập của số liệu thống kê Việt Nam qua các bài như “Nợ công đại vấn đề”; “Đằng sau các con số thống kê”; “Con số mà biết nói năng” vv…

Theo đánh giá của chuyên gia Vũ Quang Việt nguyên nhân của tình trạng bất ổn định kéo dài từ năm 2008 đến hôm nay thì dường như ai cũng biết. Nhà nước vừa chi tiêu quá trớn, vừa sử dụng chính sách đẩy mạnh tín dụng. Kết quả là đầu tư và phát triển thiếu chất lượng, nợ nước ngoài tăng, lạm phát cao, nợ xấu tăng, nhiều doanh nghiệp mất khả năng trả nợ và nhiều ngân hàng trên bờ phá sản, còn tốc độ tăng GDP thì lại trên đà suy giảm.

Tất nhiên trong tình hình như thế, doanh nghiệp không muốn đầu tư, ngân hàng bó buộc phải cắt giảm và thận trọng hơn trong cho vay. Đầu tư nước ngoài cũng không thể tăng như trước. Tình hình đình đốn như thế này sẽ còn kéo dài nhiều năm. Chính sách kích cầu chỉ như đổ dầu vào lửa. Tuy nhiên trong tình hình như thế, nhà nước không phải chỉ ngồi bó tay mà cần lợi dụng thời cơ thiết lập lại trật tự kinh tế.

Một trong những trật tự cần thiết lập (chứ không phải thiết lập lại) là hệ thống kiểm soát và cân bằng (check and balance) giữa Chính phủ và Quốc hội trong hoạt động kinh tế.

Loạn “sứ quân”!

Ngân sách là phản ánh cụ thể chính sách kinh tế. Ngân sách hàng năm được Quốc hội thông qua ở nhiều nước mang đầy đủ tính chất của một đạo luật. Vi phạm bằng cách vượt mức chi ngân sách đề ra là vi phạm luật. Điều này Quốc hội Việt Nam chưa bao giờ đặt ra và thực hiện, dù rằng Chính phủ chi vượt qui định là thực tế đã xảy ra hàng năm. Tỷ lệ chi ngân sách vượt mức Quốc hội quyết đã rất cao và còn đang tăng, từ 31% lên 42% trong khoảng thời gian 2007-2011.

Chỉ có thể thấy tính nghiêm trọng của vấn đề trên nếu đem so số nợ vay thêm trên với số nợ tối đa mà Chiến lược vay nợ của Chính phủ đã đề ra cho giai đoạn 2011-2015. Nợ tối đa được qui định là 225,000 tỷ đồng, tức là 10,6 tỷ US. Tuy nhiên, số nợ tăng thêm tính từ đầu năm 2011 đến tháng 6 năm 2013 đã hơn 11 tỷ US, nhưng vẫn còn 02 năm rưỡi nữa mới hết thời hạn kế kế hoạch. Đấy là chỉ kể nợ trái phiếu bao gồm cả tín phiếu ngắn hạn, chưa tính tới nợ vay chính phủ hay ngân hàng nước ngoài.

Theo Bộ trưởng Bộ Kế hoạch & Đầu tư Bùi Quang Vinh nhận xét tham nhũng, lãng phí trong đầu tư công xuất hiện chủ yếu từ khâu quyết định chủ trương đầu tư. Hàng loạt các công trình xây dựng xong bỏ hoang, lãng phí không sử dụng, nhưng không ai chịu trách nhiệm cho nên khoản nợ đọng xây dựng cơ bản của các địa phương cả nước lên đến 91.000 tỉ đồng.

Theo tôi hiểu, thiếu tiền, nhiều địa phương lại tìm mọi cách “moi tiền” mà không biết ai có thể kiểm soát được họ, kể cả phát hành thêm trái phiếu, thêm nợ. Ngay ở Trung ương, ông Vương Đình Huệ tuyên bố là 7% lạm phát nằm trong kế hoạch những năm tới, có nghĩa là bình thường. Với tư duy kinh tế như vậy, không hiểu nền kinh tế của đất nước sẽ đi về đâu? Lẽ nào, theo Hiến pháp Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước nhưng thực tế mãi mãi vẫn chỉ là “hữu danh, vô thực”!?

Bài học về Vinashin

Ngay từ khi bùng nổ, vụ Vinashin đã được nhiều chuyên gia phân tích đánh giá rất sâu sắc. Tôi cũng đã viết bài “Vinashin đừng đánh bùn sang ao”.

Tháng 2/2013, có ý kiến cho rằng Bộ Tài chính có thể đứng ra bảo lãnh cho khoản nợ quốc tế tới 600 triệu USD của Tập đoàn Công nghiệp Vinashin Vinashin cùng 23 triệu đô la tiền lãi chưa thanh toán thành loại trái phiếu chiết khấu có thời hạn 12 năm, do Bộ Tài chính Việt Nam phát hành để tránh chủ nợ bắt các tầu cũng như ngăn chặn hàng hóa của Vinashin trên thị trường quốc tế để lấy lại vốn.

