Sự không tưởng của thuyết CNXH

Posted: October 31, 2013 in Uncategorized
Tags:

Mặc Lâm (RFA) – Chủ nghĩa xã hội và những mảng lý luận khác của đảng cộng sản Việt Nam được nhiều nhà phân tích cho là đang trong cơn khủng hoảng. Có nhà lý luận còn quả quyết Chủ nghĩa xã hội đã phá sản từ lâu nhưng Việt Nam vẫn lên tiếng bảo vệ nó như bảo vệ quyền lực của giới lãnh đạo.

(Xem thêm: Câu Chuyện Sử Dụng Tiền chùa – Bài Toán 5000 Tỷ Đồng + Từ 'Ngôi sao Việt Nam' đến 'Vì sao, Việt Nam'?) …


Pano tuyên truyền cho ĐCS tại Hà Nội hôm 17/1/2013 – AFP photo
Trong một bài viết mới dây trên Tạp Chí Cộng sản, Nhị Lê đã nhắc lại nguyên lý không thay đổi của Đảng: “Càng đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước càng phải xây dựng đội ngũ giai cấp công nhân Việt Nam vững mạnh toàn diện và chúng ta càng phải nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam”.

Thế nhưng đội ngũ giai cấp công nhân ấy sau bao nhiên năm chịu sự lãnh đạo của đảng không hề có một chút gì thay đổi so với trước, khác chăng là người công nhân không bị sự kềm cặp của những tay cặp rằn của thời Pháp thuộc để thay vào đó là những quản đốc hay giám thị nước ngoài trong các khu công nghiệp của thời kỳ đổi mới. Điều quan trọng và cần thiết nhất cho giai cấp công nhân là hệ thống công đoàn độc lập do họ lập nên lại không hề xuất hiện tại Việt Nam.

Bài viết trong Tạp chí Cộng sản này có đoạn: “Khép lại thế kỷ XX, dưới ngọn cờ của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, cách mạng nước ta đã thu được những thành quả to lớn, có ý nghĩa lịch sử trọng đại trên bình diện dân tộc và quốc tế, không ai và không gì có thể phủ nhận nổi.”

Trên bình diện dân tộc, dù là người yêu đảng nhất cũng không thấy được điều gì mà chủ nghĩa xã hội mang lại tại Việt Nam từ khi theo chân Liên Xô theo đuôi chủ nghĩa này như theo đuôi một phong trào, một lý thuyết. Trên bình diện quốc tế lại càng là một con số không tròn trĩnh vì Việt Nam luôn tự phủ định chủ nghĩa xã hội đối với quốc tế khi liên tục khẩn khoản yêu cầu họ thừa nhận Việt Nam là một nước có nền kinh tế thị trường.

Kinh tế thị trường, khắc tinh của CNXH

Đối với Karl Marx chủ nghĩa xã hội là một hệ thống kinh tế-xã hội chuyển quyền điều khiển các phương tiện sản xuất từ tay của một số ít của dân chúng sang tay tập thể qua một cuộc cách mạng để dành lấy quyền hành từ một chế độ tư bản hay quân chủ, phong kiến.

Ấn tượng về mô hình phát triển kinh tế xã hội chủ nghĩa do Liên Xô chủ đạo đã thúc đẩy Việt Nam thực hiện một nền kinh tế tập trung cho phép nhà nước nắm tất cả quyền sản xuất lẫn phương tiện sản xuất. Nền kinh tế tập trung tuy sau đó được cải tổ thành kinh tế thị trường nhưng phương tiện sản xuất như đất đai vẫn nằm trong tay nhà nước.

Sau nhiều năm sống chung với khẩu hiệu và kiên trì với mục tiêu chủ nghĩa xã hội, mới đây Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu: “Đổi mới chỉ là một giai đoạn, còn xây dựng chủ nghĩa xã hội còn lâu dài lắm. Đến hết thế kỷ này không biết đã có chủ nghĩa xã hội hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa”.

Đại tá Phạm Xuân Phương, người nhiều năm công tác trong Cục chính trị của Quân đội Nhân dân Việt Nam trả lời câu hỏi tại sao Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng vẫn luôn khẳng định là Việt Nam không thay đổi mục tiêu tiến tới chủ nghĩa xã hội mặc dù nhìn nhận con đường của nó là mịt mùng không có điểm đến:

“Cơ bản ông ấy không đủ khả năng đề ông ấy hiều nhưng bên cạnh ấy nó cũng là quyền lợi. Ông ta ngu dốt lại hưởng tất cả mọi quyền lợi thì việc gì mà thay đổi trong khi ông ta lại đang làm vua ở xứ sở này. Những cái đó nó quan hệ với nhau nó tạo ra những mối rang buộc và cú như thế mà ông ta hót. Trí thức Việt Nam kể cả những người bảo hoàng nhất người ta cũng không thể nào nghe và chấp nhận việc ổng nói nữa.”

