Lạm phát ở Việt Nam có gì đặc biệt

Posted: October 28, 2013 in Uncategorized
Tags:

Thái Bình (BVN) – Lạm phát về kinh tế – Lạm phát Thứ trưởng – Lạm phát Tướng – Lạm phát thủy điện, lạm phát khu đô thị và khu công nghiệp, lạm phát sân gôn…

(Xem thêm: Khi ngành nào cũng tự hào lớn mạnh + Khốn khổ với “lũ thuỷ điện” + Khi kinh tế nhà nước 'thay tên tráo họ' + Vô địch chuyển giá, trắng trợn hơn cả Keangnam + Người tiêu dùng… kiệt sức: Ăn chưa đủ lấy gì mua sắm! + Cẩn trọng với… mì ăn liền) …

1/Lạm phát về kinh tế:

Nền kinh tế Việt Nam từ năm 2007-2012 lạm phát với tốc độ phi mã.Lạm phát đáng lo ngại đã trở thành căn bệnh trầm kha, nguyên nhân có nhiều khách quan có chủ quan có, nhưng nếu những nhà điều hành vĩ mô biết lường được khó khăn từ bên ngoài không nóng vội duy ý chí lấy chỉ tiêu tăng trưởng GDP cao làm động lực và hình như tăng trưởng bằng mọi giá.Điều này được minh chứng bằng báo cáo của người đứng đầu Chính phủ tại phiên khai mạc kỳ họp Quốc hội thứ VI vừa qua.Theo báo cáo của người đứng đầu Chính phủ

Tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán bình quân giai đoạn 2006 – 2010 là trên 30%/năm giảm còn 12,5% năm 2011 và 22,5% năm 2012; 10,53% trong 9 tháng đầu năm 2013, ước cả năm khoảng 16%. Tốc độ tăng tổng dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế bình quân giai đoạn 2006 – 2010 là 33,3%/năm, giảm còn 14,45% năm 2011 và 8,85% năm 2012; 6,82% trong 9 tháng đầu năm 2013, ước cả năm khoảng 12%.

Trong giai đoạn 2008 – 2010, với tổng mức đầu tư toàn xã hội/GDP bình quân 38,6%/năm, mức tăng trưởng GDP bình quân đạt 6,1%/năm; giai đoạn 2011 – 2013 với tổng mức đầu tư toàn xã hội/GDP bình quân giảm còn khoảng 31%/năm, giảm 7,6% so với giai đoạn 2008 – 2010.

Tốc độ tăng trưởng tín dụng bình quân giai đoạn 2006 – 2010 là 33,3%/năm, nhưng năm cao năm thấp có năm tới 40%, tổng mức đầu tư toàn xã hội/GDP bình quân cực cao gần 40%/năm,với dòng vốn khủng như vậy đổ ra thị trường nó là nguyên nhân để đẩy chỉ số CPI giai đoạn này phi mã có năm tăng cao tới gần 20%(năm 2008 là 19,9%,năm 2011 là 18,58%), lượng tiền cung ra cũng như lượng vốn đầu tư quá lớn khiến thị trường bất động sản rất nóng giá cả bất động sản leo thang hàng ngày là nguyên nhân vỡ bong bóng bất động sản từ năm 2011 đến nay, khiến thị trường bất động sản choáng váng nhiều doanh nghiệp phá sản kéo theo nợ xấu tăng vọt, thị trường chứng khoán biến động thất thường và tụt giốc thảm hại.

Để có lượng lớn tiền cung ra thị trường, trong lúc thu từ ngân sách không đáp ứng được nhu cầu chi tiêu Chính phủ phải ngoài việc móc túi dân lần 2 (lần 1 là thuế phí các loại) là bội chi ngân sách ở mức cao còn phải ăn mày tương lai (vay) để đầu tư đẩy nợ công lên mức báo động. Trong báo cáo trình trước Quốc hội kỳ họp thứ 6 vừa qua Thủ tướng vẫn khẳng định nợ công của ta ở mức an toàn, nhưng rất nhiều Nghị sỹ khẳng định nợ công đã ở mức báo động vì ta đã phải đi vay để đáo nợ, tức là không có khả năng trả nợ đúng hạn, nếu không đi vay để đáo nợ thì vỡ nợ.

