World Bank: Website các “quả đấm thép” Việt Nam chỉ để xem cho vui?

Posted: September 28, 2013 in Uncategorized
Tags:

Thùy Phương (Trí thức trẻ) – Trong Bản dự thảo Báo cáo thảo luận Chính sách "Khơi thông những nút thắt thể chế để phục hồi tăng trưởng" dành cho Chương trình Lãnh đạo quản lý cao cấp Việt Nam (VELP) đã đưa ra nghiên cứu mới đây về "Tính minh bạch của khu vực Doanh nghiệp Nhà nước" của Ngân hàng Thế giới.

(Xem thêm: “Cái gì cũng phải tiền, không tiền là không trôi” – PGS.TS Nguyễn Văn Nhã: “May ra chúng ta sẽ thay đổi được nền giáo dục” – Khi nào người thầy và máy móc hết "đuổi bắt" nhau? – Lương tiến sĩ còn thua oshin) …

Một nửa tập đoàn, tổng công ty chỉ lập website lấy lệ.

Theo nghiên cứu này, 5 nội dung được khảo sát ở các Doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) là Tổng quan về công ty, Chiến lược/Tin tức, Kết quả kinh doanh, Báo cáo thường niên/Tài chính/Kiểm toán, Các quyết định quan trọng/Nghị quyết ĐHTV.

Có thể thấy, trong số các Tập đoàn Nhà nước, chỉ duy nhất Tập đoàn Tài chính – Bảo hiểm Bảo Việt đưa ra đầy đủ 5 nội dung thông tin nói trên, đặc biệt là đơn vị duy nhất công bố Kết quả kinh doanh.

Đến 6/11 tập đoàn chỉ công bố thông tin 'lấy lệ', gồm 2 nội dung là Tổng quan về công ty và Chiến lược/tin tức. (Tập đoàn Bưu chính – Viễn thông, Tập đoàn Than – Khoáng sản, Tập đoàn Điện lực, Tập đoàn Dệt may, Tập đoàn Hóa chất và Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy)

Thông tin tại các Tổng công ty Nhà nước thậm chí còn 'mờ mịt' hơn và hầu hết đều 'kín như bưng' với công chúng.

Trong số 12 Tổng công ty được khảo sát, chỉ có Tổng công ty Thép Việt Nam công bố đầy đủ 5 nội dung và Kết quả kinh doanh.

Có đến một nửa số Tổng công ty (6/12 đơn vị) chỉ công bố thông tin ở mức tối thiểu, tức là chỉ thuần mô tả về 'Tổng quan đơn vị mình' mà không có bất cứ nội dung nào khác.

Nội dung được nhiều doanh nghiệp nhà nước 'lờ đi nhất' có lẽ là Kết quả kinh doanh và Báo cáo thường niên/tài chính/kiểm toán, nếu không có yêu cầu bắt buộc phải giải trình.

Báo cáo đưa ra bình luận, phần lớn thông tin của DNNN nhằm phục vụ cho các mục đích nội bộ, không những thế chất lượng của các thông tin này cũng rất thấp.

Đối với công chúng, các DNNN nhiều khi không cung cấp thông tin, và nếu có thì thông tin thường lỗi thời, không rõ ràng, thậm chí mâu thuẫn.

Ngay đối với các tập đoàn và tổng công ty – những DNNN lớn và có mức độ công bố thông tin tốt hơn cả – thì tình trạng minh bạch thông tin cũng rất kém gây cản trở nghiêm trọng cho việc quản lý và điều tiết của Chính phủ cũng như giám sát của công chúng và người dân.

Dự thảo Bài thảo luận Chính sách "Khơi thông những nút thắt thể chế để phục hồi tăng trưởng" dành cho Chương trình Lãnh đạo quản lý cao cấp Việt Nam (VELP), được công bố tại Diễn đàn Kinh tế Mùa thu 2013 đang diễn ra ở TP Huế (tỉnh Thừa Thiên Huế).

