Viện Khổng Tử và quyền lực mềm của Trung Quốc

Posted: November 7, 2013 in Uncategorized
Tags: ,

Nguyễn Hưng Quốc (VOA-blog) – Ở Việt Nam, trong suốt mấy tuần vừa qua, dư luận, ít nhất là trong giới trí thức, khá xôn xao về quyết định của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho phép thành lập Viện Khổng Tử tại trường Đại Học Hà Nội. Tất cả đều đồng thanh bày tỏ sự lo ngại và bất bình: Họ cho đó là dấu hiệu của cuộc xâm lược văn hóa, từ phía Trung Quốc, và của sự đầu hàng trước cuộc xâm lược ấy, từ phía Việt Nam.

(Xem thêm: Sợ sụp đổ, lãnh đạo Trung Quốc đọc sách về Liên Xô + Trung Quốc đổ xô bán đất để trả nợ hàng ngàn tỉ USD + 80% hàng lậu vào Việt Nam là hàng Trung Quốc + Xuất khẩu gạo Việt Nam đã phụ thuộc thị trường Trung Quốc + 5 cổng chào tiền tỷ trên 21 km đường) …


Trước khi bình luận, có mấy điều chúng ta cần lưu ý:

Thứ nhất, Viện Khổng Tử được chính phủ Trung Quốc thành lập vào tháng 6 năm 2004 với số tiền trên 500 triệu Mỹ kim, hiện nay đã có trên 400 cơ sở trên khoảng hơn 100 quốc gia (chưa kể khoảng 400 viện khác đang nằm trong dự án và cũng không tính các Lớp học Khổng Tử, Confucius Classrooms, thường là một bộ phận của Viện Khổng Tử, Confucius Institute, nhưng cũng có khi tồn tại riêng rẽ ở những nơi Viện Khổng Tử chưa được thành lập). Ở Mỹ có trên 70 viện; ở Anh, trên 20 viện; ở Úc, Đức, Pháp, Nga, Nhật, Hàn Quốc, Thái Lan, mỗi nước trên 10 viện; v.v..Về số lượng, các Viện Khổng Tử hiện nay đã gần ngang ngửa với Aliances Françaises của Pháp và bằng tổng số các trung tâm ngôn ngữ và văn hóa của cả ba học viện British Council của Anh, Instituto Cervantes của Tây Ban Nha, và Goethe-Institut của Đức cộng lại dù cả ba đều có một lịch sử khá lâu đời, trên nửa thế kỷ.

Về tốc độ, đó là học viện phát triển nhanh nhất trên thế giới.

Thứ hai, trên nguyên tắc, Viện Khổng Tử hoạt động với ba mục tiêu chính: Một, truyền bá tiếng Hoa (và chữ Hán theo lối giản thể được sử dụng tại Trung Quốc từ sau năm 1949); hai, truyền bá văn hóa Trung Quốc; và ba, thúc đẩy các chương trình hợp tác và trao đổi văn hóa giữa Trung Quốc và các nước. Đằng sau ba mục tiêu này là một mục tiêu khác, lớn và quan trọng hơn: Tuyên truyền cho hình ảnh một nước Trung Quốc có truyền thống văn hóa lâu đời, hiền lành, yêu chuộng hòa bình, không hề là một đe dọa đối với bất cứ một nước nào khác.

Nhìn vào các mục tiêu ở trên, Viện Khổng Tử không khác mấy với các học viện ngôn ngữ và văn hóa nổi tiếng trên thế giới, từ British Council của Anh, Aliances Françaises của Pháp, Instituto Cervantes của Tây Ban Nha, hay Goethe-Institut của Đức. Tất cả đều nhằm, qua việc dạy ngôn ngữ và văn hóa của nước mình, tạo sự thông cảm và thắt chặt các quan hệ quốc tế với các nước khác.

Tuy nhiên, trên thực tế, Viện Khổng Tử có nhiều đặc điểm khiến giới quan sát phải nghi ngờ và e ngại.