2/Lạm phát Thứ trưởng:

Theo quy định thì mỗi Bộ có tối đa 4 Thứ trưởng, nhưng dư luận và báo chí đưa tin có 11 Thứ trưởng trong một bộ, Bộ trưởng nội vụ sau đó xác nhận con số tối đa là 9 Thứ trưởng trong một bộ. Không biết báo chí đúng hay Bộ trưởng nội vụ đúng, nhưng ta hãy tin ông Bộ trưởng nội vụ xác nhận 9 thứ trưởng trong một bộ đã là con số khủng vì nó hơn gấp đôi quy định vậy ai là người tham mưu đề nghị bổ nhiệm, ai là người ký Quyết định bổ nhiệm, trách nhiệm của họ ra sao, họ vô can?

Điều đáng nói số quan lớn nhiều nhưng công việc rất bê trễ. Ta hãy điểm một số lĩnh vực như; xảy ra rất nhiều vụ tai nạn giao thông, có rất nhiều vụ đặc biệt nghiêm trọng gây thiệt hại lớn về người và của. Chất lượng công trình xây dựng, công trình giao thông quá kém nhiều công trình vừa đưa vào sử dụng đã hỏng nặng. Trong an toàn vệ sinh thực phẩm nạn dùng nguyên liệu để chế biến thức ăn không đủ tiêu chuẩn vệ sinh, ngâm tẩm hóa chất không thể kiểm soát, hàng giả hàng nhái tràn lan. Về y tế nhiều trẻ em sau khi tiêm phòng đã chết, nhiều sản phụ khi sinh mất cả mẹ cả con không rõ nguyên nhân, quá tải bệnh viện, thuốc giá cao, thuốc giả trà trộn, thẩm mỹ viện chết người vứt xác phi tang, y đức thoái hóa. Kinh tế thì lạm phát phi mã giá cả tăng vọt làm cho đời sống đại bộ phận dân chúng lâm cảnh khốn khó; đạo đức tụt dốc, tệ nạn xã hội phát triển, rất nhiều vụ án nghiêm trọng xảy ra điều đáng lo ngại đối tượng phạm trọng tội là vị thành niên ngày càng tăng.

…vv…vv…

3/Lạm phát Tướng

Thời bình rồi mà số sỹ quan cấp tướng trong quân đội và công an gấp nhiều lần thời chiến tranh. Thời chiến tranh chỉ cấp Thứ trưởng và Quân khu cùng các quân đoàn, một vài Tổng cục có sĩ quan cấp tướng, sau đến hai thành phố lớn HN và TPHCM có cấp tướng. Nay phải nói hiện tượng lạm phát về tướng rất lớn, có thể nói ra ngõ gặp tướng, nay các Cục của Bộ Quốc phòng và Bộ Công an rất nhiều tướng, nhiều giám đốc công an các tỉnh và tỉnh đội trưởng là cấp tướng…

Có năm Thủ tướng chính phủ phong mấy chục tướng một lần cho Quân đội và công an.Theo thông kê chưa đầy đủ các năm vừa qua số cấp tướng được phong như sau:

-Ngày 17/9/2008, Thủ tướng Chính phủ đã ký các Quyết định thăng quân hàm cấp tướng và bổ nhiệm chức vụ cho 49 sĩ quan cao cấp thuộc Bộ Quốc phòng.

-Ngày 16/12/2011, tại Hà Nội, Thượng tướng Trần Đại Quang – Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Đảng ủy Công an Trung ương, Bộ trưởng Bộ Công an đã chủ trì lễ công bố quyết định của Thủ tướng Chính phủ thăng hàm cấp tướng năm 2011 cho 58 sĩ quan cao cấp Công an Nhân dân.

