Lạm bàn về “án bỏ túi”

Posted: November 18, 2013 in Uncategorized
Tags: ,

Nguyễn Như Phong (Quechoa) Theo Petrotimes – …Nôm na, có thể hiểu thế này, đó là đưa ra xét xử một vụ án nhưng mức án dành cho các bị cáo lại được thống nhất từ trước giữa công an, viện kiểm sát, tòa án và lãnh đạo địa phương.

(Xem thêm: Điều tra viên và một số tất yếu + Quy trình đẻ ra án oan và cơ chế minh oan cho người vô tội + Quy trình đẻ ra án oan và cơ chế minh oan cho người vô tội + Trung Quốc: đa số án oan do bức cung) …


Khi đã thống nhất được mức án của "bộ tứ" này rồi thì phiên tòa diễn ra như… diễn kịch. Bị cáo muốn gì cứ việc trình bày. Thẩm phán, hội thẩm nhân dân cũng chỉ là hỏi để cho có. Luật sư cãi thì cũng gọi là để cho có vẻ dân chủ… Người ngồi giữ quyền công tố thì cũng chẳng thừa hơi đâu mà tranh luận với luật sư. Còn thư ký phiên tòa thì lặng lẽ ngồi viết án văn trước…

Tại sao lại có cái chuyện "án bỏ túi" thế này? Và tại sao một số cấp ủy đảng chính quyền địa phương lại tham gia vào việc xét xử của tòa án, đặc biệt là những vụ án được đánh giá là có ảnh hưởng xấu tới tình hình an ninh trật tự và dư luận tại địa phương; hoặc là những vụ án phải xử để làm gương để có tính "răn đe, giáo dục" kẻ khác; để "yên lòng dân".

Vì thế, đã có cấp ủy đảng chính quyền địa phương chỉ đạo công tác xét xử một cách thô bạo. Yêu cầu phải xử nặng hoặc phải xử nhẹ. Còn tòa, viện kiểm sát, công an thì ai đủ gan để mà cãi lại lãnh đạo đây?

Công an thì chắc chắn là không. Bởi vì lãnh đạo công an tỉnh muốn được đề bạt thì cũng phải hiệp y với tỉnh ủy. Cán bộ viện kiểm sát, tòa án cũng thế. Nếu như cấp ủy đảng chính quyền địa phương có ý kiến không đồng thuận thì việc bổ nhiệm coi như chấm dứt.

Hơn nữa, các cơ quan bảo vệ pháp luật tại địa phương cũng phải sống nhờ một phần vào sự chu cấp thêm của chính quyền. Rất nhiều hoạt động của công an, viện kiểm sát, tòa án phải dùng ngân sách của địa phương, mà ở đây là cơ chế xin – cho. Cho nên, chẳng ai dại gì mà chống lại ý chí của người đứng đầu địa phương đó. Còn khi đưa ra xét xử, oan hay không, nặng hay nhẹ, đó lại là việc khác.

Việc cấp ủy đảng chính quyền địa phương can thiệp vào việc điều tra, truy tố, xét xử của công an, viện kiểm sát, tòa án nhiều khi dở khóc dở cười.

Người viết bài này đã từng chứng kiến một buổi họp điều tra án của công an một huyện miền núi ở một tỉnh Tây Bắc, có Bí thư huyện ủy dự. Và khi thấy tốc độ điều tra của công an chậm quá, ông hăng hái yêu cầu “để tôi làm trưởng ban chuyên án”. Một yêu cầu vô lý đến như thế mà công an huyện vẫn phải đồng ý. Rồi về sau này, có những vụ án lớn, lại còn sinh ra ban chỉ đạo điều tra án mà thành phần tham gia gồm hầu hết là những người chẳng hiểu biết gì về nghiệp vụ điều tra, về pháp luật. Nhưng khi đã có “ban chỉ đạo” thì các cơ quan tham gia tố tụng cứ việc nhắm mắt thực hiện chỉ đạo.

Thật ra, việc lập ra “ban chỉ đạo” để điều tra một vụ án là một cách làm có thể nói là tùy tiện về mặt luật pháp. Bởi lẽ, khi đó “ban chỉ đạo” áp đặt những quan điểm chính trị, những cách suy diễn theo kiểu “sợi tóc chẻ làm tư”… cho các đối tượng trong vụ án. Đó là chưa kể người ta còn chỉ đạo rất duy ý chí, rằng “nếu không tham nhũng thì lấy đâu ra tiền xây nhà”; “lấy đâu ra tiền cho con đi học nước ngoài”; “trong bữa ăn đó, dứt khoát chúng nó phải bàn chuyện chạy án”…

Thế là ngay từ khâu điều tra, các đối tượng nằm trong diện bị điều tra đã không bị khép tội lớn thì cũng dính tội nhỏ và dĩ nhiên, cơ quan tố tụng phải thể hiện được “ý chí, quan điểm” của “ban chỉ đạo” bằng việc làm thế nào đó để các đối tượng phải khai nhận.