Một, Viện Khổng Tử không phải chỉ giới hạn trong lãnh vực ngôn ngữ hay văn hóa. Ví dụ tại Úc, Viện Khổng Tử tại trường Đại học RMIT dạy cả về Đông Y, tại trường Đại học Queensland dạy cả về khoa học kỹ thuật. Ở tất cả các nơi, khi dạy về ngôn ngữ và văn hóa, các bài giảng đều ít nhiều liên hệ đến chính trị của Trung Quốc hiện nay. Hơn nữa, theo nhiều nguồn tin, Viện Không Tử có những chính sách hoàn toàn mang màu sắc chính trị, ví dụ, về tuyển dụng nhân viên, họ cấm tuyệt đối những người từng tham gia vào Pháp Luân Công hoặc những tổ chức chống lại chính phủ Trung Quốc; về hoạt động, họ cũng cấm mời Đức Đà Lai Lạt Ma cũng như bất cứ một viên chức nào từ Tibet và Đài Loan đến nói chuyện ở các Viện Khổng Tử. Thậm chí cấm cả việc bàn luận về Tibet trong viện.

Hai, cấu trúc của các Viện Khổng Tử cũng khá đặc biệt: Bao giờ nó cũng có hai giám đốc, một là người địa phương và một là người từ Trung Quốc sang. Theo Michael Kahn-Ackermann, cựu giám đốc của Viện Goethe, đó chính là điểm khác biệt lớn giữa Viện Khổng Tử so với tất cả các học viện về ngôn ngữ và văn hóa khác trên thế giới.

Ba, về phương diện tổ chức, một mặt, trong khi các học viện về ngôn ngữ và văn hóa khác khá độc lập với chính phủ, Viện Khổng Tử hoàn toàn nằm trong tay chính phủ Trung Quốc; mặt khác, trong khi các học viện khác tồn tại như một cơ sở giáo dục hay văn hóa độc lập ở ngoại quốc, Viện Khổng Tử bao giờ cũng liên kết và nằm TRONG một trường đại học hoặc trung học nào đó ở địa phương. Ví dụ, ở Việt Nam, sắp tới, Viện Khổng Tử sẽ nằm trong hệ thống Đại học Hà Nội. Ở các nước khác cũng vậy. Có điều, tuy là một bộ phận của các cơ sở giáo dục địa phương, khoảng một nửa ngân sách và phần lớn giáo viên cũng như toàn bộ tài liệu giảng dạy lại do chính phủ Trung Quốc cung cấp.

Chính điều này gợi lên nhiều nghi ngại cho thế giới. Nghi ngại về ba chuyện: Về phương diện học thuật, dưới ảnh hưởng của chính quyền Trung Quốc, người ta không còn tự do và độc lập trong tư tưởng; về phương diện chính trị, các viện ấy chỉ đóng vai trò tuyên truyền cho chính phủ; và đặc biệt, về phương diện an ninh, rất có khả năng những cán bộ hoặc giáo viên trong các viện ấy làm công tác tình báo kỹ nghệ để ăn cắp các phát kiến về khoa học kỹ thuật và kinh tế trong các trường đại học.

Ba đặc điểm nêu trên cho thấy Viện Khổng Tử không đơn giản là một cơ sở giáo dục về ngôn ngữ hay văn hóa. Nó còn nhắm đến các mục tiêu kinh tế (khuyến khích làm ăn với Trung Quốc – chưa kể chuyện làm gián điệp) và cả các mục tiêu chính trị, trong đó có những cuộc vận động liên quan đến quyền lực mềm (soft power). Trong cái gọi là “quyền lực mềm” ấy, nội dung quan trọng nhất mà Trung Quốc nhắm tới là tạo nên một hình ảnh hiền lành, yêu chuộng hòa bình và công lý của Trung Quốc, nhằm xóa tan những nỗi sợ của mọi người đối với tham vọng bá quyền của Trung Quốc.