Theo quyết định này, 7 sĩ quan cấp thiếu tướng được thăng cấp bậc hàm lên trung tướng; 51 sĩ quan từ cấp đại tá lên thiếu tướng.

-Ngày 24/12/2012, Bộ Công an Việt Nam đã làm lễ công bố quyết định của Thủ tướng Chính phủ cho 48 sĩ quan cấp lãnh đạo trong ngành công an lên nhận hàm cấp tướng.

Số sĩ quan cấp tướng nhiều như thế nhưng tình hình an ninh chính trị, trật tự xã hội và toàn vẹn lãnh thổ luôn bất ổn.

Lạm phát hàng chục cán bộ cấp Thứ trưởng và hàng trăm sỹ quan cấp tướng không những công việc không trôi chảy mà hậu quả rất nặng nề ngoài lương cao trả hàng tháng còn thêm xăng xe, văn phòng làm việc, thư ký phục vụ, đi lại, thăm quan học tập làm việc nước ngoài… thêm tham nhũng, và sau này nghỉ hưu đối tượng này lương hưu rất cao tất cả trăm dâu đổ đầu tằm làm bội chi ngân sách phải tăng thuế đổ lên đầu dân và doanh nghiệp.

4/Lạm phát thủy điện, lạm phát khu đô thị và khu công nghiệp, lạm phát sân gôn…

Nguyên nhân của những bất cập trên là gì? Tại sao các nước chỉ có lạm phát kinh tế còn Việt Nam ta mọi thứ đều có thể.Theo nhận định của nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An là “lỗi hệ thống”, người viết cho rằng nguyên nhân trực tiếp là năng lực và quan đức yếu kém.

Khi ngành nào cũng tự hào lớn mạnh
Trần Kinh Nghị (Bách Việt) – Nhân ngày thành lập Ủy ban Kiểm tra trung ương (của Đảng)-16/10/1948-16/10/2013, các vị lãnh đạo và phương tiện thông tin đại chúng đồng loạt ca ngợi sự "trưởng thành vượt bậc" về số lượng và chất lượng của ngành Kiểm tra. Mới nghe thật phấn khởi, nhất là người trong ngành rất đỗi tự hào. Sao không (?), nếu biết khi mới thành lập chỉ có 3 biên chế đến nay đã có hơn 6.000 cán bộ chuyên trách từ cấp quận, huyện trở lên và hơn 65.000 cán bộ kiểm tra kiêm chức, tức là tăng hơn chục vạn lần. Nội dung công việc tất nhiên là rất lớn, nhưng vẫn chưa đáp ứng nhu cầu… vì tình trạng sai phạm ngày càng nhiều và nghiêm trong hơn bởi chính đội ngũ công chức ngày càng phình to.

Trên đây là một trong hàng vạn trường hợp cho thấy cách nhìn và đánh giá vế sự "lớn mạnh" vốn rất phổ biến ở nước ta. Phải chăng đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng bất khả thi (nếu không nói là "bất lực") trong cái gọi là "cải cách hành chính" tại đất nước này? Ca ngợi và tự hào như thế có khác nào khuyến khích việc tăng cường biên chế vô tội vạ bất chấp tình trạng mất cân đối nghiêm trọng cơ cấu dân số và ngân sách quốc gia ( Được biết Việt Nam hiện có gần 90 triệu dân nhưng có tới 25 triệu người "làm công ăn lương" nếu kể các công ty nhà nước và lực lượng vũ trang). Có lẽ chỉ Việt Nam mới 2 bộ máy với đầy đủ các cơ quan, ban ngành ngang dọc, đó là Đảng và Nhà nước. Trong khi đại đa số nước trên thế giới chỉ có 1 nguyên thủ quốc gia thì Việt Nam có tới 4 vị cùng tương đương "nguyên thủ quốc gia", đó là là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng và Chủ tịch Quốc hội, tạo thành một "cơ chế" chồng chéo rườm rà kém hiệu quả. Vị nào cũng có quyền ký kết các văn kiện hợp tác với nước ngoài nhưng phần thực hiện là "của chung". Khi đi thăm nước ngoài vị nào cũng sử dụng chuyên cơ với đoàn tùy tùng hùng hậu; khi đón một nguyên thủ nước ngoài thì cả bốn vị đều tham gia như kiểu "bốn chọi một"…!