Đề án này đã được Tòa thượng thẩm chấp thuận hôm 4/9. Như vậy, nó không còn là nợ của Vinashin nữa. Bộ Tài chính đang phải “đứng mũi chịu sào” cho bao nhiêu những khoản nợ của nhóm “khu vực chủ đạo” – doanh nghiệp Nhà nước (DNNN)!?.

Người nước ngoài không cần biết tên Vinashin hay bất cứ thứ tên nào tương tự nữa. Đến ngày đáo nợ họ sẽ đến Bộ Tài chính để đòi. Nếu đã quyết định đẩy các công ty con đi cho người khác chịu trách nhiệm thì bây giờ cái còn lại đã là 01 công ty mới rồi. Nó không còn liên hệ gì với những cái bị đẩy đi nữa. Nhà nước đã lãnh đủ cái đó rồi. Vậy cái mới có đủ sức sống không thì phải đánh giá tình trạng tài chính và kế hoạch của họ trong tương lai. Thông tin ở đâu để đánh giá?

Về phát triển ngành đóng tầu trên thế giới thì đây là ngành đi xuống từ trước năm 2006 và sẽ tiếp tục đi xuống. Không có khả năng đóng tầu để bán. Vậy thị trường đóng tầu trong nước như thế nào? Có đóng nổi tầu chiến hay nên mua nước ngoài? Về mặt quản lý thì không hy vọng gì, bởi vì cái hệ thống quản lý quốc gia vẫn như cũ. Nếu không còn có thị trường đóng tầu thương mại mà chỉ có nhu cầu đóng tầu chiến thì nên giao nó cho quân đội.

Thay cho lời kết

Kinh nghiệm của nhiều quốc gia phát triển, và Đảng ta luôn nói lắng nghe mọi ý kiến góp ý, nhưng lắng nghe kiểu như vừa qua, thì rút cục đất nước VN vẫn sẽ “đứng ngoài” nhân loại, và sự phát triển. Chính sự tôn trọng sự khác biệt, tôn trọng mọi sự sáng tạo, trong đó, có tư duy, mới là động lực kích thích cho dân tộc đó phát triển, và cũng chứng tỏ chính quyền của quốc gia đó mạnh.

Người mạnh là người biết lắng nghe mọi chính kiến khác biệt.

Chỉ số thống kê chưa chính xác
Thanh Nhân (NLĐ) – Dư luận cho rằng thống kê GDP của Việt Nam chưa phản ánh đúng bức tranh của nền kinh tế. Tổng cục Thống kê cần có trách nhiệm đưa ra các chỉ số xác thực
Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tốc độ tăng trưởng GDP cả nước 9 tháng đầu năm ước đạt 5,14%. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng 4,63% so với tháng 12-2012, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) toàn ngành tăng 5,4% so với cùng kỳ năm 2012… Những con số thống kê trên cho thấy tăng trưởng kinh tế đã khởi sắc hơn. Thế nhưng, các số liệu này đang vấp phải sự phản ứng của giới chuyên môn. (…)

Ở Việt Nam, giao dịch tiền mặt còn quá lớn, tỉ lệ người được trả lương bằng tiền mặt chiếm tỉ trọng cao nhưng chưa được đưa vào danh mục tính GDP là bất hợp lý. Trong ảnh: Giao dịch tiền mặt tại một ngân hàng ở TP HCM Ảnh: HỒNG THÚY

Theo các chuyên gia kinh tế, GDP của Việt Nam được cơ quan thống kê tính theo phương pháp sản xuất chứ không phải tính theo tiêu thụ, lẽ ra phải có kiểm tra chéo bằng cách tính tổng tiêu thụ hoặc tính theo 2-3 phương pháp khác nhau để kiểm tra, đối chiếu và cho ra số liệu chính xác nhất.

Một chuyên gia kinh tế cho biết thống kê GDP của Việt Nam hiện tại không phản ánh bức tranh của nền kinh tế mà chỉ phục vụ nhu cầu… thành tích. Năm 2013, nhiều tỉnh, thành dự kiến không đạt chỉ tiêu thu ngân sách nhưng lạm phát vẫn ở mức 7%, tăng trưởng kinh tế trên 5%. Trong khi tỉnh nào cũng gặp khó khăn, vậy mức tăng trưởng này từ đâu ra?

