Việt Nam đi tìm lối thoát nhân quyền

Posted: January 3, 2014 in Uncategorized
Tags:

Phạm Chí Dũng (BBC) – Bảy năm sau khi trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), lãnh đạo Việt Nam một lần nữa lục lại hồ sơ thành lập cơ quan nhân quyền quốc gia.

Việc này xảy ra vào thời điểm Việt Nam chuẩn bị lọt chân qua khe cửa hẹp của Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP).

Xem thêm: Thông điệp đầu năm của Thủ tướng: Dân chủ và Pháp quyền  +  Ý kiến trái chiều về thông điệp của Thủ tướng Việt Nam + Vụ Kim Jong Un xử tử chú dượng bằng 120 con chó đói: Bao giờ ta có thể làm được như họ?

Bất chấp các tuyên bố “Việt Nam luôn bảo đảm quyền con người”, bộ hồ sơ ố vàng vẫn cho thấy nhà nước này chưa thành lập cơ quan nhân quyền quốc gia theo khuyến nghị của Nguyên tắc Paris vào tháng 10/1991.

Theo nguyên tắc này, Liên hiệp quốc khuyến khích các nước thành viên xây dựng cơ quan nhân quyền quốc gia nhằm bảo vệ và thúc đẩy các quyền cơ bản của con người.

Mặc dù chỉ mang tính khuyến nghị, nguyên tắc này đã được nhiều quốc gia vận dụng để xây dựng cơ quan nhân quyền quốc gia.

Tuy nhiên, bối cảnh và tương quan thế lực hiện thời để “xét lại” hồ sơ cơ quan nhân quyền quốc gia so với trước đây đã khác nhiều, thậm chí rất nhiều.

Bảy năm trước và vào lúc nền kinh tế bản địa chưa dợm chân vào hố sâu suy thoái, ngay cả cuộc gặp George Bush – Nguyễn Minh Triết ở Nhà Trắng và những hứa hẹn đầy ưu ái cho cơ chế WTO cũng chỉ vừa đủ để khích lệ hình ảnh một ban chỉ đạo nhân quyền trực thuộc Chính phủ, chứ hoàn toàn không phải là mô hình Hội đồng nhân quyền quốc gia theo khuyến nghị của Nguyên tắc Paris.

Nhưng giá trị mà Lênin coi là “thói kiêu ngạo cộng sản” lại không phải là một phạm trù mang tính vĩnh viễn.

Vào lúc này, điều có vẻ cần ngạc nhiên là trong nội tình Nhà nước Việt Nam đang có dấu hiệu vội vã xúc tiến thành lập cơ quan nhân quyền quốc gia theo một trong hai hình thức: hoặc Hội đồng nhân quyền quốc gia, hoặc Ủy ban nhân quyền quốc gia.

Thậm chí, những ngày cuối năm 2013 còn hé lộ thông tin từ không gian u tịch nơi nghị trường và chính phủ về khả năng “sắp tới” sẽ ban bố các luật lập hội, luật biểu tình và luật tiếp cận thông tin.

Đối chiếu với lịch sử thì ít nhất hai ý tưởng về luật biểu tình và lập lập hội đều đã có độ trễ đến gần một phần tư thế kỷ, kể từ thời điểm được trở thành một nội dung của Hiến pháp năm 1992.

‘An ninh nhân quyền’

Lãnh đạo Việt Nam luôn nhấn mạnh đến các cam kết quốc tế khi công du nước ngoài

Trong khi đó, nhiệm vụ “bảo vệ an ninh nhân quyền” rõ ràng là sớm sủa hơn nhiều.

Chẳng cần đến lời nhắc nhở nào từ Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc, trong vài chục năm qua và  đặc biệt kể từ khi hai nhà nước Việt – Mỹ  chính thức ký kết hiệp định song phương về thương mại năm 2001, các báo cáo đặc biệt    về nhân quyền vẫn đều đặn được Ban chỉ đạo nhân quyền quốc gia – một cơ quan trực thuộc Chính phủ – ban hành một cách mẫn cán cùng thiên hướng thành tích kìm giữ.