Thử nhẩm tính xem cần bao nhiêu tiền và lấy đâu ra cho đủ để trả lương cho đội ngũ công chức đông đảo như vậy(?) Và cũng rất khó mỗi khi ngồi lại bàn xem nên "cắt giảm" ai, vị trí chức vụ nào, v.v…. Có lẽ đây là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng nhùng nhằng tắc tị của chủ trương cắt giảm biên chế đã có từ ngót nửa thế kỷ nay; càng hô hào cắt giảm thì nó càng phình to.

Khốn khổ với “lũ thuỷ điện”
Dân Việt – Theo dự kiến, ngày 30.10 tới, Chính phủ sẽ báo cáo trước Quốc hội quy hoạch tổng thể về thủy điện. Đây là vấn đề đang được dư luận hết sức quan tâm, bởi đằng sau sự phát triển ồ ạt của các dự án thủy điện là những hệ lụy mà người dân phải đau đớn gánh chịu.

Thủy điện xả lũ kèm lũ thiên nhiên làm cho người dân
và nông nghiệp tại huyện Đại Lộc bị thiệt hại nặng.

Khi thuỷ điện “chơi lén” (…)
“Giữ thì giữ, thích xả thì xả” (…)

Những năm gần đây, thuỷ điện luôn là nỗi lo thường trực của người dân. Nắng thì lo thuỷ điện tích nước, làm cho hạn càng hạn hơn; mưa thì lo thuỷ điện xả lũ để lũ chồng lên lũ.

Khi kinh tế nhà nước 'thay tên tráo họ'
TS. Võ Trí Hảo (VNN) – Khi không thể biện minh bằng tính ưu việt và phi thị trường của các DNNN sau các scandal như Vinashin, Vinalines…, người ta lại gán cho "kinh tế nhà nước" nghĩa mới.

Các vụ scandal lâu nay như Vinashin, Vinalines… đã được mổ xẻ kỹ càng
Từ khi Hiến pháp năm1959 hiến định "vai trò chủ đạo" của kinh tế quốc doanh (về sau đổi thành kinh tế nhà nước – KTNN) đến nay, tuy chưa có một định nghĩa pháp lý nào về KTNN, nhưng người dân luôn hiểu khái niệm này khi đặt bên cạnh khái niệm kinh tế tư nhân (KTTN).

Theo cách hiểu lâu nay, những hoạt động nhà nước sử dụng các công cụ điều tiết nền kinh tế như thuế, lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước, các quỹ hưu trí, quỹ bảo hiểm, quỹ bình ổn giá, quỹ trả nợ nước ngoài… mà không nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận thì không được hiểu là KTNN. Vì vậy những thiết chế này đứng độc lập, không mang ra so sánh, đặt cạnh kinh tế tư nhân.

Khi đặt thành phần KTNN bên cạnh thành phần KTTN, người dân hiểu rằng KTNN chỉ bao gồm các thiết chế hoạt động hoạch toán theo quy chế của một doanh nghiệp, mà chủ yếu là doanh nghiệp nhà nước và các tổ chức khác mà nhà nước góp vốn nhằm mục đích kinh doanh. Các báo cáo hay thống kê sự đóng góp của các thành phần kinh tế tại Việt Nam cũng dựa vào cách hiểu đó.

Tuy nhiên, cách hiểu này, gần đây đang bị thay đổi.