GDP là thước đo quan trọng trong việc định lượng sự tăng trưởng của nền kinh tế. Từ con số này, nhiều quyết sách được ban hành. Chỉ số GDP không chính xác dẫn đến hàng loạt hệ lụy. Theo các chuyên gia kinh tế, trường hợp GDP thực không đúng như mức công bố sẽ khiến các chính sách kinh tế và an sinh xã hội ban hành dựa trên nền tảng này không ổn, khó đi vào thực tế. Sự thiếu chính xác của các số liệu thống kê không chỉ tác động đến chính sách, ngân sách của Chính phủ mà còn ảnh hưởng đến các tổ chức tài chính, kinh doanh…

TS Nguyễn Quang A cho rằng bản thân con số GDP khi bị sai lệch sẽ không còn ý nghĩa gì, không phản ánh được sự phát triển của đất nước mà chỉ là con số để làm đẹp báo cáo. “GDP là chỉ số rất quan trọng nhưng khi đã được tính vống lên thì không phản ánh giá trị thực mà chỉ có tác dụng giúp người ta ngất ngây trên chiến thắng ảo. Nó không phản ánh đúng chất lượng mà chỉ là con số thuần về vật chất. Có thể lấy dẫn chứng là ngành giao thông thi công 1 con đường, làm gian dối, vài tháng sau phải phá bỏ làm lại nhưng cả 2 quá trình làm đường này đều góp phần làm tăng GDP” – TS Nguyễn Quang A phân tích.

TS Nguyễn Trí Hiếu cho rằng muốn tái cấu trúc nền kinh tế hiệu quả, trước tiên phải điều chỉnh lại tính chính xác của các chỉ số cơ bản. Đó là cơ sở quan trọng để tái cấu trúc nền kinh tế. Ngoài Tổng cục Thống kê, cần có một đơn vị độc lập thực hiện việc thống kê, trên cơ sở đó so sánh đối chiếu và có được số liệu chính xác nhất, thuyết phục nhất.

Phải chống bệnh thành tích

Theo các chuyên gia kinh tế, để có được số liệu thống kê chính xác, không có giải pháp nào khác hơn là làm thống kê một cách nghiêm túc, đúng phương pháp. Theo đó, cần kiểm tra lại phương pháp luận, danh mục tính các chỉ số; giảm thiểu hiện tượng tiền mặt trong giao dịch kinh tế; chuẩn hóa cách tính các số liệu ở trung ương cũng như các địa phương… Nếu cần thiết, có thể mời các tổ chức quốc tế có tính độc lập hỗ trợ Tổng cục Thống kê trong hoạt động này và phía Việt Nam phải bảo đảm làm việc với họ một cách minh bạch, nghiêm túc. Nhưng trên hết là phải chống bệnh thành tích.

Con số mà biết nói năng…
Dương Quang (NLĐ) – Website của Viện Khoa học thống kê (ISS) đăng một bài ngắn, có tựa “Sự dối trá của số liệu”, nhìn nhận khá thẳng thừng về bản chất của ngành thống kê. Xin trích: “Người Mỹ – dân tộc thông minh và tiên tiến – rất mê số liệu thống kê. Cái gì cũng thống kê, từ sinh đẻ, bầu cử, chim chóc, nhất là khoa học…
Nhưng họ cũng nói: Damn lied statistics (Thống kê dối trá đáng nguyền rủa). Tại sao?

Đó là vì thống kê dựa vào thông tin, số liệu để phân tích. Thông tin và số liệu cứ cho là chất lượng đi thì cách thức phân tích của con người mới cho ra kết quả. Ý nghĩa kết quả cũng do con người diễn giải, mà một khi con người muốn bóp méo ý nghĩa thì với trí khôn có thể xử lý các dữ liệu phức tạp, họ dễ cho ra kết luận theo ý họ… Theo cách này, một công cụ tử tế nhất có thể phục vụ đắc lực cho một mục tiêu kém tử tế nhất”.

Người viết còn trích dẫn câu minh họa cho sự bóp méo bản chất thống kê, rất hài hước: “Cái giường là nơi nguy hiểm nhất trên quả đất vì tới hơn 80% số người chết đều ở trên giường” (!)

Dẫn dắt như vậy để làm nền cho câu chuyện về số liệu nhảy múa ở nước ta.
Mới đây, tại phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, trước câu hỏi của nhiều đại biểu rằng dư luận phản ánh có đến 30% cán bộ công chức (CBCC) “sáng cắp ô đi, tối cắp về”, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Thái Bình khẳng định theo báo cáo tổng hợp từ các địa phương, tỉ lệ CBCC không hoàn thành nhiệm vụ chỉ trên dưới 1%.

Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) trước đó đã nhận định “có một bộ phận không nhỏ CBCC thoái hóa, biến chất”… “Một bộ phận không nhỏ” mà lẽ nào chỉ có “trên dưới 1%”?