Chỉ có điều, thay vì đề cập một cách đầy đủ đến các quyền con người của công dân như những nội dung trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị mà Việt Nam đã ký vào năm 1982, hệ thống báo cáo này chỉ tập trung vào chủ đề an ninh quốc gia một cách đầy chuyên chính và một chiều.

Minh chứng rõ rệt là Ban chỉ đạo nhân quyền đã thừa nhận trong nhiều năm qua “chủ yếu thực hiện nhiệm vụ chống lại các thế lực phản động lợi dụng nhân quyền nhằm chống phá Việt Nam”.

Bộ phận thường trực của cơ quan này là Bộ Công an, và tất nhiên rất nhiều chức trách trong đó được chiếu hậu qua lăng kính của những người mặc sắc phục chứ không phải được tái thẩm bởi nghị quyết về dân chủ cơ sở.

Một minh chứng nổi trội khác là tuy có nhiều cơ quan nhà nước cùng tham gia vào ban chỉ đạo nhân quyền quốc gia, nhưng như một thừa nhận trong các kỳ tổng kết hàng năm của cơ quan này, vẫn thiếu một cơ quan chịu trách nhiệm chính.

Hoặc nếu chọn cách nói tránh vòng vo thì Ban chỉ đạo nhân quyền quốc gia đã rất thường không quan tâm đến thực hiện nghĩa vụ về điều ước quốc tế về quyền con người.

Cùng lúc, một dẫn cứ theo cách thuyết minh vòng vo trong nội bộ là “trình độ, nhận thức của nhiều công chức còn hạn chế về quyền công dân, quyền con người; không nắm được các trách nhiệm và nghĩa vụ của Việt Nam về luật pháp quốc tế và điều ước quốc tế”.

Trình độ, nhận thức của nhiều công chức còn hạn chế về quyền công dân, quyền con người…” (?)

Có lẽ cũng bởi sự hạn chế quá ấn tượng về  trình độ và nhận thức như thế mà đã dẫn    đến chuyện đúng ngày quốc tế nhân quyền 10/12/2013 và sau khi Nhà nước Việt Nam chính thức tham gia vào Công ước chống tra tấn quốc tế cùng Hội đồng nhân quyền LHQ, hoạt động phân phát Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền của một số nhóm dân sự ở nơi công cộng đã bị coi là “hành vi tán phát tài liệu phản động” và bị công an cùng dân phòng ngăn chặn khá quyết liệt.

Thậm chí ở thành phố lớn thứ hai quốc gia là Sài Gòn, những người hoạt động xã hội còn phải hứng chịu một trận mưa mắm tôm cùng cái gọi là “nền văn hóa đấm đá nhân quyền”.

Tín hiệu mới?

Vì những nguyên do mà có lẽ chỉ có Bộ Chính trị đảng mới rõ, chỉ đến gần đây báo cáo của các cơ quan chức năng về nhân quyền mới đả động đến hiện trạng “thiếu luật biểu tình, luật lập hội, luật trưng cầu dân ý, luật tiếp cận thông tin, luật bảo vệ dữ liệu cá nhân”.

Một tín hiệu mới chăng? Hay đoạn trường ngoại giao cùng những dấu hiệu cho hình ảnh “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước”?

Từ việc tham gia Công ước chống tra tấn, Hội đồng nhân quyền Liên hiệp quốc cho đến những động thái mới đây về một số bộ luật và cơ quan nhân quyền quốc gia…, hiện tượng đó phải chăng đang thể hiện điều được xem là “lòng thành chính trị” của Nhà nước Việt Nam?

Hoặc giả bất chợt phát lộ đôi chút thành tâm chính trị nào đó, làm sao có thể lý giải nguồn cơn sâu xa của nó?

Khác hẳn với bối cảnh trước năm 2010, tình cảnh hiện thời đang trở nên quá khó cho nền kinh tế Việt Nam và các tập đoàn kinh doanh độc quyền và nợ như chúa Chổm của Chính phủ.