Báo cáo này nhằm cung cấp bối cảnh cho thảo luận chính sách trong Chương trình Lãnh đạo Quản lý Cao cấp Việt Nam (VELP) thường niên. Đây là công trình nghiên cứu đang thực hiện, chưa phải là báo cáo cuối cùng.

“Cái gì cũng phải tiền, không tiền là không trôi”
(PLtp) – Không cẩn thận thì khâu giám định trong vụ án tham nhũng lại bị bôi trơn rồi cuối cùng “đầu thì là con trâu nhưng cuối cùng lại là con chuột”. – “Giờ về nhà đi ra ngoài thấy cái gì cũng phải tiền, không tiền là không trôi, rất là khó chịu. Tham nhũng lớn cũng có, tham nhũng nhỏ cũng nhiều như “gãi ghẻ”, rất khó chịu. Chạy chỗ nào cũng thấy phải có tiền”. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã thốt lên như vậy về thực trạng tham nhũng, lãng phí tại cuộc tiếp xúc với cử tri quận Ba Đình (Hà Nội) ngày 27-9.

Giơ thì cao mà đánh thì khẽ

Dẫn lại lời phát biểu “ăn của dân không từ một cái gì” của Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan và “chơi chỗ này, chỗ kia; ăn nhà hàng này, nhà hàng kia, không lấy từ tiền tham nhũng thì ở đâu ra” của Chủ tịch QH Nguyễn Sinh Hùng (phát biểu trong phiên họp mới đây của Ủy ban Thường vụ QH), cử tri Nguyễn Khắc Thịnh (Giảng Võ) bày tỏ sự bức xúc khi báo cáo về tình trạng tham nhũng vẫn nói là giảm.

“Cử tri chúng tôi thấy rằng tham nhũng chưa bớt, chưa giảm mà còn nghiêm trọng, nguy hiểm hơn. Nó nguy hiểm ở chỗ trước đây chỉ những con sâu đơn lẻ, một bầy sâu đơn lẻ thì nay chúng đã liên kết với nhau thành “lợi ích nhóm”. Đồng thời, những chiếc vòi bạch tuộc của nó đã bám chặt vào các cơ quan công quyền của chúng ta. Thế lực của chúng rất mạnh, làm cho những người lương thiện như tôi cảm thấy e ngại nên số người đấu tranh chống tham nhũng ngày càng trở nên ít đi” – ông Thịnh bộc bạch.

Tình hình là như vậy nhưng theo ông Thịnh, công tác phòng, chống tham nhũng rất yếu. Bằng chứng là sau hàng trăm, hàng ngàn cuộc thanh tra, kiểm tra, kết quả cũng chỉ là “nghiêm túc rút kinh nghiệm”, “nghiêm khắc phê bình” và cùng lắm là “khiển trách, cảnh cáo”. Còn nếu có một vài vụ xử lý hình sự thì sau khi truy tố, xét xử phần lớn cũng chỉ là án treo. “Không có loại tội phạm nào mà tỉ lệ án treo lại nhiều như tham nhũng. Chính đồng chí Nguyễn Sinh Hùng cũng phải đặt câu hỏi: Phải chăng tham nhũng đã len lỏi vào ngay cả lực lượng chống tham nhũng của chúng ta? Cử tri chúng tôi thấy rằng đang có tình trạng “giơ thì cao mà đánh thì khẽ” – ông Thịnh nói.

Phải kiên trì và quyết tâm

(…) Đề cập đến ý kiến nói là án treo tham nhũng nhiều, Tổng Bí thư cho rằng có thể công tác tuyên truyền chưa đủ chứ không phải tất cả đều là án treo, án nhẹ. Riêng về câu hỏi “có tham nhũng trong lực lượng chống tham nhũng không”, theo Tổng Bí thư có thể là một số khâu, ví như khâu giám định. Bởi khi phát hiện có dấu hiệu tham nhũng thì mới khởi tố và đi điều tra. Khi điều tra thì phải giám định xem vụ việc thế nào nhưng nếu không cẩn thận thì khâu giám định lại bị bôi trơn, méo mó, kéo dài, làm giá… Rồi cuối cùng “đầu thì là con trâu nhưng cuối cùng lại là con chuột”.

