Việt Nam trong danh sách đàn áp tự do internet nhất thế giới của Freedom House

Posted: October 4, 2013 in Uncategorized
Tags:

Trà Mi (VOA||DĐXHDS) – Việt Nam là một trong hai quốc gia đàn áp quyền tự do internet nhất ở Châu Á và đứng thứ 7 trong danh sách 10 nước không có tự do internet tệ hại nhất thế giới. Theo khảo sát về Tự do Internet 2013 do tổ chức Freedom House có trụ sở tại Hoa Kỳ vừa công bố hôm 03/10, Việt Nam bị xếp vào các nước hoàn toàn không có tự do Internet.

(Xem thêm: Chùm ảnh: Những phiên tòa công khai ở Việt Nam là như thế – “Giáo dục gia đình không còn tiêu chí đạo đức rõ ràng nữa?!” – “Bộ tứ nữ quái” lớp 10 vác dao đi khiêu chiến, suýt gây án mạng – Sở hữu toàn dân và dịch vụ cho thuê vợ của hôn nhân công xã – Bỏ người tín nhiệm cao để bổ nhiệm người tín nhiệm thấp – Phúc thẩm vụ “người bị tạm giam lâu nhất Việt Nam”: Dấu hiệu lọt tội) …


Ở khu vực Châu Á, Việt Nam chỉ đứng sau Trung Quốc về tình trạng
kiểm duyệt internet, trấn áp, và bắt bớ các cư dân mạng.

Ở khu vực Châu Á, Việt Nam chỉ đứng sau Trung Quốc về tình trạng kiểm duyệt internet, trấn áp, và bắt bớ các cư dân mạng. Phúc trình của Freedom House nói ngoài việc mở rộng kiểm duyệt net, chính phủ Việt Nam còn áp dụng nhiều biện pháp để quản lý và định hướng dư luận quần chúng trên mạng.

Trong năm năm qua, theo kết quả khảo, Việt Nam không ngừng bắt bớ, thẩm vấn, bỏ tù, tấn công những người viết blog hay các ký giả trên mạng, và xu hướng đàn áp mạnh tay này càng ngày càng leo thang.

Bà Madeline Earp, chuyên gia phân tích nghiên cứu về tự do internet khu vực Châu Á thuộc Freedom House, phát biểu với VOA Việt ngữ: “Tình hình tự do internet tại Việt Nam hiện nay hết sức đáng quan ngại. Thứ nhất, số blogger bị bắt bớ gia tăng hằng năm. Thứ hai, Nghị định 72 về Quản lý internet vừa ban hành chứng tỏ nhà nước không ngừng tìm mọi cách tiếp tục siết chặt kiểm soát internet. Thứ ba, nhà nước Việt Nam cũng thừa nhận có thuê mướn một lực lượng hùng hậu các dư luận viên trên mạng trong nỗ lực thao túng và định hướng các nội dung trao đổi thông tin trên mạng. Việt Nam không chỉ đứng hạng nhì trong số các nước Châu Á đàn áp internet mạnh nhất theo xếp hạng của Freedom House, mà còn đứng thứ hai trong số các nước bỏ tù nhiều blogger nhất trên danh sách xếp hạng do các tổ chức bảo vệ nhân quyền khác thực hiện. Chỉ đứng sau quốc gia có dân số khổng lồ như Trung Quốc trong các lĩnh vực này thì quả thật tình trạng tự do internet của Việt Nam rất đáng quan tâm.”

Bà Earp cho hay điều gây chú ý nhất đối với các nhà phân tích khi thực hiện cuộc khảo sát này là con số những người dùng net tại Việt Nam bị chính quyền sách nhiễu hay giam cầm.

Khảo sát về Tự do Internet của Freedom House được thực hiện ở 60 quốc gia trên thế giới.

Các phạm vi được đánh giá bao gồm những rào cản ngăn trở người dùng net, các hình thức giới hạn nội dung truy cập như kiểm duyệt, khóa chặn, và các hình thức vi phạm quyền của người sử dụng mạng bao gồm xâm phạm quyền riêng tư cá nhân, theo dõi, tấn công, sách nhiễu hoặc bắt bớ. Trong tất cả các lĩnh vực này, Việt Nam đều có số điểm rất thấp.

So với kết quả khảo sát tương tự của Freedom House năm trước, thứ hạng của Việt Nam trong bảng Tự do Internet 2013 đã bị tuột dốc.