Chuỗi ngày lạnh giá cuối năm 2013 lại chứng kiến hơi thở tê buốt của nạn suy thoái, cơn sốt thiếu tiền mặt cùng thảm họa thất nghiệp.

Lần đầu tiên giới chuyên gia quốc doanh và ngay cả các ngân hàng thương mại cổ phần không còn quá kiêng cữ từ ngữ “đổ vỡ” cho tương lai không quá xa của hệ thống tín dụng.

Đầu tư nước ngoài và kiều hối được xem là hai cần câu thơm mồi nhất có thể vực dậy nền kinh tế đắng nghẹn.

Con số đầy khích lệ được công bố bởi Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho thấy năm 2013 có khả năng thu hút đến 25 tỷ USD đầu tư tư bản, kiều hối và cả nguồn vốn ODA thường bị sử dụng không mấy minh bạch.

Thế nhưng vẫn chưa thấy xuất hiện một con số rõ ràng và đủ thuyết phục nào về tỷ lệ giải ngân cụ thể đối với ba nguồn tài chính vừa trực tiếp vừa gián tiếp này. Mà như thế, mọi việc vẫn còn ở thì tương lai chứ không hẳn là trạng thái “ăn sẵn”.

Một tín hiệu mới chăng? Hay đoạn trường ngoại giao cùng những dấu hiệu cho hình ảnh “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước”?”

Cần câu cũng vì thế vẫn có thể trở thành một thứ mồi tượng trưng và không thiếu ảo ảnh đối với chính nó.

Bởi hy vọng lớn hơn được dành cho TPP, song vào lần này khối quốc gia thương mại quốc tế đã như rút được bài học đắt giá dành cho cho những đối tác thiếu tôn trọng quy luật cơ bản kinh tế gắn bó với chính trị.

Ngay cả chuyến thăm Việt Nam của ngoài trưởng Hoa Kỳ John Kerry vào tháng 12/2013 cũng chưa thể hâm nóng lại bầu nhiệt huyết song phương Việt – Mỹ trước đó đúng một con giáp và khiến hiện ra tức thời tấm visa nhập cảnh vào TPP.

Không hoặc ít cải thiện về nhân quyền, theo cách nhìn của người Mỹ, là chưa thể hoặc còn lâu mới có thể thỏa thuận theo đề nghị “được linh hoạt’ hoặc “được đặc cách” từ phía Nhà nước Việt Nam.

Chỉ nhận không cho?

“Nền kinh tế Việt Nam đang đứng trước ngã ba đường” – một chuyên gia của Chương trình Fulbright Việt Nam tỏ ra đặc biệt âu lo. Nếu xem kinh tế gắn bó mật thiết với chính trị như một quy luật khó chuyển dời, hẳn mối e sợ của giới chính khách Việt vẫn còn nguyên thế tiến thoái đều bế tắc. Đáng lo lắng hơn, trạng thái này sẽ tăng tốc theo thời gian.

HR 1897 – đạo luật nhân quyền Việt Nam vẫn còn nguyên vẹn tính hữu dụng và vẫn treo trên khung cửa Thượng nghị viện Mỹ, sau khi đã được thông qua tại Hạ nghị viện quốc gia này với số phiếu thuận cao không kém tỷ lệ 98% đại biểu quốc hội Việt Nam đồng thuận với hiến pháp năm 2013 – một văn bản tối cao bị coi là “thụt lùi chưa từng thấy”.

Và cho dù không phủ nhận về tâm thế xoay trục sang châu Á – Thái Bình Dương, người Mỹ sẽ rất khó để phải trả thêm một cái giá quá cao nếu đối tác của họ chỉ muốn nhận không muốn cho.

Bởi tất cả những căn nguyên sâu lắng và đáng tự ti hơn tự tôn như thế, có lẽ sẽ không quá ngạc nhiên nếu trong thời gian tới, một cơ quan nhân quyền quốc gia được chính thức thiết lập ở Việt Nam, với bộ phận thường trực an ninh được thay thế bởi giới lễ tân ngoại giao mang nụ cười thường trú.