Chưa cần tranh luận, chỉ nhìn vào hàng loạt vụ tiêu cực nổi cộm gần đây cũng đủ để khẳng định con số trên dưới 1% nói trên là sai sự thật, chẳng hạn vụ 8 lãnh đạo 4 công ty công ích ăn lương “khủng” ở TP HCM vừa bị kỷ luật; vụ nhóm quan chức TP Long Xuyên, tỉnh An Giang vừa lãnh án vì sai phạm trong đất đai, nhóm quan chức Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch tỉnh Vĩnh Long bị xét xử vì tham ô, vụ “nhân bản” xét nghiệm ở Bệnh viện Đa khoa Hoài Đức (Hà Nội), vụ ăn chặn vắc-xin ở TP Hà Nội hay vụ tiêm vắc-xin làm 3 trẻ chết oan ở Quảng Trị… Đó là chưa kể hàng trăm vụ tiêu cực lớn nhỏ khác liên quan đến CBCC, bị người dân tố cáo hoặc đã bị xử lý kỷ luật. Các địa phương có thể vì thành tích mà tô hồng số liệu, còn ngành nội vụ chẳng lẽ không nhìn thấy thực trạng này?

Dường như điều đó đã thành “bệnh”.

Năm ngoái, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước lần đầu tiên công bố tỉ lệ nợ xấu toàn ngành là 10% khiến thiên hạ giật mình, vài ngày sau chính ông “chỉnh” còn 8,6%! Tổng cục Thống kê tính tỉ lệ hộ nghèo nước ta năm 2012 là 11,1% trong khi Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội công bố chỉ 9,6%. Hầu hết các tỉnh, thành báo cáo GDP của địa phương mình tăng vù vù, toàn trên 10% nhưng cộng gộp cả nước thì chưa tới 6%, thậm chí nhiều địa phương báo cáo GDP rất cao nhưng lại xin giảm, giãn đóng góp ngân sách; có khi xin… cứu đói! Giá như số liệu biết nói thì tình trạng báo cáo láo đã được ngăn chặn nhiều.

Báo cáo không đúng tất nhiên dẫn đến giải pháp sai hoặc gây hệ lụy xấu. Rất đáng sợ khi “lộng giả thành chân” – người ta trở nên thích nghe và tin hơn vào những con số không trung thực. Hậu quả tai hại là tệ nói dối lan tràn; cái sai được dung dưỡng, chấp nhận; còn người dân thì chẳng biết tin vào đâu…

Khu vực ngân hàng VN 'bị khủng hoảng'
(BBC) – Phân tích gia Daniel Martin từ Capital Economics, công ty nghiên cứu chính sách kinh tế vĩ mô, nói "Việt Nam không thể đổ lỗi cho kinh tế toàn cầu gây ra tăng trưởng chậm tại nước này". – "Phần lớn các nước châu Á tăng trưởng chậm vì xuất khẩu bị chững lại đáng kể. Nhưng tại Việt Nam thì xuất khẩu lại khá tốt.
"Vấn đề là ở chỗ Việt Nam bị khủng hoảng trong khu vực ngân hàng. Trong nhiều năm các ngân hàng đã cho vay nhiều để thúc đẩy nền kinh tế nhưng đồng thời cũng để lại hậu quả hết sức tồi tệ. Và nay cho vay ít đi có nghĩa là sẽ kéo tăng trưởng chậm lại".

Ông Martin cũng nhận xét rằng "việc chính phủ hạ lãi suất không dẫn tới việc ngân hàng cho vay nhiều hơn vì ngân hàng gặp khủng hoảng. Khi ngân hàng bị khủng hoảng thì họ sẽ ít cho vay hơn. – "Ngoài ra có nhiều doanh nghiệp mà đa số là doanh nghiệp nhà nước đi vay không trả được nên có hạ lãi suất thì cũng không tạo đà tăng tín dụng được".

Doanh nghiệp FDI bỏ trốn: Xử lý thế nào?
(Tapchitaichinh.vn) – Theo báo cáo bước đầu của Bộ KHĐT, các DN đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) bỏ trốn trên cả nước đã lên tới con số 500. Điều này không chỉ để lại hậu quả đối với địa phương nơi nhận đầu tư mà còn ảnh hưởng xấu tới môi trường đầu tư trong nước. (…)

Người siêu giàu ở Việt Nam: Họ là ai?
VOA Tiếng Việt – Một phúc trình về người siêu giàu ở Việt Nam với tài sản từ 30 triệu đôla trở lên mới được công bố trong bối cảnh Việt Nam có khả năng không đạt được mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội.

Theo công ty tư vấn Wealth-X và ngân hàng UBS (Thụy Sỹ), số người siêu giàu ở Việt Nam tăng lên 195 người trong năm 2012, với tổng tài sản ước tính là khoảng 20 tỷ đôla.