Đường đi không đến

Nhà văn Xuân Vũ có một cái tựa rất hay cho một trong những tác phẩm của ông, đó là “Đường đi không đến”. Tựa cuốn hồi ký này thật thích hợp với câu nói của ông Tổng bí thư trong thời gian hiện tại mặc dù hai sự việc xảy ra cách nhau đúng 40 năm.

Giáo sư Đặng Phong, một chuyên gia kinh tế chính trị của Đại học Kinh tế Quốc dân một lần trước khi tạ thế đã nói với chúng tôi về vấn đề này, ông giải thích tại sao lãnh đạo Việt Nam vẫn khư khư ôm cái lý thuyết tuy hay nhưng đã phá sản là chủ nghĩa xã hội:

“Xã hội chủ nghĩa là sự vớt vát thuộc quá khứ mà mình không thể chấp nhận nó nữa nhưng mình không thể thẳng thắn tuyên bố giã từ nó cho nên dùng một chữ rất mơ hồ chung chung như vậy. Bây giờ mà mải mê đi tìm xã hội chủ nghĩa thì không bao giờ tìm thấy giá trị thật của nó đâu. Cái nội dung thật của nó là cái gì thì không tìm thấy đâu. Nó là một món nợ của lịch sử. Người Việt Nam chưa bao giờ xây dựng chủ nghĩa xã hội như Liên Xô nhưng Việt Nam đã đi theo con đường đó mà ngày nay chưa ai dám thẳng thắn tuyên bố rằng con đường đó là sai lầm bởi vì tuyên bố như thế rất nguy hiểm về mặt tâm lý xã hội.”

Người quan tâm đến sự vận động của hệ thống chính trị tại Việt Nam vẫn kỳ vọng một thay đổi có tính cốt lõi là nhìn nhận sự vô nghĩa của chủ nghĩa xã hội để đất nước có cơ hội khẳng định và hòa nhập vào dòng chảy quốc tế. Tuy nhiên kỳ vọng này theo đại tá Phạm Xuân Phương khó được ông Tổng Bí thư chấp nhận:

“Cái gốc chính là ông ta không có khả năng để thay đổi. Không khả năng quan sát để nhận thức hiện thực trong khi thế giới nó đã khác rồi. Mọi người đã thấy khác nhưng ông ta thì không bao giờ thấy khác. Vẫn cứ nhìn xã hội Việt Nam, nhìn chung quang khu vực, nhìn thế giới như những năm 60. Vì vậy ông ta cứ tiếp tục hò hét Chủ nghĩa xã hội vẫn là mùa xuân nhân loại, vẫn là chủ nghĩa tư bản đang dãy chết, khó khăn của cách mạng Việt Nam chỉ là tạm thời…những luận điểm từ những năm trước đây bất kỳ một người nào ở trường lý luận ở trình độ sơ cấp người ta cũng biết được điều đó mà ông Trọng ổng lại mang trình độ sơ cấp ra ông ấy làm.”

Và Giáo sư Đặng Phong nhận xét:

“Thế bây giờ đang đi theo cái mô hình đó của Liên Xô mà thừa nhận mô hình đó là thất bại là sai lầm, đổ bể thì nó sẽ ảnh hưởng đến tâm lý của con người toàn xã hội. Nó ảnh hưởng đến cả vị trí của bộ máy nhà nước nữa cho nên người ta vẫn phải giữ lại như một cái mục tiêu và có thể cái mục tiêu đó không biết bao giờ tới nơi nhưng không bỏ được.”