“Vì thế, ý nói có tham nhũng trong lực lượng tham nhũng không, là phải chăng các cơ quan điều tra, giám định có vấn đề. Đến khi xét xử lại không công khai, nó lại đút tiền vào, hối lộ rồi nên làm méo mó” – Tổng Bí thư nói và nhấn mạnh đây là cuộc đấu tranh gian nan, phức tạp, phải kiên trì, có lòng tin và quyết tâm.

PGS.TS Nguyễn Văn Nhã: “May ra chúng ta sẽ thay đổi được nền giáo dục”
(GDVN) – "Một công ty sản xuất sắt mà có hàng nghìn tấn sắt vứt gỉ ở trong kho thì là sắt tồi; công ty xi măng có hàng nghìn tấn xi măng mà để vón cục ở trong kho thì là sản phẩm vớ vẩn. Vậy hàng nghìn sinh viên tốt nghiệp ra trường, thậm chí có cả bằng khá, giỏi cũng không tìm được công ăn việc làm thì đó có phải sản phẩm tồi không?".

Việc Bộ Giáo dục đào tạo sắp trình Chính phủ và Quốc hội đề án đổi mới sâu sắc và toàn diện không phải là chuyện quá mới mẻ. Thực chất, nội dung này đã được nhắc rất nhiều tại Hội nghị Trung ương VI, đó là phải đổi mới sâu sắc và toàn diện, toàn bộ hệ thống giáo dục kể cả từ giáo dục mầm non cho tới Đại học và Cao đẳng.

Liệu đề án này có thực sự đáp ứng được sự kỳ vọng sẽ làm thay đổi bộ mặt giáo dục nước nhà hay không? Báo Giáo dục Việt Nam xin gửi tới độc giả những chia sẻ của PGS.TS Nguyễn Văn Nhã – Nguyên Trưởng Ban Đào tạo ĐHQG Hà Nội, Hiệu trưởng Trường ĐH Nguyễn Trãi. (…)

Nền giáo dục Việt Nam đang chờ đợi một cuộc cải cách mạnh mẽ, để học sinh
không còn phải "học chỉ để đi thi". Ảnh minh họa, nguồn internet.

PGS Nguyễn Văn Nhã: – Tôi tin rằng Việt Nam sẽ thay đổi được nền giáo dục, nhưng quan trọng là trong bao nhiêu năm thì chưa ai xác định được. Tôi hy vọng là mình còn được nhìn thấy được thành tựu ấy.

Tôi nói không hề ngoa rằng nếu so sánh thì thậm chí chúng ta còn thua cả Lào. Tôi đã có vài dịp sang công tác tại ĐH Quốc gia Lào, trời ơi từ lãnh đạo nhà trường cho tới các nhân viên mọi phòng ban đều nói tiếng Anh, tiếng Việt rất tốt. Nhưng điều khiến tôi bất ngờ hơn cả là một nhân viên bảo vệ và một cán bộ phụ trách ký túc xá cũng nói tiếng Việt và tiếng Anh rất tốt. Còn ở ta, nhiều người học xong cả thạc sĩ mà còn không đủ tự tin giao tiếp thì còn nói gì tới nghiên cứu tài liệu, và thế là chỉ dám nói tiếng Việt thôi. Mà xin lỗi, nói tiếng Việt nhiều khi còn sai.