Chuyên gia của Freedom House nói tổ chức này lo rằng trong thời gian tới, xu hướng đàn áp internet tại Việt Nam sẽ còn tệ hơn khi mà Nghị định 72 chính thức được thực thi, công an Việt Nam càng được tạo điều kiện để kèm kẹp quyền tự do internet của công dân và bắt bớ thêm những công dân mạng thể hiện quan điểm trái với nhà nước hay chỉ trích chính phủ.

Tuy nhiên, vẫn theo bà Madeline Earp, một tín hiệu khả quan là cộng đồng cư dân mạng Việt Nam đã chứng tỏ nỗ lực phản kháng sự cản trở và kiểm duyệt của nhà nước, đặc biệt là phản đối Nghị định 72.

Ghi nhận nỗ lực đó, Freedom House kêu gọi quốc tế hỗ trợ người sử dụng net tại Việt Nam, tăng áp lực thúc đẩy Hà Nội tôn trọng các nhân quyền căn bản của người dân bao gồm quyền tự do ngôn luận và tự do internet.

Bà Madeline Earp: “Chúng tôi hy vọng cộng đồng quốc tế lưu ý hơn tới tình trạng của các blogger ở Việt Nam đang bị giam cầm với các án tù dài hạn chỉ vì họ thể hiện quan điểm cá nhân trên mạng, thực thi quyền tự do ngôn luận, tự do internet. Chúng ta đừng quên những người này.”

Theo khảo sát của Tổ chức Phóng viên Không biên giới, trong năm 2013 này, Việt Nam đã thế chỗ Iran trở thành nhà tù lớn thứ hai trên thế giới giam cầm các cư dân mạng, sau Trung Quốc.

Trong nửa đầu năm nay đã có 35 blogger bị bỏ tù tại Việt Nam với các bản án lên tới 13 năm.

Chùm ảnh: Những phiên tòa công khai ở Việt Nam là như thế
(RFA-Blog) – Ngày 2/10/2013, nhà cầm quyền Hà Nội đã tổ chức một cái gọi là "Phiên tòa" xét xử "tội trốn thuế" đối với Ls Lê Quốc Quân, một người bất đồng chính kiến và là một người tham gia nhiều hoạt động yêu nước cũng như các hoạt động cộng đồng. Phiên tòa được thông báo tổ chức xét xử Công khai.

(Mời xem theo link)
“Giáo dục gia đình không còn tiêu chí đạo đức rõ ràng nữa?!”
(ĐSPL) – “Có thể nói giáo dục gia đình hiện nay phần lớn không còn tiêu chí đạo đức rõ ràng, chỉ có tiêu chí về “trí lực”. Gia đình nào cũng muốn con học giỏi, thành đạt chứ mấy ai quan tâm đến dạy con nên người”, ông Đỗ Văn Giảng – nhà Tâm lí học đường nói.

HSSV nói dối, quay cóp, phạm tội… ngày càng gia tăng

Trong những hội thảo gần đây nhiều nhà nghiên cứu đã công bố những con số khảo sát về học sinh phạm tội ngày càng nhiều.

TS. Nguyễn Văn Tập, Hội viên Hội Khoa học tâm lý – Giáo dục (Hội KHTL- GD) ngành Công an đã đưa ra kết quả khảo sát thực trạng tội phạm hình sự do vị thành niên gây ra trên địa bàn thành phố Hà Nội từ năm 2007 đến năm 2011 có 2469 em phạm tội bị khởi tố bị can chiếm 5,9% tổng số người bị khởi tố hình sự.

Trong đó, tội trộm cắp tài sản là tội danh vị thành niên phạm vào nhiều nhất, trong 2469 em bị truy tố thì đã có 648 em phạm tội trộm cắp tài sản, chiếm 26,24% tổng số em phạm tội.

Sự gia tăng đột biến của tệ nạn ma túy học đường ngày càng trở thành vấn đề nhức nhối. Nếu như năm 2004 chỉ có 600 học sinh, sinh viên nghiện ma túy, thì đến năm 2007 con số này đã tăng lên 1.234 học sinh, sinh viên.