Ông David Friedman, Chủ tịch Wealth-X, cho VOA Việt Ngữ biết công ty ông thu thập các dữ liệu từ các nguồn mở mà bản thân công chúng có thể tiếp cận, rồi sau đó sử dụng cách thức riêng để đánh giá những thông tin về tài sản của những người siêu giàu. Phúc trình cho hay, sự gia tăng số người siêu giàu ở Việt Nam đứng hàng thứ hai ở Đông Nam Á, chỉ sau Thái Lan, trong năm 2012. Năm 2011, Việt Nam chỉ có 170 triệu phú tiền đôla.

Trao đổi với VOA Việt Ngữ, Tiến sỹ kinh tế Lê Đăng Doanh cho biết ông không ngạc nhiên. “Trong khi kinh tế khó khăn thì một số người, do có những mối quan hệ và có thể tiếp cận được với các tài nguyên, họ vẫn tiếp tục giàu lên một cách nhanh chóng. Tôi nghĩ rằng xu thế đó hiện nay vẫn đang tiếp tục”.

Ông Friedman cho biết ông không thể tiết lộ công khai các cá nhân siêu giàu ở Việt Nam cũng như nghề nghiệp của họ vì những thông tin như vậy ‘chỉ cung cấp cho các khách hàng của công ty Wealth-X’.

Báo chí trong nước cũng đưa ra các phán đoán riêng về những người siêu giàu Việt Nam dựa trên các dữ liệu từ thị trường chứng khoán. Đứng đầu trong danh sách của nhiều tờ báo là ông Phạm Nhật Vượng, Chủ tịch tập đoàn Vingroup, tỷ phú đôla đầu tiên của Việt Nam theo đánh giá của tạp chí Forbes. Tiếp sau đó là ông Đoàn Nguyên Đức, Chủ tịch tập đoàn Hoàng Anh – Gia Lai, người từng được tạp chí the World Street Journal đưa vào danh sách một trong 30 doanh nhân có ảnh hưởng nhất Đông Nam Á.

Trong khi đó, khi được hỏi những người siêu giàu ở Việt Nam có thể là ai, kinh tế gia Lê Đăng Doanh nói ông ‘không thể nói tên’ mà chỉ cho hay rằng đó là ‘những người có các mối quan hệ và được hưởng lợi rất nhiều từ những mối quan hệ đó’. – “Vì vậy cho nên là họ có thể khai thác tài nguyên, họ có thể khai thác gỗ, họ có thể giàu lên nhờ bán đất, hoặc họ cũng có thể giàu lên nhờ các lý do khác nữa. Điều ấy cho thấy thực tế rằng xã hội Việt Nam đang phải đối mặt với tình trạng phân hóa giàu nghèo ngày càng tăng lên”.

Ông Doanh cũng nói thêm rằng những người siêu giàu ở Việt Nam ‘không có người nào đóng góp gì mới về khoa học, công nghệ’. – “Những người giàu lên ở Việt Nam chủ yếu là nhờ đất, bất động sản, vì được hưởng lợi từ tài nguyên, và những đặc quyền, đặc lợi khác”.

Theo ông Friedman, trên toàn thế giới chứ không riêng gì Việt Nam, phần lớn khối tài sản của các triệu phú là do các công ty tư nhân thuộc sở hữu của các gia đình tạo ra. Chủ tịch công ty Wealth-X nói rằng đó là một trong các lý do giải thích vì sao tài sản của cá nhân siêu giàu ở Việt Nam vẫn tăng trong năm 2012 dù kinh tế không có dấu hiệu khởi sắc.

“Khi ta người ta có các công ty tư nhân do gia đình quản lý và những gia đình này am hiểu về những gì họ cần làm với nhiều nhiệt huyết thì kể cả khi nền kinh tế sút giảm và yếu kém, kinh doanh của họ vẫn phát triển, dẫn tới tài sản của các gia đình đó tăng. Ngoài ra, có thể có các lý do khác như hoạt động kinh doanh của họ dựa vào xuất khẩu nên nó không phụ thuộc vào tình hình kinh tế ở Việt Nam”.

Tại một cuộc hội thảo quốc tế đầu tuần này về kế hoạch kinh tế xã hội 5 năm của Việt Nam, phần lớn những người tham dự đều tỏ ra bi quan. Các giới chức được trích lời nói rằng Việt Nam có khả năng không đạt được nhiều mục tiêu của kế hoạch 5 năm, dẫn đến nguy cơ tụt hậu so với các quốc gia ở Đông Nam Á. Chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh cho rằng nhiều người Việt Nam giàu lên nhờ gia đình. – “Mới đây, có hiện tượng một gia đình cho một đứa bé một tuổi làm chủ tịch hội đồng quản trị và có gia sản rất lớn. Đấy là một trong các điều mà chúng ta thấy rằng là người giàu lên ở Việt Nam khác với những người giàu lên trên thế giới như thế nào. Trên thế giới, người ta muốn giàu lên, người ta phải giỏi về quản trị hay người ta phải làm chủ về khoa học công nghệ, người ta phải đóng góp rất lớn về tiến bộ của cộng đồng. Nhưng trong trường hợp của Việt Nam, những người giàu lên ở Việt Nam là những người giàu lên vì đất”.