Và có lẽ, nếu hỏi người dân thì chẳng ai không biết đến những chuyện nhiễu nhương trong môi trường giáo dục. Trẻ con vào lớp 1 thì các trường thu phí quá nhiều, rồi núp dưới danh nghĩa là phụ huynh cam kết tự đóng. Con có muốn học trong phòng lắp điều hòa không? Đóng tiền nhé. Con muốn đi ngủ trưa có gối không? Lại đóng tiền. Con có muốn ăn thêm một chút gì đó sau khi ngủ dậy vào không? Lại nộp tiền.

Lên đến cấp 2 thì bắt đầu học thêm, dạy thêm dưới danh nghĩa phụ huynh tự nguyện, còn lên đến đại học cao đẳng thì bị thả nổi, quy trình đào tạo, học phí, cơ sở vật chất và chất lượng đào tạo cũng chưa kiểm soát tốt, mà gần đây đã có những ý kiến cho rằng cao đẳng đại học công lập mọc lên như siêu nấm, việc xin cho để nâng cấp cao đẳng lên đại học, trung cấp lên cao đẳng là nhằm vơ vét thí sinh trong lúc người Việt ta vẫn còn sính bằng cấp trường công lập, còn trình độ đào tạo thì lại chưa theo kịp giấy phép nâng cấp đã được ký, thế cho nên ngành giáo dục lại càng mất uy tín, và gây ra nhiều nỗi bức xúc cho nhân dân.

Bàn về giáo dục, tôi đã ví von rằng, một công ty sản xuất sắt mà có hàng trăm tấn sắt vứt gỉ ở trong kho thì là sắt tồi; công ty xi măng có hàng trăm tấn xi măng mà để vón cục ở trong kho thì là sản phẩm vớ vẩn. Vậy hàng nghìn sinh viên tốt nghiệp ra trường, thậm chí có cả bằng khá, giỏi cũng không tìm được công ăn việc làm thì đó có phải sản phẩm tồi không?

Khi nào người thầy và máy móc hết "đuổi bắt" nhau?
(GDVN) -Sử dụng công nghệ hiện đại vào giáo dục tại nước ta còn nhiều bất cập, có nơi người thầy còn chưa điều khiển được máy móc, có thầy cô lại bị cho là quá lạm dụng máy móc. Bài toán này mấu chốt ở đâu? (…)

Lương tiến sĩ còn thua oshin
Khánh An (PetroTimes) – Nhiều năm qua, “chảy máu chất xám” được coi là một hiện tượng phức tạp, buộc nhiều quốc gia cần xem xét và điều chỉnh, từ đó có chính sách, biện pháp khắc phục. Bởi, dù thế nào thì trong thế giới hiện đại, sự phát triển của mỗi quốc gia luôn cần tới vai trò của tri thức, trí tuệ.Tuy nhiên, do cơ chế trả lương và đãi ngộ quá bất cập mà Việt Nam đang phải… chấp nhận tình trạng chảy máu chất xám hằng ngày, hằng giờ.

Việc thiếu những cơ chế hợp lý đãi ngộ người tài đã khiến
tình trạng chảy máu chất xám ở Việt Nam ngày càng nghiêm trọng

Tốn kém nhiều – kết quả ít

Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) cho biết, hiện có trên 3 vạn lưu học sinh du học theo các con đường: Hiệp định giữa hai chính phủ, với học bổng của các tổ chức nước ngoài, học bổng của chính phủ trong khuôn khổ đề án đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật của các cơ sở nước ngoài bằng nguồn ngân sách Nhà nước (Đề án 322) và du học tự túc. Với Đề án 322, từ năm 2000 đến 2010, Việt Nam đã chi hơn 2.500 tỉ đồng cho khoảng 3.000 cán bộ, giảng viên đi nước ngoài học tập; và trong số 2.268 người được đưa đi đào tạo tiến sĩ, thì chỉ có 1.074 tiến sĩ về nước. Chi phí bình quân cho mỗi du học sinh theo đề án này là khoảng 22.000USD/năm. Như vậy, trong 10 năm Nhà nước phải chi cho mỗi người là 220.000USD, tức gần 4,4 tỉ đồng.