Trước những con số giật mình thế này, theo Tiến sĩ Tập: “Động cơ của các em phạm tội trộm cắp tài sản là để thoả mãn nhu cầu cá nhân – nhu cầu “cái tôi”, độc lập đã trưởng thành “người lớn” của mình. Trong khi gia đình, bố mẹ vẫn coi là “trẻ con” không quan tâm đến, không tạo điều kiện để các em khẳng định mình dẫn đến các em phải giấu diếm, lén nút tìm cơ hội, điều kiện thoả mãn mình bằng hành vi trộm cắp tài sản. Tiếp sau tội trộm cắp tài sản là tội cướp tài sản có 618 em, chiếm 25,03% tổng số tội phạm vị thành niên, tội cố ý gây thương tích có 269 em, chiếm 10,89%, tội hiếp dâm và tội hiếp dâm trẻ em có 105 em, chiếm 4,28%.

Theo một khảo sát khác của GS.TSKH Trần Ngọc Thêm, giám đốc Trung tâm Văn hóa học lý luận và ứng dụng – ĐHQG TP.HCM, ở bậc Tiểu học, đã có tới 22% học sinh biết nói dối cha mẹ, còn ở bậc THCS và THPT thì có tới 50% và 64% học sinh “lừa cha dối mẹ”. Và ở bậc ĐH, CĐ có đến hơn 80% sinh viên sẵn sàng nói dối để qua mặt phụ huynh. Nguyên nhân tình trạng nói dối của học sinh, theo GS Thêm là do sự thay đổi nhanh chóng của môi trường, điều kiện sống của các em ngày càng đầy đủ hơn. Bên cạnh những tác động tích cực đã dẫn tới những tác động tiêu cực như giá trị trong xã hội bị đảo lộn và thâm nhập vào giới trẻ.

Quên cách… “dạy con nên người”

(… … …)

“Bộ tứ nữ quái” lớp 10 vác dao đi khiêu chiến, suýt gây án mạng
Dân Việt – Do mâu thuẫn cãi vã, hai nhóm nữ sinh đã "giải quyết" với nhau bằng dao và gậy gộc ngay trước cổng trường. Chỉ đến khi lực lượng công an xuất hiện, cả hai nhóm mới lên xe máy tẩu thoát. (…)

"Bộ tứ nữ quái" học sinh lớp 10 trường THPT Lê Quý Đôn TP Tam Kỳ, Quảng Nam vác dao đi khiêu chiến
Sở hữu toàn dân và dịch vụ cho thuê vợ của hôn nhân công xã
Xích Tử (Dân Luận) – Thời chiến tranh lạnh, đúng hơn là chiến tranh nóng, bọn/thằng địch, chứ không phải cả một thế lực thù địch to lớn như bây giờ, tuyên truyền rằng cộng sản là tam vô chủ nghĩa: vô gia đình, vô tôn giáo, vô tổ quốc.

Phía cộng sản/Việt cộng không phản đối, cũng không thừa nhận. Các văn kiện pháp luật, các tài liệu công khai về chính sách vẫn khẳng định những phạm trù này, với tư cách là những thiết chế, tổ chức, mục tiêu có định hướng xây dựng giá trị của cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Tuy nhiên, trong thực tế, các văn bản mật và một số văn kiện chính sách công khai khác, mục tiêu xóa bỏ những thiết chế này là có thật, được thực hiện một cách kiên trì theo bản chất của chủ nghĩa cộng sản.