Có một vụ án mà người viết bài này còn nhớ cực kỳ rõ. Ấy là chuyện có một phóng viên của Báo An ninh Thế giới được một ông bạn cho chiếc đồng hồ Rado “cốp”, không có chân kính, trị giá không bằng một bát phở. Nhưng khi anh bạn kia dính vòng lao lý thì chẳng hiểu thế nào lại lòi ra chuyện đã từng biếu tặng chiếc đồng đó cho nhà báo. Như vớ được vàng, ông chỉ huy điều tra án làm công văn gửi tán loạn các nơi và yêu cầu phóng viên tường trình, báo cáo về chuyện chiếc đồng hồ đó. Nhưng khổ một nỗi, chiếc đồng đó anh phóng viên nọ đã vứt đâu đó ở ngoài bể bơi. Chỉ có như vậy mà cũng còn bị hành “lên bờ xuống ruộng”.

Đã có những hậu quả xảy ra khi các cơ quan tố tụng máy móc làm theo “ban chỉ đạo”. Mà một khi đã có “ban chỉ đạo” thì oan đến mấy cũng phải bịt đi.

Đảng, Nhà nước đang có những biện pháp quyết liệt để cải cách hệ thống tư pháp ở Việt Nam. Tất nhiên, các cơ quan bảo vệ pháp luật được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng nhưng không có nghĩa rằng lãnh đạo cấp ủy đảng của chính quyền địa phương phải trực tiếp chỉ đạo công tác xét xử, cho dù sự chỉ đạo đó phục vụ những mục đích chính trị của địa phương.

“Án bỏ túi” là như vậy đó!

Điều tra viên và một số tất yếu
Cầu Nhật Tân – Với sự đổi mới trong công tác tổ chức điều tra hình sự thì vai trò của Điều tra viên (ĐTV) cũng được tăng cường theo hướng chủ động tấn công tội phạm. Từ chỗ chỉ làm công tác xét hỏi một cách thụ động trên hồ sơ, giờ đây vai trò của ĐTV được nâng cao. ĐTV là diễn viên chính thực hiện việc đánh án bắt đầu từ các khâu đầu tiên như khám nghiệm hiện trường vụ án, thu thập chứng cứ, xét hỏi khai thác đối tượng cho tới khâu lập hồ sơ vụ án để sếp của anh ta ký chuyển hồ sơ sang Viện Kiểm sát đưa đối tượng ra truy tố. Áp lực lên diễn viên này là rất lớn: áp lực chính trị, áp lực xã hội đòi hỏi phá án, ĐTV có thẩm quyền rất lớn (không bị chế ngự), cộng với nhiều yếu kém khiến điều tất yếu phải xảy ra.

Hàng năm, số vụ trọng án xảy ra trên địa bàn cả nước lên tới con số hàng chục nghìn (chưa kể án tồn đọng từ năm trước kéo sang năm sau). Do quy định trong Bộ Luật hình sự và Tố tụng hình sự nên cơ quan thụ lý điều tra chủ yếu là Công an cấp tỉnh với chủ công là lực lượng Điều tra viên tại các Cơ quan cảnh sát điều tra.

Sau khi có quy định chuẩn hóa đội ngũ của Tổng cục Xây dựng lực lượng Bộ CA, số lượng Điều tra viên cao cấp tại cấp tỉnh không nhiều, thực tế là quá ít nếu so với số lượng các vụ án xảy ra trên địa bàn. ĐTV thì khá hổ lốn. Số người được đào tạo chính quy tại khoa điều tra khá ít. Nhiều anh tốt nghiệp khoa điều tra ra do không có “cửa” hoặc “cửa” không sáng lại bị phân đi gác cổng hoặc coi tù. Khối anh chân ướt chân ráo vừa đánh được vài vụ ma túy dưới huyện, như có phép thần, nhảy vụt ngay lên cơ quan điều tra tỉnh trong khi nghiệp vụ điều tra gần như con số 0. Các tỉnh khó khăn thì số lượng ĐTV cao cấp còn ít nữa. Để giải quyết vấn đề “chuẩn hóa”, người ta đưa ra sáng kiến “đi tắt, đón đầu”, tức là mời cơ sở đào tạo của Bộ như Học viện CSND, Học viện ANND mở các lớp đào tạo ĐTV theo hệ “vừa học vừa làm” hoặc “hoàn thiện nghiệp vụ” tại địa phương.