Không chỉ vậy, thống kê của Bộ GD&ĐT cho biết số lượng du học sinh Việt Nam ở nước ngoài ngày càng tăng, theo đó, năm học 2010-2011 có 98.536 người, năm học 2011-2012 có 106.104 học sinh, sinh viên ra nước ngoài học tập. Như vậy, nếu tính một suất du học tốn tối thiểu 10.000-15.000USD (có thể cao hơn) thì mỗi năm Việt Nam chuyển ra nước ngoài 1-1,5 tỉ USD. Dù vậy, nhưng hiện nay, Bộ GD&ĐT cũng chỉ nắm được con số du học sinh đi theo Đề án 322, với 120 du học sinh đã tốt nghiệp trở về nước. Số còn lại, do cá nhân học sinh, sinh viên tự liên hệ, không thông qua Bộ GD&ĐT nên khó nắm được con số đi cũng như số trở về và đến nay cũng chưa có một điều tra nào về thực trạng việc làm của những du học sinh, sau khi tốt nghiệp các trường đại học nước ngoài trở về.

Thực trạng đáng buồn hiện nay là các du học sinh ra nước ngoài học tập bằng nhiều con đường khác nhau nhưng nẻo về lại giống nhau và phần lặng lẽ mất hút; phần khác nếu không được ở lại, khi trở về họ cũng tìm cơ hội tại các công ty nước ngoài. Mặc dù những năm gần đây, một số địa phương cũng có những chính sách thu hút nhân tài, trong đó Hà Nội có hẳn một đề án thu hút nhân tài nhưng đáng tiếc là hiệu quả của việc triển khai thực hiện của những đề án, kế hoạch này lại… chỉ như “đá ném ao bèo”.

“Người ra đi đầu không ngoảnh lại”

Là á quân của cuộc thi “Đường lên đỉnh Olympia” năm đầu tiên, năm 2002, Nguyễn Thành Vinh có học bổng sang Australia du học ngành hóa học tại Đại học New South Wales tại Sydney. Kết thúc chương trình cử nhân, Vinh tiếp tục chương trình tiến sĩ về hóa hữu cơ tại Đại học Quốc gia Australia (ANU). Phản ứng trước con số 70% du học sinh Việt Nam không trở về nước sau khi tốt nghiệp, Vinh nói: “Nếu 30% quay trở về làm đất nước phát triển rực rỡ thì thế đã là quá đủ. 70% nữa quay trở về chỉ làm môi trường thêm chật chội. Nếu 30% đã quay về chẳng làm được gì hết thì 70% nữa quay về liệu có làm được gì không? ”.

Ông Phạm Sỹ Tiến, Trưởng ban Điều hành Đề án 322 trăn trở: “Điều đáng buồn nhất của các đề án đầu tư đưa học sinh, sinh viên đi du học là người học được Nhà nước đầu tư rất tốt, nhưng sau khi về nước không phát huy được năng lực của mình, không có môi trường để phát triển nghiên cứu tiếp”. Ông Tiến nhận xét: “Đề án có tốt nhưng “đầu ra” không tốt thì hiệu quả cũng bị giảm sút. Một số du học sinh sau khi về nước đã xin thôi việc ở cơ quan cũ để sang cơ quan khác làm việc hoặc làm việc cho doanh nghiệp. Nhiều người ở lại nước ngoài”.