Trước hết, gia đình được xem là hang ổ của những liên hệ, bí mật riêng tư, sự cố kết, tự vệ, đồng phạm đồng lõa mà xã hội không kiểm soát được; là cơn nguyên của tư hữu, lòng tham tiểu nông có thể từng giờ từng phút đẻ ra chủ nghĩa tư bản. Do vậy, để xã hội hóa con người, biến cá nhân thành con người xã hội đồng loạt, phải tách dần các thành viên, tiến đến phá hủy gia đình, chỉ duy trì nó ở qui mô hạt nhân để tái “sản xuất” loài. Trẻ em được khuyến cáo chỉ cần 4 tháng bú sữa mẹ là tốt. Từ sau 4 tháng, có thể đưa vào nhà trẻ. Ở nông thôn đã có những nhà giam trẻ để phục vụ kiểu làm ăn hợp tác xã nông nghiệp, với một túp nhà đơn sơ, một nữ nông dân giữ trẻ, buộc các nôi lại bằng một dây truyền, đưa đồng loạt, ngủ đồng loạt, bằng lời ca và nhịp giọng hát đồng loạt; sau đó là ăn, ỉa đái…đồng loạt. Lớn lên , bắt đầu đi học thì khăn quàng đồng loạt, được nghe đồng loạt 5 lời dạy của lãnh tụ mà không có điều nào về yêu cha mẹ ông bà anh chị họ tộc cả, học một sách giáo khoa theo một chương trình với thời khóa biểu thống nhất toàn quốc, theo 3 nguyên lý giáo dục của đảng mà không có nguyên lý nào gắn với gia đình (cần lưu ý nguyên lý 3 thời đó đã yêu cầu nhà trường gắn liền với xã hội rồi chứ không phải “xã hội hóa giáo dục” như kiểu bắt đền gia đình bây giờ) . Lớn lên chút nữa, ra đời thì đi bất cứ nơi đâu đảng cần, cha mẹ ở nhà đã có hợp tác xã lo. Nếu đảng cần, cha mẹ có thể thành kẻ thù, thành đối tượng cách mạng như thời tố khổ cải cách ruộng đất, hay như có cô con gái một đại gia Hoa kiều Chợ Lớn đã tuyên chiến với bố mẹ thời cải tạo công thương nghiệp miền Nam từ1976 theo lời kêu gọi của đoàn thanh niên. Kiểu giáo dục định hướng con người đồng loạt và vô gia đình đó đã chuẩn bị ngay từ cái thời chưa thành niên với khẩu hiệu dõng dạc “ Vì Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, hãy sẵn sàng”; cha mẹ chỉ còn đứng xa mà nhìn con.

Về đánh phá tổ chức và các mối liên hệ gia đình, nhất là ở nông thôn, các thành viên bị tách ra theo kiểu phân công lao động tập thể : đàn ông ở những tổ lao động nặng; phụ nữ ở các tổ lao động nhẹ hơn (cấy, vãi phân, làm cỏ, cắt lúa…); người già thì ráp vào những tổ vệ sinh, nhổ cỏ với điểm công lao động thấp nhất và ăn ít đi. Thời gian dành cho sinh hoạt gia đình, nhất là ban ngày, hầu như không có. Buổi tối thì thời gian này cũng bị rút bớt đi bằng họp hội chính trị, bình công chấm công. Đất đai, tài sản riêng tư, trong đó có phần tích lũy để giỗ chạp gia đình, bị đảng chiếm hữu; nông dân không còn cái gì để làm chứng cho gia đình và tự nuôi gia đình mình. Mục đích xóa bỏ gia đình như vậy thể hiện nhất quán trong chính sách của đảng, kể cả trong xem xét quá khứ và xử lý tương lai của mỗi con người. Đảng trọng chủ nghĩa lí lịch, dùng đến những từ rất ghê rợn khi nhận xét một thanh niên vừa học xong lớp 10, đi thi đại học như kiểu “có nợ máu”; và do rất coi trọng lý lịch quá khứ, họ lại càng quyết tâm triệt căn nhựng hệ lụy của gia đình đối với tương lai. Nghe nói, ở Campuchia, trong công xã nhân dân, Ăngka quản lý tách riêng vợ chồng, mỗi tháng chỉ cho “gặp” một số lần hạn chế.

Tiếp sau gia đình, dòng họ cũng bị phủ nhận. Các mối liên hệ dòng họ bị xóa dần vì các tổ chức xã hội và hợp tác xã, vì buộc phải lao động theo lịch vụ chung, vì không còn đất hương hỏa, thờ tự, và vì những nhận xét không có lợi của đảng đối với những ai có biểu hiện xem nặng dòng họ, rằng đó là tư tưởng phong kiến.

Làng xã cổ truyền cũng là đối tượng của cách mạng vô sản. Tổ chức làng xã/ đình bị thay thế bằng xã hành chính và các hợp tác xã nông thôn. Hầu hết đình làng bị sung công, cải biến, phá hủy, để phục vụ cho những sinh hoạt chính trị, kinh tế mới. Các vị bô lão cao niên (chứ không phải hào lại cũ) không còn được dùng đình làng để họp hội, có tiếng nói với làng xã. Công điền phục vụ sinh hoạt làng và đình làng cũng bị chiếm hữu.