Lớp học thì diễn ra tại hội trường CA tỉnh. Tổ chức lớp học thì giống một cuộc họp chính trị. Thầy đứng ở bục tận trên cao cứ thao thao bất tuyệt đọc qua micro. Hàng trăm điều tra viên tương lai ngồi dưới, kẻ thì gọi điện, người nhắn tin, anh thì đọc báo hay tranh thủ trao đổi với đồng nghiệp. Không sao. Toàn bộ tài liệu đã được phô tô phát tận tay rồi còn gì. Thi thố, kiểm tra thì đã có Ban tổ chức lo liệu với phần “đóng góp” tích cực của học viên trên cơ sở phương châm: đã có quyết định cử đi học là đỗ. Chạy được quyết định cử đi học của Phòng Tổ chức CA tỉnh là quan trọng nhất, mệt hơn cả việc học tập. Có được quyết định coi như đã có thẻ ĐTV. Con đường đi lên ĐTV với nhiều đồng chí cũng rất vòng vo. Từ lính nghĩa vụ, học sơ cấp, rồi trung cấp, sau đó làm quả ĐTV vừa học vừa làm mở tại tỉnh hệ đại học. Các đồng chí này lấy đâu ra IQ để đấu trí với tội phạm cho nên thường phải sử dụng “biện pháp nghiệp vụ”.

Công tác đào tạo chuẩn hóa có bất cập là: nội dung phần lớn là lý thuyết được các thầy lĩnh hội từ thời còn Liên Xô với Đông Đức, chủ yếu về tính chuyên chính, trấn áp trong hoạt động của Công an. Nội dung thực hành vốn đã quá ít ỏi, lại còn bị bỏ qua vì CA tỉnh thì lấy đâu ra trang thiết bị mà thực nghiệm, mô phỏng. Bi kịch tất yếu bắt đầu từ đây.

Khám nghiệm hiện trường: Điều tra viên bước vào khâu đầu tiên của vụ án với kiến thức vô cùng ít ỏi về công tác này. Ngay kiến thức cơ bản nhất như vật liệu nổ, đường đạn, vũ khí mà đa số các đồng chí đều mít tịt, nói chi tới những kiến thức cao siêu hơn phục vụ phá án. Trang thiết bị khám nghiệm thì sơ sài. Hành trang bước vào đánh án chỉ có cái va li khám nghiệm. Trong va li có gì? Kính lúp cầm tay, chổi lông, ít bột hóa học, thước dây, máy ảnh, giấy và bút. Án thì phức tạp lên nhiều nhưng va li khám nghiệm 50 năm nay vẫn y nguyên, không có gì mới. Bộ năm nào cũng có đề án tăng cường trang thiết bị nhưng chỉ thấy tăng cường ở đâu đâu.

Thu thập chứng cứ: chứng cứ được quan niệm là tồn tại khách quan. Do công tác khám nghiệm hiện trường rất sơ sài nên vẫn chấp nhận tồn tại khái niệm “tạo chứng cứ” trong giới điều tra nhằm có được “chứng cứ” từ nhiều nguồn khác, nôm na là thế trận an ninh nhân dân. Trước hết, đặc tình. Mạng lưới đặc tình hiện chủ yếu là dân tù tội, tiền án tiền sự hoặc giới làm ăn mà hiệu quả hoạt động lệ thuộc vào lòng thương của các anh CA. Thế nên nhiều chứng cứ là không có thật, cố được nặn ra để chứng tỏ lòng thành với các anh. Hoặc đặc tình bịa ra để mượn tay CA triệt nhau. Các ĐTV không phải là không biết. Nhiều khi vẫn nhắm mắt để dựng hồ sơ vì án đã đến ngày đến giờ. Dân lương thiện thì càng ngày càng ngại thông tin cho CA phá án bởi đã có nhiều nhân chứng của các vụ án bị đối xử không công bằng. Có lúc, có nơi, nhân chứng bị ĐTV tiện tay nhập luôn cả vào kho bởi “không phạm tội sao mày biết rõ thế” hoặc nếu chứng cứ không “nhạc và lời” với hồ sơ do ĐTV dựng thì bị dọa “khai báo gian dối”.