Nhiều đảng viên cao cấp và kỳ cựu không còn thiết tha chú ý tới những lý luận hay nghị quyết mà đảng đưa ra trong các kỳ đại hội nữa là điều hiện đang trở thành phổ biến. Khi niềm tin của họ bị coi thường thậm chí lạm dụng thì mọi tuyên bố dù của cấp nào cũng chỉ nhằm mục đích giữ chắc cái ghế mà họ đang ngồi. Đại tá Phạm Đình Trọng, nhà văn, nhà báo của tờ Văn Nghệ Quân Đội cho biết sự thật này:

“Những cái phát biểu, bàn luận hay lý luận của họ càng ngày càng lạc hậu thụt lại quá xa cuộc sống. Thí dụ như cái câu ông Nguyễn Phú Trọng nói rằng “hiến pháp nó quan trọng sau cương lĩnh của đảng” thì nó lạc lỏng vô cùng. Điều này chỉ có thể nói được ở những năm 60 của thế kỷ trước. lúc mà chủ nghĩa cộng sản thế giới đang thắng thế thì người ta có thề bỏ qua nhưng đến bây giờ mà vẫn nói như thế thì thật là sai trái.”

Câu hỏi mà nhiều đảng viên đang đặt ra, khi lý luận và chủ thuyết đã phá sản, đảng sẽ chứng minh vai trò dẫn dắt toàn đảng toàn dân bằng phương pháp gì trong cái gọi là thực tiễn của xã hội hôm nay?

Với hơn 170 000 người chết oan sai buộc phải công nhận, biết bao nhiêu gia đình tan nát
Câu Chuyện Sử Dụng Tiền chùa – Bài Toán 5000 Tỷ Đồng
Wegreen VN (BuuDoan) – Khoảng 15.000 căn hộ 30m2 cho người thu nhập thấp, chừng đó đủ cho 1.000 ngôi trường cho các học sinh vùng núi khó khăn, đủ để trả lương của một doanh nghiệp 100.000 công nhân may mặc, phân phối cho 90 triệu người dân Việt Nam có một cuốn sách để đọc… Một con số không hề nhỏ, 4.800 tỷ, đó là dự toán ngân sách nhà nước nhằm chi cho các tổ chức đảng, hội, đoàn thuộc độc quyền quản lí của đảng CSVN. Con số này thuần túy là từ tiền thuế của dân, không bao gồm đảng phí hay các nguồn thu khác của đảng CSVN[1]

NHẬN DIỆN CON SỐ

Dự toán ngân sách năm 2013 trên trang web chính phủ [2]:
+ Chi cho Văn phòng TW đảng CSVN: 1.959 tỷ
+ Ủy ban TW MTTQ Việt Nam: 65 tỷ
+ TW Đoàn TNCS HCM: 365 tỷ
+ Hội Nông dân (343 tỷ), Hội LH phụ nữ (166 tỷ), Tổng LĐLĐ (281 tỷ), Liên minh HTX (123 tỷ)
+ Chi hỗ trợ các tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp (Hội nhà báo, Hội Nhà văn, Hội Luật gia,…): 504 tỷ.

Một khoản tiền lớn mà người dân è đầu cưỡi cổ gánh chịu, ngân sách cho văn phòng TW chiếm nhiều nhất với gần hai nghìn tỷ. Theo quyết định số 99-QĐ/TW, ngày 30-5-2012 của Ban Bí thư Trung ương Đảng thì các khoản chi hoàn toàn dành cho mục đích riêng: Chi mua báo, tạp chí, tài liệu (phục vụ các đảng viên), chi tổ chức đại hội Đảng, chi khen thưởng đối với tổ chức đảng và đảng viên, chi các hoạt động khác (tuyên truyền cho đảng, in ấn, phụ cấp…).

Trong khoảng ba nghìn tỉ còn lại chi cho các hội đoàn, mà thực chất hoàn toàn do Đảng chi phối.

Hội nhà văn Việt Nam không dễ bị phủ bác khi bị coi là tập hợp những cây văn nghệ “bồi bút” cho Đảng, tại điểm 3 Điều 2 điều lệ ghi rõ “Hội Nhà văn Việt Nam đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; Hội hoạt động theo đường lối văn hóa văn nghệ của Đảng; chịu sự quản lý của Nhà nước và tuân thủ theo quy định của pháp luật nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.[3]

Hội Luật gia Việt Nam có dám đứng ra bảo vệ cho luật sư của mình khi bày tỏ quan điểm chính trị khác biệt, hay chỉ là công cụ tước chứng chỉ hành nghề khi nhận chỉ thị. Ngay điều đầu tiên của quy chế điều lệ đã ghi “Hội Luật gia Việt Nam đoàn kết, tập hợp rộng rãi […], dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam”. [4]

THAM NHŨNG

Việt Nam, đã và đang sống trong một giai đoạn dài của tâm lý tiền nhà nước là tiền chùa, người ta chỉ cố gắng đục khoét nó. Các tổ chức hội đoàn của Đảng không chịu sự giám sát của các cơ quan độc lập, vốn dĩ lâu nay, sai phạm, tham nhũng đều do một tay ban kiểm tra đảng và đảng ủy các cấp xử lí. Tuyệt nhiên chúng ta chưa thấy một sự kiện hình sự to tát nào về các khoản thu chi nội bộ. Có lẽ, Đảng muốn giữ thể diện cho mình, vốn lấy tiền của dân nên không dễ trưng ra ánh sáng rằng tôi đã làm bậy với nó.