Trước sự bê bối của các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) trong hai thập niên vừa qua, cũng như trước áp lực phải tuân theo luật chơi chung của các điều ước quốc tế mà VN là thành viên, có nhiều ý kiến cho rằng, Hiến pháp không nên quy định vai trò chủ đạo cho bất kỳ thành phần kinh tế nào. Thay vào đó, hãy để sức mạnh tự nhiên của mỗi thành phần kinh tế xác lập vị trí của mình trong thị trường.

Ý kiến này, đụng chạm đến các nhóm lợi ích, vốn đang được hưởng các ưu tiên, ưu đãi dành riêng cho DNNN và ngay lập tức nhận được phản ứng.

Khi không thể biện minh bằng tính ưu việt và phi thị trường của các DNNN với các vụ scandal vốn đã được mổ xẻ kỹ càng lâu nay như Vinashin, Vinalines… thì "kinh tế nhà nước" lại được gán thêm một hàm nghĩa mới, không có trong cách hiểu truyền thống.

Theo cách hiểu mới này, người ta đánh đồng DNNN (với chức năng kinh doanh) với các thiết chế điều tiết nền kinh tế của nhà nước (không có nhiệm vụ tạo ra lợi nhuận), các quỹ… có nguồn gốc từ ngân sách của nhà nước.

Rõ ràng, các thiết chế điều tiết nền kinh tế sử dụng công cụ là quyền lực nhà nước, bao gồm quyền lực hành chính, chứ không dùng sức mạnh tự nhiên của thị trường để tác động vào nền kinh tế, nên ở đâu trên thế giới nó cũng đóng vai trò "chủ đạo" (theo nghĩa điều phối). Nhưng không ai đặt nó bên cạnh kinh tế tư nhân và dĩ nhiên không đặt ra vấn đề liệu nó có cạnh tranh bình đẳng với thành phần kinh tế tư nhân hay không.

Tìm cách duy trì đặc quyền cho DNNN, đã xuất hiện một số quan điểm gần đây gộp sự bê bối của một số DNNN và sự cần thiết của các công cụ điều tiết nền kinh tế vào chung trong một khái niệm mới "kinh tế nhà nước", để chứng minh sự cần thiết của "vai trò chủ đạo". Cách "bẻ lái" và thay đổi như vậy đã làm người đọc suy nghĩ: có vẻ như, người ta coi trọng tài cũng là một cầu thủ trong sân bóng?

Nếu muốn duy trì "kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo", cần xác định rõ ngay từ trong Hiến pháp: Kinh tế nhà nước bao gồm những thiết chế nào? Chủ đạo là điều phối, hay sở hữu lớn nhất, hay đóng góp GDP và lợi nhuận lớn nhất? Và đặc biệt cần làm rõ câu chuyện: khi trong một sân chơi, đã có một thành phần được ưu tiên chủ đạo thì làm cách nào để duy trì bình đẳng?

Vô địch chuyển giá, trắng trợn hơn cả Keangnam
Phạm Huyền (VNN) – Một dây chuyền máy móc cũ kỹ có giá thực chỉ 400.000 USD, ông lớn nước ngoài đưa vào Việt Nam nâng khống lên tận 40 lần thành 16 triệu USD. Chiêu chuyển giá này còn trắng trợn hơn cả phi vụ chuyển giá ngàn tỷ của Keangnam Vina.

20 năm báo lỗ, vẫn không ngừng tăng trưởng

Không nổi tiếng đình đám, dính nhiều scandal như Keangnam Vina nhưng các chuyên gia kinh tế coi đại gia FDI dưới đây vượt mặt gấp bội về mức độ chuyển giá. Tập đoàn bất động sản xứ Hàn chỉ mới có 5 năm báo lỗ thì ông lớn Liên doanh Malaysia- Đài Loan- British Virgin Island này đã có thâm niên báo lỗ ở Việt Nam tới gần 20 năm.

Nếu như giá vốn xây dựng của Tập đoàn Keangnam Vina bị nâng khống thêm gần 1/5 lần so với giá vốn thực thì ở vụ việc của doanh nghiệp FDI này, tỷ lệ nâng không lên giá vốn lên tới 40 lần.