Tất cả những điều ấy, hầu như ai cũng biết. Từ nhiều năm nay, Trung Quốc đã đổ ra hàng nhiều tỉ đô la cho chiến dịch củng cố quyền lực mềm như thế. Họ viện trợ một cách cực kỳ hào phóng cho nhiều quốc gia ở châu Phi, châu Mỹ La Tinh và châu Á. Họ tổ chức Olympics 2008 và Sanghai Expo năm 2010. Trong hai năm 2009 và 2010, họ bỏ ra 8 tỉ 9 Mỹ kim cho lãnh vực truyền thông đại chúng, trong đó có những kênh truyền thanh và truyền hình phát 24 giờ một ngày nhắm vào khán thính giả Tây phương. Chương trình phát thanh quốc tế bằng tiếng Anh cũng làm việc liên tục ngày và đêm.

Các Viện Khổng Tử chỉ là một trong cả một chiến dịch rộng lớn và rầm rộ ấy.

Vấn đề là: chiến dịch củng cố quyền lực mềm ấy có thành công hay không?

Giáo sư Joseph S. Nye Jr, chuyên gia hàng đầu về quyền lực mềm trên thế giới, trả lời một cách dứt khoát: Không.

Trong bài “China's Soft Power Deficit”, viết vào năm 2012, Nye cho quyền lực mềm của một nước chỉ phát huy tác dụng với một số điều kiện:

Thứ nhất, nó không gây tâm lý lo ngại và, từ đó, nỗ lực tìm kiếm sự cân bằng ở các nước láng giềng (ví dụ: những điều đó không hề xảy ra ở Canada và Mexico trước quyền lực mềm của Mỹ).

Thứ hai, phải có sự nhất quán giữa lời nói và việc làm: khi hiện thực trong nước khác hẳn với những lời lẽ tuyên truyền trên mặt trận truyền thông quốc tế, quyền lực mềm sẽ mất hết tác dụng.

Olympics năm 2008 ở Bắc Kinh có vẻ như thành công rực rỡ, nhưng sự thành công ấy tan vỡ ngay tức khắc sau đó khi chính quyền Trung Quốc ra lệnh bắt bớ những người bất đồng chính kiến.

Shanghai Expo năm 2010 cũng thành công rực rỡ nhưng sự thành công ấy cũng bị dập tắt ngay tức khắc khi Trung Quốc bắt nhà hoạt động nhân quyền Lưu Hiểu Ba. Hình ảnh chiếc ghế trống trong buổi trao giải Nobel hòa bình cho Lưu Hiểu Ba trở thành một biểu tượng đầy quyền lực làm xóa nhòa tất cả các hoạt động tuyên truyền tốn hàng tỉ đô la trước đó.

Viện Khổng Tử được thành lập ở Philippines nhằm gây thiện cảm với người dân địa phương nhưng tất cả những tình cảm ấy, nếu có, đều biến mất khi Trung Quốc quấy nhiễu bãi đá cạn Scarborough vốn thuộc chủ quyền của Philippines.

Đánh giá một cách tổng quát, Nye cho các nỗ lực củng cố quyền lực mềm của Trung Quốc đã thất bại. Bằng chứng rõ rệt nhất là qua các cuộc thăm dò dân luận, cách nhìn về Trung Quốc chỉ tương đối mang màu sắc tích cực ở châu Phi và châu Mỹ La Tinh; còn ở Mỹ, châu Âu cũng như nhiều nước ở châu Á, đặc biệt Ấn Độ, Nhật Bản và Hàn Quốc, nó hoàn toàn có tính chất tiêu cực. Điều đó, với Nye, hoàn toàn chính đáng: ở Trung Quốc hiện nay, dưới ách kiểm duyệt ngặt nghèo của chính phủ, ở đâu người ta cũng thấy sự nghèo nàn về tư tưởng.

Không có nước nào có thể làm cho người khác yêu mến, tin cậy và ngưỡng mộ với sự nghèo nàn, chật chội và giả dối như thế cả.

Đó là lý do tại sao các nước Tây phương, kể cả Mỹ, dù biết rõ âm mưu của Trung Quốc, vẫn cứ cho phép mở các Viện Khổng Tử ngay trên đất nước của họ. Không phải là một. Mà là nhiều viện. Xum xuê như trăm hoa đua nở.

Nhưng đó là ở Tây phương, còn ở các nước khác thì sao?