Trong một báo cáo [5] ra hồi năm 2010, số tiền trong Đảng vi phạm lên đến 4,2 triệu USD cho cấp Trung Ương và 3 triệu USD cho cấp địa phương chỉ tính riêng cho 16 tổ chức hội đoàn. Cũng theo báo cáo này, có hai vạn đảng viên bị xử lí liên quan đến tài chính, nhưng không rõ gồm những ai và xử lí hình sự ra sao, bởi lẽ đó là bí mật của Đảng.

Một trong những cánh tay đắc lực khác, vốn được cho là dân chủ nhất, Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam, tham nhũng có lẽ là từ không thể thiếu một đợt lũ lên, bão tràn qua hoặc dịch bệnh hoành hoành. Chả thế, ở quê tôi, có lúc nói vui “Dân tan theo bão, mặt trận được mùa”. Hay như một cán bộ rất nhỏ thôi, Phó Chủ tịch MTTQ huyện Kỳ Anh trong hai năm ăn chặn tiền hỗ trợ làm nhà cho người dân nghèo diện chính sách đến cả trăm triệu [6].

Thực trạng này, chắc hẳn không chỉ xuất phát từ “sự hư hỏng của một bộ phận cán bộ đảng viên”, mà bởi cơ chế tài chính vốn không chịu trách nhiệm gì với dân.

XÃ HỘI DÂN SỰ

Trước hết, xã hội dân sự gồm nhiều tổ chức dân sự hoạt động dựa trên nguồn tài chính độc lập do sự đóng góp tình nguyện của các tổ chức, cá nhân. Vậy nên, trong xã hội dân sự, ngân sách nhà nước sẽ không phải gánh khoản chi phí năm nghìn tỷ/năm.

Lấy ví dụ, Đảng Cộng sản Anh (CPGB) khi còn hoạt động kiếm tiền rất khá bằng cách vận động cử tri, kinh doanh các mặt hàng lưu niệm, bán áo T-shirt để kiếm tiền nuôi đảng mà không hề được động đến một xu nào của ngân khố Vương Quốc Anh. Hay là, Đảng CS họ không không có quân đội và công an tuyệt đối trung thành nên họ hoạt động khác Đảng ta?

Thâm hụt ngân sách của chúng ta trong những năm qua luôn lớn, cớ sao chúng ta vẫn phải chấp nhận những khoản chi vô lí cho các tổ chức, hội đoàn vốn không do chúng ta bầu ra, không chắc chắn hoạt động theo mong muốn và lợi ích mà chúng ta?

Mỗi năm, chúng ta lại đón thêm hơn 1,5 triệu lao động, hầu hết là không thể sở hữu 30m2 để sinh hoạt. Bạn có thể hình dung, thờ ơ với tiền thuế chính mình.

Chú thích: (*) Con số trên chưa bao gồm ngân sách địa phương chi cho đảng, đoàn cơ sở.

Tài liệu tham khảo:

[1] Nghị quyết của Quốc hội khoá XIII số 32/2012/QH13 ngày 10 tháng 11 năm 2012 về dự toán ngân sách nhà nước năm 2013, Quyết định số 342-QĐ/TW ngày 28-12-2010 của Bộ Chính trị ban hành Quy định về chế độ đảng phí.
[2] http://www.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/solieungansachnhanuoc?categoryId=100002928
[3] http://thuvienphapluat.vn/archive/Quyet-dinh/Quyet-dinh-69-2005-QD-BNV-Dieu-le-Hoi-Nha-van-Viet-Nam-sua-doi-vb20953t17.aspx
[4] http://www.hoiluatgiavn.org.vn/content/view/58/86/
[5] http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2010/08/100812_vn_party_money.shtml
[6] http://danviet.vn/tieng-dan/ho-ngheo-bi-an-chantien-ho-trolam-nha/114542p1c36.htm

Từ 'Ngôi sao Việt Nam' đến 'Vì sao, Việt Nam'?
(VNN) – Vì sao từ một quốc gia nghèo đói, chỉ cần khoảng 30 năm, Nhật Bản, Hàn Quốc, ngay cả Trung Quốc, đã trở thành những quốc gia hưng thịnh hàng đầu thế giới, còn ta thì chưa?