Có quá nhiều chuyện để cơ quan nhân quyền quốc gia bày tỏ một chút lòng thành với người dân, liên quan đến đất đai, môi trường, án oan sai, nạn cường hào ở các địa phương…, chưa kể đến chủ đề tự do báo chí, tự do biểu đạt và tự do tôn giáo vẫn đang bị đưa ra đánh đố như một loại “tài nguyên nhân quyền”.

Ẩn số còn lại sẽ là cơ quan nhân quyền quốc gia đó có thực tâm dành dụm thời gian dư thừa cho một xã hội công dân đang nheo nhóc quyền con người, hay vẫn sẽ ngày đêm săn đuổi “các lực lượng thù địch”?

Thông điệp đầu năm của Thủ tướng: Dân chủ và Pháp quyền

NQL: Bác Thanh Thảo khôn chết được, chắc bác vừa nức nở viết bài này vừa nhếch mép cười. Hi hi.

Thực lòng rất mừng khi thấy TT nghĩ đến Dân chủ và Pháp quyền. Lâu nay cứ tưởng TT loay hoay loanh quanh quyết liệt mấy món DNNN, ngân hàng, nợ xấu, vàng, Bauxite, Vinalines, Vinashinv.v.. Ai ngờ quay ngoắt 180 độ, TT nói về dân chủ và Pháp quyền, mừng quá là mừng.

Chỉ cần TT nghĩ được, nói ra được là mừng rồi chứ làm thì hổng được đâu.

Không phải nghi ngờ năng lực TT, cũng không phải vì câu nói dzậy mà không phải dzậy. Muốn làm được thì TT phải cho sửa Hiến pháp 2013 mà QH vừa thông qua. Một khi cái HP ấy là hiến pháp của đảng chủ, đảng quyền thì TT làm dân chủ và pháp quyền là TT vi hiến đấy TT ơi!

Thanh Thảo Theo một thế giới   – Vào đúng ngày Tết dương lịch (1.1.2014) Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã có bài viết quan trọng gửi đến toàn dân. Đây có thể coi là Thông điệp đầu năm của Thủ tướng. Đã có những nét mới trong Thông điệp này, mà nổi bật nhất là quan điểm về Dân chủ và Pháp quyền.

Thông điệp viết: “Dân chủ và Nhà nước pháp quyền là cặp “song sinh” trong một thể chế chính trị hiện đại”. Điều này không mới, nhưng nhấn mạnh đúng tầm mức quan trọng của nó trong thời điểm này là điều mới mẻ.

Bởi, không một xã hội có tổ chức nào lại thiếu pháp luật, lại không dùng tới pháp quyền, trừ xã hội công xã thời Nghiêu Thuấn mang nhiều yếu tố huyền thoại. Nhưng, nếu xã hội chỉ dùng Pháp quyền cai trị không thôi, thì với thế giới bây giờ, xã hội ấy sẽ không thể phát triển, thậm chí, sẽ bị rơi vào tình trạng “ốc đảo” của sự cô lập.

Vì vậy, Pháp quyền luôn phải song hành cùng Dân chủ. Đúng là như một cặp “song sinh”. Tự thân nó, Dân chủ chỉ là ý thức của công dân về dân chủ. Nhưng nếu cơ chế dân chủ được phát huy thực chất trong xã hội pháp quyền, cơ chế ấy sẽ bảo đảm cho người dân những quyền cơ bản làm người, cũng như những quyền cơ bản tham gia xây dựng một thể chế phù hợp với sự phát triển, trong khi vẫn bảo đảm được nhân quyền.

Xã hội Pháp quyền không phải là xã hội mà cứ ra đường là gặp công an (nhưng lúc cần có sự can thiệp giữ gìn trật tự thì công an lại chẳng thấy đâu), đó phải là một xã hội mà pháp luật rõ ràng, chặt chẽ, và mọi công dân đều phải tuyệt đối bình đẳng trước pháp luật.