Theo Trefor Moss, trên The Diplomat ngày 4 tháng 6, 2013, chúng ta không nên vội vã đánh giá thấp các nỗ lực vận động quyền lực mềm của Trung Quốc. Kể từ năm 2000, Trung Quốc bỏ ra 74 tỉ đô la để xây dựng các dự án hợp tác và viện trợ ở 50 trên tổng số 54 quốc gia châu Phi. Kết quả là ở châu Phi, rất nhiều người nhìn Trung Quốc một cách đầy thiện cảm: Họ xem Trung Quốc như một đối tác tốt, một kẻ đến để cứu vớt họ và là một mẫu mực mà họ nên bắt chước. Dĩ nhiên, tất cả những thiện cảm này đều dễ dàng biến mất nếu Trung Quốc sử dụng bạo lực với họ. Nhưng khi điều này chưa xảy ra thì nỗ lực của Trung Quốc rõ ràng là có kết quả.

Riêng trong trường hợp của Việt Nam thì sao?

Theo tôi, sự hiện diện của Viện Khổng Tử tại Đại Học Hà Nội, tự bản thân nó, không đáng lo ngại cho bằng thái độ của nhà cầm quyền cũng như của cán bộ Việt Nam nói chung.

Trung Quốc sử dụng Viện Khổng Tử để làm gián điệp kỹ nghệ ư? Âm mưu này có thành công hay không là tùy thuộc mức độ cảnh giác cũng như khả năng tổ chức của các đại học Việt Nam. Nhưng ở cả hai khía cạnh này, qua kinh nghiệm lâu nay, chúng ta đều thấy rõ: hoàn toàn không đáng tin cậy.

Trung Quốc sử dụng Viện Khổng Tử để tuyên truyền cho Trung Quốc ư? Âm mưu này có thành công hay không là tùy thuộc vào mức độ phản tuyên truyền và công khai hóa thông tin từ phía Việt Nam. Ở Philippines, sự tuyên truyền của Trung Quốc qua Viện Khổng Tử mất hết tác dụng vì dân chúng biết rõ, rất rõ tham vọng bành trướng lãnh hải và các hành động quấy nhiễu của Trung Quốc ở bãi đá cạn Scarborough. Nhưng trong trường hợp của Việt Nam, nếu chính phủ cứ giấu giếm hết những chuyện như thế, cứ leo lẻo phụ họa với bộ máy tuyên truyền của Trung Quốc về cái gọi là 4 tốt “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt” và 16 chữ vàng “Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” thì đương nhiên Trung Quốc sẽ thành công.

Thành thực mà nói, trong cả hai âm mưu gián điệp và tuyên truyền, Trung Quốc đã thành công ngay cả trước khi thành lập Viện Khổng Tử.

Cái Viện ấy có nằm chình ình ngay giữa Hà Nội hay không thì cũng vậy. Có khi, với những người còn yêu nước, đó lại là điều hay: Nó hiện diện như một thách thức.

Sợ sụp đổ, lãnh đạo Trung Quốc đọc sách về Liên Xô
(4T) – Để thể hiện một hình ảnh “gần dân” hơn nữa của các nhà lãnh đạo quốc gia, mới đây trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc đã quyết định cho công bố danh sách những cuốn sách mà những người đứng đầu bộ máy chính quyền nước này quan tâm nhất và tìm đọc nhiều nhất.

Nhìn vào bản danh sách những cuốn sách “phổ biến nhất”, người ta có thể phát hiện ra một số điểm thú vị. Trước hết, đó là thói quen đọc các cuốn sách về thành tựu trong quá khứ của Trung Quốc và các đảng Cộng sản khác trên thế giới. Đặc biệt, cuốn sách mà cả Chủ tịch Tập Cận Bình, Thủ tướng Lý Khắc Cường và nhiều nhà lãnh đạo Đảng, chính phủ Trung Quốc khác đều đọc rất kỹ và được coi là cuốn sách “đối đầu giường” có tên: Sự trỗi dậy và diệt vong của một siêu cường. Đây là cuốn sách trình bày khá chi tiết về lịch sử phát triển, thời kỳ thịnh vượng kèm theo những nguyên nhân, quá trình sụp đổ của Liên bang Xô viết.