"Tất cả thế giới là một sân khấu và mọi người phải tự sắm vai" – Shakespeare.[1]

LTS: Hôm nay, 31/10, Quốc hội bắt đầu thảo luận KTXH và tái cơ cấu nền kinh tế tại nghị trường. Để góp thêm tiếng nói với các chuyên gia kinh tế, Tuần Việt Nam giới thiệu góc nhìn của tác giả Ngô Đồng Thu.

Ngô Đồng Thu – Trước khi gia nhập WTO (11/1/2007) , Việt Nam được thế giới ca ngợi với những lời có cánh "con rồng", "con hổ" châu Á. Sau 6 năm, cùng với những thăng trầm của thế giới, dấu cảm thán (!) đã nhanh chóng biến thành dấu hỏi (?) và từ "Ngôi sao Việt Nam!" đã chuyển thành "Vì sao, Việt Nam?"

Trong cộng đồng đã có sự thay đổi nhanh đến chóng mặt về trạng thái: từ hồ hởi đến hoang mang chỉ trong một thời gian ngắn, theo một cách nào đó. Hàng loạt câu hỏi "vì sao" được đặt ra:

Vì sao Việt Nam khó phát triển? Vì sao kinh tế lâm vào khó khăn, trì trệ? Vì sao nông dân mất đất, đô thị bỏ hoang? Vì sao chất lượng giáo dục ngày càng giảm sút? Vì sao nợ xấu, vì sao tham nhũng, vì sao lãng phí, tha hóa vì sao?, v.v…

Và, vì sao từ một quốc gia nghèo đói, chỉ cần khoảng 30 năm, Nhật Bản, Hàn Quốc, ngay cả Trung Quốc, đã trở thành những quốc gia hưng thịnh hàng đầu thế giới, còn Việt Nam thì không?

Trước khi gia nhập WTO (11/1/2007) , Việt Nam được thế giới ca ngợi
với những lời có cánh "con rồng", "con hổ" châu Á. Ảnh minh họa


Quẩn quanh chiếu hẹp?

Những cải cách của chúng ta hiện nay gợi người viết nhớ đến nghệ thuật chèo. Đặc trưng của sân khấu chèo là tính ước lệ trong bài trí và hoạt cảnh, cứ bước lên một bước lại lùi 3 bước, đi đi lại lại cả buổi nhưng không ra khỏi cái chiếu rộng vài mét vuông, chỉ loanh quanh trong một chỗ.

Nền kinh tế của chúng ta sau một thời gian tăng trưởng nóng đang chững lại ở khúc quanh mà người ta hay nhắc đến là "bẫy thu nhập trung bình", hay nói cách khác là chưa "phát" mà đã "triển". Những khó khăn xuất hiện với tần suất ngắn hơn, quy mô ngày càng lớn hơn.

Trên thực tế các doanh nghiệp đang "lãn công", cả bốn động cơ của cỗ máy tăng trưởng kinh tế đang trục trặc: (1) doanh nghiệp nhà nước phổ biến tình trạng tham ô lãng phí, (2) doanh nghiệp FDI thì chuyển giá, (3) doanh nghiệp tư nhân thiếu cơ hội và động lực, (4) nông nghiệp bấp bênh, bất an,… [2]

Xã hội thì dường như mất dần đi cảm hứng làm việc, kinh doanh do những nỗ lực bất thành kéo dài, do sự bất bình đẳng về cơ hội, do quan liêu sách nhiễu, v.v… Các con số về tồn kho, tăng trưởng tín dụng và giải thể doanh nghiệp đã nói lên điều này.

Bên cạnh đó, các nhóm lợi ích, vì đặc quyền đặc lợi sẽ níu giữ cơ chế cũ, sẽ tìm mọi cách để biện minh, trì hoãn, né tránh mọi sự thay đổi.

Nếu những lời hứa hẹn, những quyết tâm, những tuyên bố không chuyển hóa thành những hành động thực tế, làm thay đổi thực trạng, thì chiếu chèo sẽ từ sân khấu bước ra ngoài đời.

Với một nền kinh tế kém hiệu quả, đến một lúc nào đó nhà nước mất cân bằng, thiếu nguồn thu để duy trì an sinh xã hội, lạm phát, nghèo đói sẽ quay trở lại, đây là một nguy cơ có thật, mà ngay cả những quốc gia hùng mạnh nhất cũng vấp phải.