Mạng lưới chính thống hỗ trợ thông tin thì rất yếu và nhiêu khê. Cơ sở dữ liệu tội phạm rất manh mún. Thế nên mới có chuyện cả một chuyên án lớn của Bộ tốn bao tiền của và thời gian mới ngã ngửa người ra rằng đối tượng truy tìm đang ung dung thụ án rất ngoan ngoãn trong một trại giam của Bộ dưới một tội danh ít nghiêm trọng. Việc chia sẻ thông tin tội phạm giữa các đơn vị thì càng ít. Có tội phạm giết người để lại vân tay tại tỉnh này mà CA chịu không lần ra được thủ phạm. Do ngẫu nhiên, người ta biết được tên đó qua rà soát hồ sơ tiền sự do CA tỉnh bên lập từ lâu.

Khai thác đối tượng: thuật ngữ đấu tranh được ĐTV sử dụng phổ biến. Anh vào tay tôi tức là anh đã có tội. ĐTV mang nặng tư duy trấn áp chuyên chính nên thường triển khai phá án theo hướng suy đoán có tội chứ không phải suy đoán vô tội. Hình thức đấu tranh kiên quyết, hiệu quả nhất, đảm bảo không bỏ lọt tội phạm là phải “dạy” cho mấy chưởng. Cũng có thể gửi xuống trại để “nhờ” các lái xe, bộ đội trong buồng giam bắt đối tượng phải “thành khẩn” khai báo. Có khi là dựng đối tượng dậy đi cung triền miên vào ban đêm và ban ngày thì sai bọn phạm quấy không cho ngủ. Khoảng một tuần như vậy thì đối tượng nào cũng phải “thành khẩn” hết. Bi hài nhất là có tay chuyên đột nhập, sau khi đã thành khẩn khai báo thì bị ĐTV tiện tay quy luôn cho một loạt vụ phá khóa khác (hai “chuyên ngành” này vốn khá mâu thuẫn với nhau). Đối tượng giãy nảy: nếu cháu phá được khóa thì dại gì đột nhập nữa. À, ngoan cố chối tội hả. Sau khi tung mấy “nghiệp vụ sắc bén”, ĐTV đã buộc đối tượng phải ngoan ngoãn cúi đầu nhận một loạt các vụ phá khóa kia.

Hiện, việc trích xuất người bị tạm giữ ra khỏi cơ sở tạm giữ rất lỏng lẻo tạo điều kiện cho bức cung, nhục hình. Cảnh “ra đi trai tráng khi về bủng beo”, hoặc, “lúc anh đi không người đưa tiễn, lúc anh về ba bốn thằng khiêng” là chuyện vặt. Luật sư, trên thực tế, chưa được tham gia vào các phiên xét hỏi.

Bình phong vững chắc của các ĐTV: Trọng án xảy ra, việc điều tra, truy tố, xét xử đều phải được chỉ đạo chặt chẽ từ cấp ủy (thường vụ tỉnh ủy) mà Công an (hơn hẳn Viện và Tòa) là có chân trong Thường vụ. Tiếng nói của đồng chí Giám đốc CA mang tính quyết định. Thế nên, quan điểm trong hồ sơ do ĐTV dựng lên thường có được vị trí vững chắc trong các buổi họp án. Đó là chưa nói, lãnh đạo Viện Kiểm sát và Tòa án nhiều địa phương do lãnh đạo CA chuyển sang nên tư duy nể nang là khó tránh. Đảm bảo lợi ích cục bộ địa phương, giữ vững uy tín như thành tích thi đua v.v cũng có khi khiến đồng chí Bí thư Tỉnh ủy phải nhắm một mắt miễn sao anh em “làm cho êm”. Thực tế là vai trò của các cơ quan tư pháp khác là thứ yếu và chịu nhiều áp đặt trong các buổi họp chỉ đạo án. Tính độc lập, khách quan của các cơ quan này do đó bị ảnh hưởng.

Là diễn viên chính của các vở, song Điều tra viên lại may mắn không bị pháp luật ràng buộc phải tham gia vở cuối – vở này mới là quyết định, tức phiên xét xử. Hãn hữu, có vụ trọng án gây tranh cãi lớn tại Thủ đô, Tòa buộc phải triệu tập ĐTV ra đối chất thì ĐTV lại nương vào các quy định về đảm bảo chế độ mật để từ chối cung cấp thông tin làm rõ. Thế nên, dù luật sư và bị cáo (thậm chí cả bị hại) có kêu oan tới đâu thì cũng chỉ là thông tin một chiều và ít được quan tâm một khi hồ sơ đã dựng, án đã đóng, công trạng đã báo cáo lên trên.