Khi điều này chưa thực hiện được, thì cũng chưa có xã hội pháp quyền. Còn dân chủ, không phải ai muốn làm gì thì làm, mà chỉ được làm những gì pháp luật không cấm. Nghĩa là không được làm những gì pháp luật cấm.

Phải minh bạch điều này, thì sẽ không còn ai phải “lăn tăn” gì về dân chủ nữa. Nhưng phải có dân chủ, bắt đầu từ ý thức dân chủ rồi tới những quyết định, những hành xử mang tính dân chủ, cao nhất là một thể chế dân chủ “do dân và vì dân” thực sự chứ không phải chỉ trên khẩu hiệu.

Khi có một đại biểu quốc hội đương nhiệm đề nghị “Khoan hãy ban bố Luật biểu tình, vì lý do cần ổn định chính trị hay vì ý thức người dân chưa cao” thì đó là sự ngụy biện mang tinh thần nô lệ hơn là có ý thức dân chủ.

Luật biểu tình, cũng như nhiều luật khác, là nhằm đảm bảo quyền dân chủ của công dân trong khuôn khổ pháp luật. Ở những quốc gia phát triển và dân chủ, chính nhờ luật biểu tình mà người dân có thể tự do bày tỏ chính kiến của mình trong trật tự, kẻ nói có người nghe, chứ không phải mạnh ai nấy nói, và chẳng ai nghe ai cả.

Nghĩa là Luật biểu tình, bảo đảm cho chính sự thực thi nghiêm minh của pháp luật, chứ không hề ngăn cản nó. Cùng với bảo đảm quyền dân chủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng Nhà nước pháp quyền. Đây là mối quan hệ giữa dân chủ và kỷ cương. Người viết “Trăm điều phải có thần linh pháp quyền”.

Nhà nước pháp quyền phải thượng tôn pháp luật. Pháp luật phải bảo đảm được công lý và lẽ phải. Mọi hạn chế quyền tự do của công dân phải được xem xét cẩn trọng và chủ yếu nhằm bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội và những giá trị văn hóa, lịch sử, đạo đức tốt đẹp của dân tộc. Người dân có quyền làm tất cả những gì pháp luật không cấm và sử dụng pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Cơ quan nhà nước và cán bộ, công chức chỉ được làm những gì mà pháp luật cho phép. Mọi quyết định quản lý của Nhà nước đều phải minh bạch.” (Thông điệp 2014 của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng)

Cái mới ở Thông điệp đầu năm 2014 này là ở tính minh bạch của nó về những vấn đề trọng yếu của quốc gia, dù không còn là mới, nhưng chưa bao giờ được giải quyết triệt để và thỏa đáng. Người dân đang trông chờ rất nhiều những hành động cụ thể của nhà nước và chính phủ để hiện thực hoá Thông điệp đầu năm này.

VOA – Ý kiến trái chiều về thông điệp của Thủ tướng Việt Nam

(…) Ông Dũng nói: “Theo tôi đánh giá, ông Nguyễn Tấn Dũng là một trong những người có khả năng phát biểu, thuyết trình và ra những văn bản mà nghe thì có vẻ như là rất là đổi mới nhưng mà thực tế thì còn phải kiểm nghiệm nhiều. Trước đây, vụ Tiên Lãng, vụ Đoàn Văn Vươn, gần như ngay lập tức, ông Nguyễn Tấn Dũng đã có những văn bản chỉ đạo, xử lý nghiêm túc và đúng người đúng tội trong vụ này. Nhân dân, nhiều người rất hồ hởi, người ta nghĩ rằng là gia đình ông Vươn có thể được tuyên bố là vô tội. Nhưng chính quyền Hải Phòng vẫn xử một bản án tương đối là nặng. Thứ hai, ông Nguyễn Tấn Dũng từng tuyên bố trước quốc hội rằng phải sớm có luật biểu tình, nhưng tới giờ vẫn chưa ra được luật đó”.