Đối chiếu với những sự bất ổn của xã hội và kinh tế Trung Quốc trong thời gian qua, và sự quan tâm đặc biệt của các nhà lãnh đạo Trung Quốc đối với cuốn sách này, có thể thấy Trung Quốc đặc biệt cảnh giác trước nguy cơ suy thoái, mất ổn định hay cải cách “chệch hướng” dẫn đến sự sụp đổ như Liên Xô trước kia. (…)

Trung Quốc đổ xô bán đất để trả nợ hàng ngàn tỉ USD
TT – Một loạt chính quyền địa phương Trung Quốc đang đổ xô bán đất để trả nợ. Trong ba quý đầu năm 2013, thu nhập từ việc bán đất của 300 thành phố tăng 70%, dẫn đầu là thành phố Thâm Quyến với mức tăng lên đến 475%.

Báo Pháp Chế Buổi Chiều dẫn nguồn từ Viện Nghiên cứu chỉ số nói trong ba quý đầu năm nay, thu nhập từ việc bán đất của 300 thành phố Trung Quốc lên tới khoảng 2.110,7 tỉ nhân dân tệ (345,3 tỉ USD), tăng 70% so với mức 1.243,5 tỉ nhân dân tệ cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, thành phố Thâm Quyến dẫn đầu với tỉ lệ tăng 475%, theo sau là Quảng Châu với tỉ lệ tăng 432,2%.

Mặc dù chính phủ tuyên bố tình trạng nợ ở Trung Quốc vẫn trong tầm kiểm soát, nhưng một số chính quyền địa phương vẫn đang khốn đốn với nguy cơ không có khả năng trả nợ. Điều này khiến tình trạng nợ của chính phủ như một trái bom hẹn giờ. Con số của Cục Kiểm toán Trung Quốc hồi năm 2011 nói số nợ của các chính quyền địa phương đến cuối năm 2010 là khoảng 10.720 tỉ nhân dân tệ (khoảng 1.758 tỉ USD), tương đương 27% GDP. Theo Wall Street Journal, con số hiện tại là 15.000-30.000 tỉ nhân dân tệ (2.460-4.920 tỉ USD), tương đương 30% – 60% GDP.

Báo Pháp Chế Buổi Chiều miêu tả việc chính quyền bán đất trả nợ hệt như người mắc nợ đang bán máu lấy tiền. Theo các con số do chính quyền Vũ Hán công bố, năm 2011 Vũ Hán dùng 65 tỉ nhân dân tệ tiền bán đất để trả nợ, chiếm 44% trong tổng số nợ 143,5 tỉ nhân dân tệ.

Bộ Tài nguyên đất đai Trung Quốc cho biết không có bất kỳ ngành nghề hoặc lĩnh vực nào có thể đem lại nguồn thu cho chính phủ lớn hơn việc bán đất. Hơn nữa, đây lại là một nguồn thu nhập đảm bảo nhất, ổn định nhất và thực tế nhất. “Đến một ngày bạn phát hiện toàn bộ đất đai đã bán sạch trơn, lúc đó bạn phải đối mặt với một cơn khủng hoảng thật sự” – chuyên gia kinh tế Mã Quang Viễn nhận định.

Theo kết quả thống kê tình trạng nợ của chính quyền địa phương của Cục Kiểm toán Trung Quốc, đến cuối năm 2012 bốn tỉnh và 17 thành phố cấp tỉnh cam kết dùng thu nhập từ việc bán đất để trả 55% số nợ của các tỉnh.

Từ năm 1979 đến nay, việc bán đất luôn là nguồn tiền trả nợ của chính quyền địa phương, ngày qua ngày xu hướng này càng trở nên nghiêm trọng. Theo nhật báo Đại Chúng, vấn đề nợ của chính phủ ngày càng tăng mạnh, thu nhập từ việc bán đất khó lòng lấp đầy lỗ đen này. Hơn nữa, quỹ đất ngày càng thu hẹp, tiền chi cho việc giải tỏa càng tăng cao, lợi nhuận từ việc bán đất càng ít. Nếu Trung Quốc không bắt đầu thực hiện các biện pháp trên, nguy cơ vỡ nợ là hiển nhiên.