Đối với tôn giáo, từ giai đoạn đầu của cách mạng xã hội chủ nghĩa, tổ chức và các sinh hoạt thuần khiết bị hạn chế nhiều. Không còn ruộng chùa, nhà thờ. Các hoạt động hoằng pháp, hoằng hóa, độ tăng, đào tạo, an cư kiết hạ, trúc viện lập tự… của Phật giáo, hoạt động mục vụ, đào tạo chủng sinh, bổ nhiệm chức sắc… của Thiên chúa giáo rất khó tổ chức vì thiếu cơ sở hậu cần và phiền hà về thủ tục. Chỉ sau này, khi nhà nước thay thế các tổ chức thuần khiết đó bằng các tổ chức tôn giáo thế tục hóa, ghim cấy người của đảng, công an vào các tôn giáo, tình hình mới được nới lỏng, cùng với trào lưu tâm linh của dân chúng và điều kiện kinh tế có phần hậu hĩ hơn. Nói cho cùng, đảng vẫn trung thành tuyệt đối với nhận xét của Marx :tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân; dứt khoát tôn giáo không thể song tồn, đồng tồn với chủ nghĩa cộng sản.

Đối với phạm trù Tổ quốc, do giai đoạn quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội vẫn phải diễn ra trong phạm vi quốc gia, nên “tạm thời” chủ thể làm cách mạng đó vẫn là một nước, với tên gọi Việt Nam Dân chủ cộng hoà/ Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có đầy đủ lệ bộ tự khí như Hiến pháp, pháp luật, quốc hội, quốc kỳ quốc ca. Tuy nhiên, vì chủ nghĩa cộng sản là thế giới đại đồng nên cái chủ thể “tạm thời” đó, theo lý thuyết, là sẽ biến mất. Đảng đã chuẩn bị cho công dân của mình chào đón sự biến mất đó bằng chủ nghĩa quốc tế vô sản, bằng nhiệm vụ chiến đấu hy sinh xương máu của dân tộc cho Liên Xô, Trung Quốc, bằng “Thương cha thương vợ thương chồng. Thương mình thương một, thương ông (Stalin) thương mười “. Tình cảm cách mạng như vậy đã quá rõ; thằng địch không phải tuyên truyền suông.

Nói những chuyện cũ rất dài như vậy để mà nhớ với nhau trong những ngày tổng kết lý luận 30 năm đổi mới này. Món nợ đó không phai được trong tâm thức dân tộc, trong mỗi gia đình, mỗi con người mà số phận bị gắn, bị dẫn dắt, bị đánh phá sỉ nhục mấy chục năm. Qua đó, để thấy “đổi mới” chẳng là cái gì công lao cả, vì đảng đã gây nên cuộc tang thương, rồi thất bại, phải tự cứu bằng cách tự phản bội và lừa dối nhân dân thôi.

Cái cảm xúc của tiêu đề bài viết vẫn là chuyện đất đai. Nhà báo Bùi Tín gọi sở hữu toàn dân về đất đai là gốc của tội ác. Ron Paul, thành viên sáng lập và cố vấn nổi tiếng của Viện Mises, cho rằng tư hữu là cốt lõi của tự do. Khi tiến hành “cách mạng” bằng thứ học thuyết mơ hồ, viễn tưởng, được tiếp thu một cách chắp vá và chở nó về Việt Nam bằng chiếc xe bò cọc cạch han gỉ, qua con đường Lenin, đảng đã không có một chủ nghĩa tư bản phát triển nào làm đối tượng, một giai cấp công nhân nào hoàn thiện, đủ mạnh để làm lực lượng cả, đành phải tiến công vào nông dân, xoá tư hữu đất đai của họ để chiếm cơ sở tạo nên tự do của họ, thực hiện việc kiểm soát, quản lý toàn diện họ thông qua cái dạ dày, qua đó đánh phá tiêu huỷ gia đình, dòng họ, làng xã, đình miếu, tôn giáo, tiến đến việc đưa Tổ quốc vào thế giới đại đồng. Toàn bộ truyền thống văn hoá đạo đức của dân tộc gắn với tư hữu đất đai, bao gồm cả dòng họ, làng xã, ngôi chùa miền quê yên ả bị khủng bố, bị làm rối tung lên.