Ông Doanh cũng nhận định rằng những người siêu giàu ở Việt Nam hiện có vai trò rất quan trọng vì họ ‘nắm rất nhiều dự án’. Nhưng chuyên gia này cho rằng cần phải thấy một thực tế là việc khai thác tài nguyên của một số triệu phú đã làm tổn hại nghiêm trọng tới môi trường.

Vinashin – những sai lầm tỷ đô
Huyền Thư (VNE) – Những sai lầm trong 7 năm hoạt động theo mô hình tập đoàn là lý do buộc Vinashin phải trải qua tiến trình tái cơ cấu đau đớn suốt 3 năm qua và có thể kết thúc bằng việc trở về tên gọi ban đầu – Tổng công ty Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam.

Vinashin có thể rời bỏ mô hình tập đoàn, trở thành tổng công ty.
Giữa tháng 11/2010, Đề án Tái cơ cấu Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam được Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phê duyệt, cho phép tiến hành trong vòng 3 năm 2011 – 2013. Đến nay, khi thời gian cho công cuộc này chỉ còn vài tháng, thông tin từ cơ quan quản lý cho biết Vinashin đang được đề xuất trở về hoạt động theo mô hình Tổng công ty, thay vì Tập đoàn như trong suốt 7 năm qua. Đây được xem như một “nốt giáng” cho ông lớn vốn một thời là “con cưng” của nền kinh tế, nhưng lại được xem là bước chuyển cần thiết để xây dựng lại nền công nghiệp đóng tàu của Việt Nam.

Với đường bờ biển dài 3.000 km và nguồn lao động dồi dào, Việt Nam được đánh giá là quốc gia có điều kiện thích hợp để phát triển ngành vận tải biển, đóng tàu. Nhận định thế kỷ XXI là thế kỷ của đại dương, Đại hội Đảng lần thứ X năm 1996 đã ban hành Nghị quyết “Về chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”, trở thành tiền đề cho sự ra đời của Tổng công ty Công nghiệp tàu thủy Việt Nam (Vinashin) với sứ mạng đưa Việt Nam trở thành quốc gia đóng tàu mạnh trong khu vực và thế giới.

Giai đoạn 10 năm đầu thành lập được coi là thời kỳ hoàng kim của Vinashin và ngành đóng tàu Việt Nam. Từ chỗ chỉ có 23 đơn vị thành viên, đến năm 2006, Vinashin có 170 đơn vị, trên 45.000 lao động. Nhiều con tàu hiện đại ra đời, đưa tốc độ tăng trưởng bình quân của Vinashin đạt con số ấn tượng 40%.

Cùng với sự phát triển như vũ bão cùng tham vọng gia nhập vào trung tâm đóng tàu của thế giới (khi đó gồm ba nước Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc), năm 2005, Chính phủ phê duyệt đề án điều chỉnh phát triển Vinashin giai đoạn 2005 – 2010, định hướng 2015 với mục tiêu Việt Nam có thể tự chế tạo các loại tàu trọng tải 50.000 tấn, chiếm khoảng 10% thị phần đóng tàu thế giới. Để đạt được mục tiêu trên, Vinashin cần tới 3 tỷ USD – một lượng vốn khổng lồ lúc bấy giờ để đầu tư cho các nhà máy đóng tàu xuất khẩu, mở rộng các nhà máy hiện có.

Nguyên Tổng Giám đốc Vinashin Phạm Thanh Bình lúc bấy giờ bày tỏ sự lạc quan: "Chúng tôi đã có đơn đặt hàng đến hết 2009 với số hợp đồng ký chính thức khoảng một tỷ USD, hợp đồng thoả thuận ước 0,5 tỷ USD và đang tiếp tục đàm phán đơn hàng cho đến 2012". Vinashin nhận được sự ủng hộ nhiệt tình từ Chính phủ, thể hiện qua việc chấp thuận phát hành 750 triệu USD trái phiếu quốc tế vào năm 2005, sau đó ủy thác toàn bộ cho Vinashin để chi dùng cho các hoạt động.

Tiếp đó, Vinashin có thêm sinh lực khi được phê duyệt đề án thí điểm hình thành Tập đoàn vào năm 2006. Cùng năm này, Vinashin tự đứng lên vay nước ngoài 600 triệu USD cũng như huy động hàng nghìn tỷ đồng ở trong nước. Nắm lượng vốn lớn trong tay trong khi khả năng quản lý chưa theo kịp quy mô hoạt động, không dự báo được thị trường…, Vinashin liên tiếp mắc sai lầm. Đầu tư ngoài ngành là nguyên nhân chính tạo nên "cái chết chóng vánh" cho người anh cả ngành đóng tàu.