Tổng giá trị bị điều chỉnh sau thanh tra đối với doanh nghiệp này ngang ngửa vụ Keangnam Vina, xấp xỉ 70 triệu USD.

Đặc biệt, công ty này đã hô biến trên sổ sách từ dây chuyền máy móc chỉ đáng tầm… phế thải thành hàng xịn. Từ đó, nâng khống giá nhập rồi lại lấy cớ không dùng đến, đem thanh lý với giá rẻ mạt. Không chỉ vi phạm về thuế, hành vi của công ty còn kéo theo hệ lụy về môi trường cho Việt Nam. Đó là câu chuyện của công ty Hualon Corporation, vốn 100% vốn từ Malaysia, Đài Loan-British Virgin Island, hiện đang hoạt động tại Khu Công Nghiệp Nhơn Trạch 2 (Nhơn Trạch, Đồng Nai) chuyên về sản xuất sợi và dệt vải. (…)

Người tiêu dùng… kiệt sức: Ăn chưa đủ lấy gì mua sắm!
(NLĐ) – Người tiêu dùng chỉ rộng tay mua sắm khi thu nhập dư dả trong khi hiện tại, lương tăng một thì giá tăng hai nên họ ngày càng hụt hơi, chỉ chi cho những khoản thật sự cần thiết. (…)

Kinh tế khó khăn, thu nhập giảm sút khiến người dân phải tằn tiện từng đồng trong chi tiêu Ảnh: Hồng Thúy
Cẩn trọng với… mì ăn liền
Nguyễn Duy (PetroTimes) – Với mức tiêu thụ 5,1 tỉ gói mì ăn liền trong năm 2012, Việt Nam là nước đứng thứ 4 trên thế giới sau Trung Quốc, Indonesia, Nhật Bản về tiêu thụ mì ăn liền. Tuy nhiên, với mức tiêu thụ mì ăn liền như vậy, một lo ngại đặt ra là sự ảnh hưởng tới sức khỏe khi ăn nhiều loại thực phẩm ăn ngay này của châu Á, nhất là khi Hiệp hội Người Tiêu dùng Penang, Malaysia mới đây vừa thông báo ăn nhiều mì ăn liền tăng nguy cơ đột quỵ cũng như suy thận, tăng huyết áp…

Với các nguyên liệu chính: bột mì, dầu ăn cùng một số gia vị tạo hương vị, bột ngọt, mì ăn liền chỉ là thực phẩm làm no dạ dày chứ không có giá trị nhiều về dinh dưỡng do rất ít chất xơ, vitamine, khoáng chất… trong thành phần của mì. Ở nhiều quốc gia “mì gói” thì còn coi đây là đồ ăn vặt, ăn “chơi”, không được đưa vào các bữa chính để tăng cường, bảo vệ sức khỏe cho con người. Mùa bão lũ, mì ăn liền đã là đồ cứu đói phổ biến nhất.

Theo tiêu chuẩn Codex của Tổ chức Nông lương thế giới (FAO), mì ăn liền được phép sử dụng các chất điều chỉnh axít, chất tăng cường hương vị, chất làm đông đặc, chất giữ ẩm, chất chống ôxy hóa, chất xử lý bột, hóa chất bảo quản… Tuy nhiên, trong đó đáng nói nhất là muối natri, là nguyên nhân chính làm cho mì ăn liền trở thành món ăn có hàm lượng natri cao. Và khi có hàm lượng Natri cao, mì ăn liền có thể gây tăng huyết áp, bệnh tim, đột quỵ, suy thận và một số vấn đề sức khỏe khác. Cũng chính bởi vậy mà các nhà y khoa đã khuyến cáo thậm chí chống chỉ định đối với những người cao huyết áp không được ăn nhiều thực phẩm giàu natri.