Khi thiết lập sở hữu toàn dân về đất đai, đảng chỉ giải thích đó là tư liệu sản xuất, nên theo mục tiêu cách mạng quan hệ sản xuất, phải cải tạo bằng cách phi tư hữu hoá và trao cho nông dân lời hứa rằng với cách đó, đảng sẽ đưa nhân dân lên thiên đường chủ nghĩa cộng sản. Tuy nhiên, khi thất bại, đảng đã tự ý phỗng tay trên, chuyển tư liệu sản xuất đó thành tài sản (thuộc nhóm bất động sản), rồi từ tài sản, đất đai lại trở thành hàng hoá (thị trường bất động sản), để âm mưu, tạo điều kiện cho một nhóm giàu lên, trong đó có quan chức đảng viên, nhờ vào đầu cơ đất đai trên đầu nhân dân. Họ là chủ đầu tiên của mảnh đất, nhưng họ mất tất cả; những người thực hiện việc phi tư hữu hoá lại trở thành tư bản đỏ đất đai địa ốc. Hình ảnh và quá trình đi ăn cướp của người ta rồi cấp cho họ cái quyền sử dụng trong 20 năm đó, liên hệ với công xã Campuchia, có thể so sánh việc sở hữu toàn dân về đất đai giống như sung công vợ của những ông chồng, rồi cấp quyền sử dụng vợ lại cho chồng, hoặc cho chồng thuê. Chồng thì tốn kém mà chẳng được gì; mỗi lần gặp vợ thì chỉ được đến giới hạn quyền sử dụng hoặc hợp đồng thuê thôi, thấp tha thấp thỏm, khúm núm quị lụy, hối lộ bôi trơn. Thế nhưng cái bọn chủ cho thuê, cò mồi cho thuê vợ người ta lại giàu sụ phất lên. Khốn nạn quá.

Và vì như thế, trong tổng kết lý luận 30 năm đổi mới này, đảng phải trả lời với nhân dân 2 việc:

1. Đảng tự đánh giá tội ác của mình trong lịch sử cách mạng đất đai mấy chục năm qua như thế nào. Không làm được việc này, tiếp tục chạy làng, né tránh, quỵt nợ với vẻ vô trách nhiệm, phớt lờ, nhơn nhơn tự đắc như là mình đúng, nông dân Việt Nam mấy đời sẽ căm thù, nguyền rủa đảng cộng sản.

2. Trong đổi mới về kinh tế, khi cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, thực sự là vốn của toàn dân, kể cả những nông dân bị cướp đất, đảng đã dung túng, tạo điều kiện cho việc định giá thấp tài sản doanh nghiệp để các ông chủ doanh nghiệp là đảng viên cộng sản, dùng tiền tích luỹ bằng lương nhận từ lợi nhuận doanh nghiệp được tạo nên từ bất bình đẳng “liên minh công nông” (như mua mía của nông dân giá thấp, bán đường giá cao) để mua cổ phần, trở thành tư bản đỏ. Đó là cách mạng gì?

Bỏ người tín nhiệm cao để bổ nhiệm người tín nhiệm thấp
(LĐ) – Một cán bộ có phiếu tín nhiệm cao đã bị thẳng thừng loại bỏ để một người có phiếu tín nhiệm thấp hơn được bổ nhiệm vào chức phó phòng, rồi trưởng phòng giáo dục-đào tạo (GDĐT). Điều đáng nói là ngay sau khi nắm quyền lực, vị trưởng phòng này đã có thái độ xúc phạm cấp dưới và làm những việc sai nguyên tắc, gây bất an trong đội ngũ giáo viên. (…)

Phúc thẩm vụ “người bị tạm giam lâu nhất Việt Nam”: Dấu hiệu lọt tội
TP – Hôm qua, TANDTC xét xử phúc thẩm vụ án “nhận hối lộ” và “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” đối với bị cáo Phạm Đình Tiếng, nguyên thiếu tá Công an TP Hà Nội, người đang bị tạm giam đến năm thứ tám.

Bị cáo Phạm Đình Tiếng ra tòa sức khỏe không tốt. Ngoài bị phù thũng, ông Tiếng bị huyết áp cao. Phần mở đầu, ông Tiếng xin hoãn phiên tòa. Ngoài lý do sức khỏe, ông Tiếng trình bày ông không được nhận văn bản thông báo thời gian, địa điểm xét xử vụ án, nên không có sự chuẩn bị để trả lời thẩm vấn. Ông Tiếng còn khẳng định, đến trước phiên phúc thẩm này, ông vẫn chưa được nhận bản án sơ thẩm. (…)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.