Trên các diễn đàn, đâu đó nhiều người kêu gọi "đổi mới lần 2" hay cần có "khoán 10" tiếp theo; Nghị quyết Trung ương 4 cũng khẳng định tính cấp bách phải đổi mới từ trong Đảng.

Nhưng đổi mới cái gì, đổi mới như thế nào? Có vẻ như mọi cấp, mọi ngành đều đang lúng túng.

Đổi mới sau gần 3 thập kỷ

Nhớ lại công cuộc đổi mới được khởi xướng từ năm 1986, với loạt bài "Nói Và Làm" của tác giả Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh.

Khó khăn của những năm thập kỷ 80 của thế kỷ trước cũng có những nét tương đồng như hiện nay. Khi ấy nguyên nhân khách quan là Việt Nam bị bao vây cấm vận. Còn về chủ quan, chính sự duy ý chí về mô hình phát triển, duy trì những "hợp tác xã" cưỡng bức đã tạo ra sự khan hiếm lương thực.

"Đổi mới" của thời kỳ này, về bản chất là "cởi trói", có nghĩa là không bắt buộc phải theo kinh tế tập thể cưỡng bức; "khoán 10" đồng nghĩa với việc nhà nước không can thiệp vào tính tự chủ của nhân dân trong lao động.

Đổi mới từ dưới lên, phía trên không cản trở, không áp đặt. Kết quả là, chỉ sau 3 năm, năm 1989 Việt Nam đã xuất khẩu gạo 1, 37 triệu tấn, từ đó đến nay luôn đứng trong Top 3 thế giới.

Như vậy, nếu Đổi mới 1986 là giải phóng lao động theo lẽ tự nhiên, thì Đổi mới 2013 Việt Nam cần giải phóng cái gì?

Hiện nay, chúng ta vẫn loay hoay trong quá trình tìm hướng đổi mới từ trên xuống. Trong khi theo truyền thống nước ta, trong chiến tranh cũng như thời bình, đổi mới thường phải từ dưới lên (xuất phát từ thực tiễn – như khoán 10 trong nông nghiệp); Bao giờ cũng vậy, đầu tiên và cuối cùng là nhân dân quyết định thắng lợi.

Cái khó là giờ đây bối cảnh xã hội đã khác xưa nhiều.

Đổi mới 1986 với khẩu hiệu "Đổi mới hay là chết", toàn Đảng toàn dân đều nhìn cùng một hướng, đồng lòng, đồng tâm muốn thay đổi, cái phức tạp đã biến thành đơn giản. Còn "Đổi mới 2013", trong bối cảnh xuất hiện các nhóm lợi ích, nhân tâm bất an, cái đơn giản lại biến thành phức tạp, khó lường.

"Phải đấu tranh chống cái cũ, chống bảo thủ trì trệ, chống giáo điều rập khuôn, chống chủ quan nóng vội, chống tha hóa biến chất, chống những thói quen lỗi thời dai dẳng. Đây là cuộc đấu tranh cách mạng gian khổ diễn ra trên mọi lĩnh vực và trong bản thân từng người chúng ta"[3].

Bối cảnh đã khác đi, nhưng dường như sau gần 30 năm, những việc cần làm mà cố tổng bí thư đã nêu ở trên dường như vẫn đúng trong công cuộc đổi mới đầu thế kỷ 21.

Khơi dậy được cảm hứng cộng đồng, dựa vào nhân dân, chúng ta có thể khẳng định rằng đổi mới là không khó. Vì mỗi lần đổi mới, là một bước chúng ta lại gần hơn với thế giới và nhân loại.

Hãy nghe lại lời của tiền nhân: "What's in a name? That which we call a rose; By any name would smell as sweet." (Shakespeare's Romeo and Juliet, Act II, scene ii)

Tạm dịch: Có gì trong một cái tên? Khi đã là hoa hồng; Dù gọi bằng tên khác; Vẫn tỏa hương thơm dịu. (Kịch Shakespeare, vở Romeo and Juliet, Màn II, Cảnh ii)

[1] "All the world's a stage, And all the men and women merely players".

[2]: Khác với bài viết "Khơi thông những nút thắt thể chế để phục hồi tăng trưởng, do Havard Kennedy School và Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright thực hiện vào tháng 8/2013 chỉ nêu ra 3 trên 4 động lực có trục trặc.

[3] Trích theo Wikipedia

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.