Hiệp hội Người tiêu dùng Penang cũng làm một cuộc kiểm tra trên 10 mẫu mì ăn liền thì phát hiện 3 mẫu trong đó chứa hơn 1.000mg natri, những mẫu còn lại chứa 830mg. Như vậy, nếu ăn mì ăn liền thường xuyên, lượng natri trong cơ thể sẽ tăng cao và chắc chắn nhiều hơn mức cho phép mà cơ quan y tế quốc tế đã đặt ra là 2.400mg natri/ngày cho người trưởng thành vì cùng với mì sẽ còn nhiều món ăn khác trong ngày có natri.

Không chỉ natri mà chất sáp có trong mì cũng gây tổn hại cho sức khỏe. Nếu để ý, bạn sẽ thấy sau khi đổ nước nóng vào bát mì, một lúc sau sáp sẽ nổi trên mặt nước. Hoặc nếu để bát mì nguội lạnh, một lớp sáp như váng mỡ nổi lên trên. Đây chính là chất propylene glycol, một hóa chất chống đông cũng như giữ ẩm, được FAO cho phép sử dụng 10.000mg/kg. Chất này, trong quá trình sản xuất sẽ được “bao” lấy sợi mì để sợi mì không “đóng bánh” lại khi đổ nước nóng vào. Tuy nhiên, lợi bất cập hại ở chỗ khi làm cho sợi mì không đóng bánh (dù với hàm lượng nào) thì chất sáp lại khiến sức khỏe của con người bị ảnh hưởng do chất propylene glycol dễ dàng được hấp thụ và tích tụ trong tim, gan, thận gây những bất thường và tổn thương. Đặc biệt nó còn làm suy giảm hệ thống miễn dịch ở người.

Cùng với chất sáp, natri, dầu ăn hoặc mỡ dùng để chiên mì cũng là nỗi lo ngại của người tiêu dùng. Bởi nếu dầu ăn đó được tái sử dụng nhiều lần sẽ sinh ra các chất độc hại, ảnh hưởng nghiêm trọng không chỉ đến sức khỏe mà còn đến tính mạng của con người. Theo lý giải của các bác sĩ chuyên khoa, khi nhiệt độ cao, vitamin A, E và một số chất dinh dưỡng trong dầu (mỡ) bị phá hủy gần hết, thậm chí sinh ra các độc tố. Cụ thể, ở nhiệt độ 180oC, dầu ăn sẽ có các phản ứng hóa học để rồi sinh ra chất aldehyde, fatty acid oxide… Các chất này khi vào cơ thể cùng thức ăn sẽ phá hoại các men tiêu hóa, phát sinh các triệu chứng đau đầu, chóng mặt, buồn nôn, nhịp tim chậm, huyết áp tăng cao, tiêu chảy… Nếu sử dụng đi sử dụng lại nhiều lần các chất độc tố trên càng sinh ra với hàm lượng nhiều hơn, gây bệnh ung thư và “cướp” đi tính mạng của thực khách.

Thực ra, đến nay chưa ai chứng minh được mì ăn liền có được chế biến bằng dầu ăn tái sử dụng nhiều lần hay không. Thế nhưng đã có những nghi ngờ, quan ngại từ phía không chỉ người sử dụng mà ngay cả các nhà quản lý cho nên việc đưa ra cảnh báo sử dụng mì ăn liền chế biến bằng dầu ăn tái chế cũng không thừa đối với người tiêu dùng.

Vậy có nên tiếp tục ăn mì ăn liền hay không? Theo Tổ chức Y tế thế giới, đối với những căn bệnh ung thư có liên quan “từ miệng mà vào” thì nếu thực hiện một chế độ ăn uống lành mạnh, ăn những thức ăn có ít nguy cơ gây bệnh, người tiêu dùng sẽ ngăn ngừa ít nhất được 30% tất cả các bệnh ung thư. Cho nên đối với mì ăn liền, chỉ nên ăn chừng mực, hạn chế nhất định, chỉ trong trường hợp “bất khả kháng” mới ăn mà thôi.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.