Từ năm 2006 đến 2008, kinh tế trong nước và thế giới tăng trưởng vũ bão, Vinashin "hăng hái" tham gia đầu tư vào nhiều lĩnh vực bên cạnh nhiệm vụ chính là đóng mới và sửa chữa tàu. Với việc thành lập gần 200 công ty con, các thương vụ của tập đoàn trải từ sản xuất thép, xi măng, xây dựng khu công nghiệp, dịch vụ bảo hiểm, ngân hàng, hàng không…, thậm chí đến cả xe máy, trở thành ông lớn đa ngành nhất trong số các tập đoàn, tổng công ty.

Với tham vọng sản xuất thép phục vụ đóng tàu, năm 2008 Vinashin được UBND tỉnh Ninh Thuận cấp chứng nhận đầu tư dự án liên hợp Thép Cà Ná cùng với Tập đoàn Lion (Malaysia) tổng vốn đăng ký lên tới 9,8 tỷ USD. Ở lĩnh vực tài chính, năm 2007, Vinashin cũng chi tới gần 1.500 tỷ đồng (tương đương 90 triệu USD khi đó) để mua cổ phần của Tập đoàn Bảo Việt.

Khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm cuối năm 2008, đầu năm 2009 là đòn trời giáng vào tham vọng bành trướng đầu tư ngoài ngành của Vinashin. Ở dự án Thép Cà Nà, khó khăn tài chính khiến chủ đầu tư nước ngoài rút lui, dự án không thể triển khai đúng tiến độ dẫn tới bị thu hồi giấy phép trong khi Vinashin đã rót hơn 80 tỷ đồng. Năm 2009 Vinashin lên kế hoạch thoái vốn tại Bảo Việt, song do thị trường chứng khoán sụt giảm nghiêm trọng, đơn vị này phải chấp nhận lỗ tới gần một nửa số tiền đã đầu tư.

Không chỉ vậy, trước khi suy thoái kinh tế, Vinashin có hàng trăm hợp đồng quy mô nhỏ (giá trị mỗi hợp đồng 5-6 tỷ), nhưng sau đó do ngành vận tải biển sa sút, các đối tác hủy hợp đồng khiến Vinashin cũng bị thiệt hại lớn.

Vố đau nhất trong đầu tư của Vinashin phải kể đến thương vụ mua tàu Hoa Sen. Vốn là tàu chở xe và hành khách do Italy đóng từ năm 2001, Hoa Sen được Vinashin mua lại vào năm 2007 với số tiền lên tới 60 triệu USD (tương đương 1.300 tỷ đồng tính theo tỷ giá bấy giờ), sau đó được cải hóa làm tàu chở hàng hóa, khách du lịch trên tuyến Bắc – Nam. Nhưng tàu càng hoạt động càng lỗ và chỉ chạy gần 40 chuyến thì phải dừng, trong khi mỗi năm vẫn phải trả lãi vay gần 80 tỷ đồng.

Vay nhiều, đầu tư thua lỗ đã nhìn thấy rõ, nhưng phải tới năm 2010 bức tranh tài chính tối tăm tại Vinashin mới thực sự lộ rõ qua đợt thanh tra của Chính phủ. Theo báo cáo, tính tới cuối năm 2009, tổng tài sản của tập đoàn là hơn 104.000 tỷ đồng, trong đó có hơn 80% (86.000 tỷ đồng) là nợ phải trả. Điều này cho thấy hoạt động sản xuất kinh doanh của Vinashin dựa hoàn toàn vào vốn vay. Bên cạnh đó, đến hết năm 2009, Vinashin không còn bảo toàn được vốn Nhà nước giao, để thâm hụt gần 5.000 tỷ đồng.

Khủng hoảng của Vinashin được Thanh tra Chính phủ kết luận làm "ảnh hưởng lớn đến hoạt động của nhiều ngân hàng, tổ chức tín dụng trong nước, ảnh hưởng đến tín nhiệm của Chính phủ trên thị trường vốn quốc tế". Trong năm 2010, hai tổ chức xếp hạng thế giới là Moody's và Standard & Poor's (S&P) đều hạ bậc tín nhiệm Việt Nam, bức tranh nợ công của Việt Nam cũng trở nên tồi tệ do gánh nặng từ việc vay vốn đầu tư cho tập đoàn này. Tiếp đó, các chủ nợ quốc tế cũng tuyên bố sẽ kiện Vinashin vì không thanh toán đúng hạn khoản gốc và lãi 600 triệu USD…

Trong một lần trao đổi với VnExpress.net, Chủ tịch một quỹ đầu tư cho biết, dân trong ngành tài chính đã dự đoán được sự đổ vỡ của Vinashin trước đó khá lâu khi năm 2008, trái phiếu quốc tế của Vinashin được mua bán trên thị trường với lợi tức từ 24-27% một năm, thể hiện mức độ rủi ro rất cao mà các nhà đầu tư nhận định về tập đoàn này.