Cuối cùng, việc ĐTV và cơ quan điều tra được giao sơ kết, tổng kết công tác điều tra, xử lý tội phạm lại là một bất cập nữa bởi chẳng ai ngu gì đi lột áo cho người xem lưng và những sai phạm mang tính tất yếu của ĐTV vẫn tiếp tục mà không có điều kiện khắc phục, sửa chữa.

Quy trình đẻ ra án oan và cơ chế minh oan cho người vô tội
(Motthegioi) – Phiên tòa phúc thẩm hời hợt, không quan tâm đến những lời kêu oan, không kiểm tra hồ sơ, kiểm tra tính có căn cứ của bản án sơ thẩm sẽ dẫn đến kết cục y án sơ thẩm.

Theo Điều 20 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 , hệ thống tòa án ở nước ta thực hiện chế độ hai cấp xét xử: tòa án cấp sơ thẩm xét xử vụ án lần đầu và đưa ra bản án hoặc quyết định sơ thẩm. Bản án sơ hoặc quyết định sơ thẩm có thể bị kháng cáo, kháng nghị.

Vì sao ông Nguyễn Thanh Chấn chưa thoát khỏi “ách” bị can?

Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật khi bị kháng cáo, kháng nghị.

Giám đốc thẩm và tái thẩm không phải là một cấp xét xử, mà là những thủ tục tố tụng đặc biệt để xét lại các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật khi có căn cứ cho rằng cần phải áp dụng thủ tục giám đốc thẩm hoặc thủ tục tái thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. (…)

Trung Quốc: đa số án oan do bức cung
TT – Năm 2005, xã hội Trung Quốc chấn động khi tòa án tuyên bố đã xử tử nhầm một người vô tội trong vụ án cưỡng hiếp, giết người ở tỉnh Hà Bắc. Vụ án khơi dậy một cuộc tranh luận gay gắt về quyền của nghi phạm trước, trong và sau khi bị xét xử.

Chánh án Tòa án cao cấp tỉnh Hà Nam cúi đầu xin lỗi ông Triệu Tác Hải (trái) – Ảnh: CFP
Ông Nhiếp Thụ Bân bị cảnh sát bắt giữ vì tội cưỡng hiếp, giết người và bị đưa đi xử bắn vào năm 1995. Mười năm sau, một người khác thú nhận là hung thủ thật sự trong vụ án này.

Mẹ của ông Nhiếp cho biết con trai bà nhiều lần bị bức cung và cuối cùng phải nhận tội giết người. Vụ án làm bùng lên một làn sóng phẫn nộ mạnh mẽ trong dư luận và trở thành vết nhơ không thể gột rửa trong ngành tư pháp Trung Quốc.

“Nếu người tôi “giết” trở về, chuyện các ông tra tấn tôi sẽ phải xử lý thế nào?” – ông Triệu Tác Hải, nghi phạm trong vụ án giết và chặt đầu người hàng xóm, hỏi một cách căm phẫn sau khi bị áp giải lên xe phạm nhân. Tuy nhiên, mãi đến 11 năm sau đó, cơ quan công quyền mới phải trả lời câu hỏi này.

Theo Tân Hoa xã, năm 1999 cảnh sát thành phố Thương Khẩu, tỉnh Hà Nam bất thình lình ập vào nhà ông Triệu Tác Hải sau khi phát hiện một xác chết không đầu nghi ngờ là người hàng xóm (đã mất tích) của ông Triệu. Vốn có mâu thuẫn lâu ngày với người mất tích, ông Triệu trở thành nghi phạm số 1.

Chín lần khai nhận tội nhưng lại nhiều lần kêu oan, năm 2002 ông Triệu bị kết án tử hình treo (hình phạt thường được giảm xuống thành tù chung thân). Năm 2010, tám năm sau ngày bị kết án, ông Triệu được minh oan khi “nạn nhân” bất thình lình trở về.

Để có được lời khai nhận tội giết người của ông Triệu, đội cảnh sát hình sự đã dùng nhiều hình thức bức cung. Trong phiên tòa xử tổ điều tra vụ án Triệu Tác Hải, các cảnh sát khai nhận đã chia ca để thẩm vấn nghi phạm trong 33 ngày liên tiếp. Ông Triệu bị tra tấn, đánh đập, bỏ đói. “Trong đội chúng tôi có ba tổ thay phiên nhau tra hỏi, không khi nào gián đoạn, Triệu Tác Hải vì thế chẳng thể nào nghỉ ngơi” – báo Thành Đô Buổi Chiều dẫn lại lời thú nhận của một cảnh sát. (…)

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s