80% hàng lậu vào Việt Nam là hàng Trung Quốc
(VOV) – Hàng lậu gây thất thoát nguồn thu ngân sách lớn và gây thiệt hại cho người tiêu dùng vì đa phần là hàng nhái, giả, kém chất lượng.

Hàng lậu gây thất thoát nguồn thu ngân sách lớn và gây thiệt hại cho người tiêu dùng vì đa phần là hàng nhái, giả, kém chất lượng.

Theo ông Trương Quang Hoài Nam, Cục trưởng Cục Quản lý thị trường, Bộ Công Thương, 8 tháng đầu năm 2013, lực lượng quản lý thị trường đã xử lý 89.000 vụ buôn bán hàng cấm, hàng nhập lậu với số tiền xử phạt là 485,11 tỷ đồng, tịch thu nhiều hàng hóa nhập lậu trị giá 1.058,61 tỷ đồng. Hàng lậu không chỉ gây thất thoát nguồn thu ngân sách lớn (vì trốn thuế) mà còn gây thiệt hại cho người tiêu dùng vì đây đa phần là hàng nhái, giả, kém chất lượng. Trong số các mặt hàng lậu xâm nhập thị trường Việt Nam, theo ước tính của ông Vương Trí Dũng, Phó chi cục trưởng Chi cục Quản lý thị trường Hà Nội, hàng lậu Trung Quốc chiếm tới 80%. (…)

Xuất khẩu gạo Việt Nam đã phụ thuộc thị trường Trung Quốc
(Đất Việt) – Tỷ lệ hợp đồng xuất khẩu chính phủ đang giảm mạnh, 9 tháng đầu năm 2011 chiếm 44% chỉ còn hơn 13% trong 9 tháng đầu năm 2013. Trong đó, Trung Quốc vẫn là thị trường lớn nhất với 1,76 triệu tấn, cùng với 1,2 triệu tấn theo đường tiểu ngạch, thị trường Trung Quốc chiếm tới gần 50% tổng sản lượng xuất khẩu gạo của Việt Nam.

Những thị trường truyền thống các năm trước nhập khẩu thông qua kênh hợp đồng cấp chính phủ như Philippines chỉ nhập 353.000 tấn, chiếm 6,6% tổng khối lượng xuất khẩu của Việt Nam, giảm đến 66% so với cùng kỳ; Malaysia chỉ mua 348.000 tấn, chiếm tỷ lệ tương tự, giảm đến 36% so với cùng kỳ.

Khách hàng chính của Việt Nam là các thị trường nhập khẩu truyền thống thông qua kênh này như Indonesia, Philippines, Malaysia. Tuy nhiên, các nước này đang giảm nhập khẩu do họ ngày càng tăng khả năng tự túc lương thực cũng như tăng cường vai trò doanh nghiệp nhập khẩu gạo tư nhân, thay vì nhà nước như trước đây (…)

5 cổng chào tiền tỷ trên 21 km đường
TP – Chỉ vỏn vẹn có 21 cây số trên quốc lộ 32 đoạn từ huyện Hoài Đức, qua Đan Phượng đến Phúc Thọ (Hà Nội) đã có tới 5 cổng chào được xây dựng khá hoành tráng. Đáng chú ý, hội chứng xây cổng chào còn lan rộng ra nhiều huyện, xã, thôn xóm thuộc nhiều huyện ngoại thành. (…)

Cổng chào này được đầu tư tiền tỷ. Ảnh: minh tuấn.

Cổng chào huyện Phúc Thọ ảnh: Hà anh.
Bà Tưng vẫn giữ được vị trí trong làng báo quốc doanh, thư giãn với tin lá cải chia sẻ Huyền Anh nghiến răng chịu đau để có một ngoại hình hoàn hảo:

Bà Tưng chán… ngực quá cỡ, dễ bị hở
Dân Việt – Quá mệt mỏi vì vòng một to và cứng, mặc đồ dễ bị hở, Huyền Anh tháo túi ngực cũ để đặt túi khác nhỏ hơn. (…)

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.