Ngay như Phó thủ tướng Vũ Văn Ninh, khi còn là Bộ trưởng Tài chính cũng nhận định, trước khi có kết luận thanh tra năm 2010, Bộ cũng đã tiến hành kiểm tra định kỳ, phát hiện thấy Vinashin thành lập quá nhiều công ty con, đầu tư dàn trải, cân đối nguồn không hợp lý và chủ yếu là dựa vào vốn vay. Tuy nhiên, dù đã kiến nghị ban hành các quyết định chấn chỉnh, nhưng trong quá trình thực hiện, vì những lý do khách quan cũng như chủ quan mà các chỉ đạo "không được thực hiện triệt để, dẫn tới những đổ vỡ sau này".

Câu chuyện về Vinashin luôn là đề tài nóng được các đại biểu Quốc hội chất vấn trong các phiên thảo luận những năm qua. Thay mặt Bộ chủ quản, nguyên Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải Hồ Nghĩa Dũng phải thừa nhận sự bất thường ở Vinashin là nợ đã vượt quá cao so với tỷ lệ cho phép, lên tới 11 lần. "Trong trường hợp bình thường, thị trường phát triển lành mạnh thì doanh nghiệp có thể xoay sở bằng cách này, cách khác để qua được, nhưng tình hình như thế này thì đứng trên bờ phá sản là chuyện rõ ràng. Cái nguy hiểm, cái không an toàn của nợ của Vinashin là ở chỗ đó", ông Dũng phát biểu.

Chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành nhận định, suy sụp của Vinashin một phần do những sai phạm nội bộ, song cũng có lỗi lớn của cơ quan quản lý, giám sát đã không phát hiện, xử lý kịp thời những yếu kém tại đây, dẫn tới khi phát hiện đã quá muộn.

Điều này cũng được Phó thủ tướng Vũ Văn Ninh bày tỏ trước Quốc hội. Theo ông, chính những thiếu sót của cơ quan giám sát đã dẫn tới không chấn chỉnh kịp thời những sai phạm tại Vinashin. "Thực tế, nhiều sai phạm của Vinashin chỉ được phát hiện qua thanh – kiểm tra. Mà nhiều khi đến lúc thanh – kiểm tra thì sự việc đã xảy ra rồi", ông nói.

Cũng bởi vấn đề này, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong một phiên đăng đàn cũng phải nhận lỗi vì những yếu kém, khuyết điểm của Chính phủ trong lãnh đạo, quản lý, điều hành, giám sát các tập đoàn kinh tế, điển hình là Vinashin.

Vinashin lúc đó như đứng trên bờ vực khi tài chính kiệt quệ, nhiều công ty con phải đóng cửa hoặc chuyển giao sang cho Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) và Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines), lãnh đạo thì bị kỷ luật, cách chức, kết án do những sai phạm trong quản lý, điều hành. Tuy nhiên, với quan điểm không để cho Vinashin phá sản nhằm xây dựng ngành công nghiệp đóng tàu phục vụ phát triển kinh tế biển, năm 2010, đề án tái cơ cấu Vinashin ra đời với mục tiêu sớm ổn định sản xuất kinh doanh của tập đoàn, có lãi, trả được nợ, tích lũy và phát triển.

Đã gần 3 năm trôi qua, song nhắc đến cái tên Vinashin nhiều người vẫn còn không tránh được cảm giác đau lòng. Từ một tập đoàn có cơ sở trải rộng khắp đất nước với hàng chục nghìn lao động, theo báo cáo mới đây, Vinashin phải cắt giảm tới 14.000 lao động, chỉ giữ lại khoảng 8.000 người, nhiều nhà máy, khu cảng biển bị đóng cửa, bỏ hoang hoặc phải cho phá sản. Nhưng bên cạnh sự u ám cũng có điểm sáng dành cho ông lớn này khi những khoản nợ bước đầu đã được tái cơ cấu.

Thông tin mới nhất cho thấy, đã có 19 ngân hàng trong nước tuyên bố sẽ giảm 70% nợ cho Vinashin. Đối với nợ nước ngoài, tập đoàn cũng đàm phán giảm được 30% và thoát nguy cơ bị chủ nợ kiện. Một nguồn tin cũng có hay, Chính phủ đang có kế hoạch phát hành trái phiếu nhằm giúp tập đoàn này trả nợ. Từ đó, có thể hy vọng lịch sử Vinashin sẽ bước sang một trang mới ổn định hơn, ngành đóng tàu Việt Nam cũng có cơ hội phát triển vững chắc hơn.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s