Không chỉ vậy, với thạc sĩ, tiến sĩ… được đào tạo bài bản và có trình độ chuyên môn, việc đãi ngộ thông qua lương bổng cũng vô cùng bất cập. Với trình độ cao học, một người cần bỏ ra 20-30 triệu cho 2 năm học (trong đó tiền học phí chỉ dao động 13-15 triệu), còn nếu muốn học tiếp lên tiến sĩ thì số tiền này sẽ còn nhiều hơn bởi một loạt các loại phí khác nằm ngoài chuyện học tập, như “phí bảo vệ luận án, phí quà cáp”… Và nếu trừ 10 triệu đồng/năm được Nhà nước hỗ trợ, hầu hết nghiên cứu sinh đều phải bỏ thêm tiền túi ra để phục vụ nghiên cứu. Đối với nghiên cứu sinh khối xã hội còn đỡ, khối kỹ thuật có người phải tốn cả trăm triệu đồng để trang bị các điều kiện nghiên cứu. Thế nhưng đến thời điểm này, theo Nghị định 205/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ quy định hệ thống thang lương, bảng lương và chế độ phụ cấp lương trong các công ty Nhà nước thì không có thang lương cho học vị thạc sĩ hay tiến sĩ.

Anh Nguyễn Hùng, giảng viên một trường đại học ở Hà Nội cho biết, sau khi làm xong tiến sĩ theo Đề án 322 ở Trường đại học Paris 6 ở Pháp về, anh có cảm giác “khủng hoảng”. Đang từ cuộc sống đầy đủ, lúc về nước anh nhận mức lương 2,5 triệu/tháng trong 6 tháng đầu do chưa tham gia nhiều hoạt động khác của khoa. Hiện giờ, mức lương của anh là 3,6 triệu đồng/tháng, không thay đổi so với trước lúc đi học.

Khá hơn anh Hùng, anh Trần Văn Long, giảng viên một trường đại học kỹ thuật tại Hà Nội đã hoàn thành chương trình nghiên cứu sinh vào năm 2011 và được hưởng hệ số lương là 3,33. Tuy nhiên, anh cho biết, nếu không dạy vượt tiết, tất tần tật thu nhập của anh ở trường chỉ là 3,5 triệu đồng/tháng. Nếu dạy vượt tiết, giờ hành chính anh được trả 25.000 đồng/tiết, ngoài giờ là 50.000 đồng/tiết. Anh nói: “Lương giảng viên thì thấp, chúng tôi còn phải lo cho vợ con, nhà cửa, thế này thì thạc sĩ hay tiến sĩ cũng có khác gì cử nhân mới ra trường đâu?”.

Chia sẻ về tình trạng “chảy máu chất xám” và đãi ngộ người tài ở nước ta hiện nay, GS Phạm Minh Hạc (nguyên Bộ trưởng Bộ GD&ĐT) cho rằng: “Nhiều người đi học ở nước ngoài về vẫn phải tự thân vận động, tự bỏ tiền túi để nghiên cứu khoa học, một phần do thủ tục hành chính, chế độ, chính sách chưa thỏa đáng. Họ không về do hệ thống nghiên cứu khoa học trong nước chưa đủ hấp dẫn cho người có tài làm việc trong nước, chưa đủ mức tin cậy cho những nhà khoa học trẻ thấy rằng, mình làm trong nước có thể tiến bộ và cống hiến được như nước ngoài. Chúng ta cần chú trọng đội ngũ trí thức trong nước ở các viện khoa học, các trường đại học, các tổ chức… Có một điểm không thể thiếu được là chú trọng kêu gọi những nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài trở về nước hợp tác, cộng tác thường xuyên để có sự gắn bó, hợp tác. Nhà nước không cần có một chính sách gì quá đặc biệt với trí thức Việt kiều mà hãy tập trung vào những chính sách tốt cho trí thức trong nước”.

Rõ ràng, chuyện lương bổng và trên hết là quá nhiều bất cập trong chính sách trọng dụng, đãi ngộ nhân tài khiến du học sinh khi trở về không có cơ hội phát triển nghề nghiệp lẫn thăng tiến. Và nếu chúng ta cứ tiếp tục “vô tư” không nghĩ đến một giải pháp thu dụng những tri thức trẻ có năng lực, bao gồm cả những sinh viên tốt nghiệp trong nước và du học sinh, thì một ngày không xa con số “chảy máu chất xám” của đất nước sẽ còn tăng theo cấp số nhân.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.