Tiến sỹ Nguyễn Quang A cho rằng thông điệp đầu năm của ông Dũng ‘nêu ra những vấn đề rất là quan trọng của đất nước’ và ‘nếu chính phủ hoặc thủ tướng hiểu đúng các vấn đề đó và cương quyết làm những vấn đề nêu ra thì đó là một điều tốt cho đất nước này’.

Các nhà quan sát cho rằng điểm đáng chú ý là ông Dũng đã nêu ra các vấn đề như dân chủ, pháp quyền và quyền làm chủ của người dân, trong bối cảnh Việt Nam vẫn bị chỉ trích vì thiếu những điều đó.

Ông A cho VOA Việt Ngữ hay rằng phát biểu của Thủ tướng Việt Nam về các vấn đề đó ‘không có gì bất ngờ’.  Ông nói: “Từ trước tới nay người ta vẫn nói như thế. Cái gọi là quyền làm chủ tập thể của nhân dân là từ thời ông Lê Duẩn, tức là cách đây 3 – 4 chục năm rồi, chứ không phải bây giờ. Làm chủ rồi dân chủ, người ta đã nói cách đây cả 5 – 6  chục năm rồi, không phải là cái gì mới cả. Pháp quyền cũng như thế. Tôi chỉ lưu ý một điểm là, người ta nói luôn một cái gọi là xã hội chủ nghĩa đi sau, tức là dân chủ xã hội chủ nghĩa, pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Cái sự mơ hồ, đó chính là cụm từ xã hội chủ nghĩa ở đằng sau. Cho nên, nếu người ta hiểu tất cả những điều đó như tuyệt đại bộ phận nhân dân thế giới hiểu thì đi một nhẽ, còn hiểu theo kiểu của các ông ấy từ trước tới nay, thì nó lại đi một nhẽ”.

Trong bài phát biểu của mình, Thủ tướng Việt Nam nói: “Chế độ xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng phải ưu việt hơn về dân chủ và đảng ta phải nắm chắc ngọn cờ dân chủ”.

Ông A cho rằng cần phải ‘cẩn trọng’ đối với các ngôn từ như vậy vì ‘họ có thể dùng những từ ngữ mang những ý nghĩa hoàn toàn khác’.

Theo chuyên gia từng nhiều lần lên tiếng về các vấn đề nổi cộm ở Việt Nam, người Việt ‘đã nghe quá nhiều những thông điệp rất là hay, rất là kêu rồi, nhưng mà thực chất nó không phải như vậy’.  (…)

Vụ Kim Jong Un xử tử chú dượng bằng 120 con chó đói:
Bao giờ ta có thể làm được như họ?

Tâm Sự Y Giáo –  Cả ngày hôm nay mình bận đi làm nên mãi đến tối mới vào mạng đọc tin. Đọc đến bài trên báo Thanh Niên: Kim Jong Un cho chó đói ăn thịt ông Jang Song Thaek, (bản tin gốc ở đây), bỗng dưng mình cảm thấy tay chân bủn rủn, xây xẩm mặt mày vì … choáng.

Choáng vì hình thức xử tử ghê rợn và tàn bạo hơn cả thời trung cổ: Ông Jang Song Thaek cùng với 5 cộng sự bị lột trần truồng rồi bị đưa vào chuồng cho 120 con chó bị bỏ đói từ 3 ngày trước ăn thịt trước sự chúng kiến của Kim Jong Un và 300 cán bộ cao cấp.

Choáng vì không thể hình dung nổi một người trẻ tuổi như Kim Jong Un có thể nghĩ ra cách xử tử mới kinh tởm đến mức phát nôn ọe đến như thế.

Choáng vì Kim Jong Un đã dùng cách xử tử có một không hai này cho chính ông chú dượng, người đã từng dìu dắt, nâng đỡ và bảo vệ y từ những ngày đầu cầm quyền.

Chợt nhớ lại bài trả lời phỏng vấn của ông Đại sứ Việt Nam Lê Quảng Ba tại Bình Nhưỡng bốc mùi nâng bi Bắc Triều Tiên (ở đây), trong đó có câu nổi tiếng: Không biết bao giờ ta có thể làm được như họ, mình lại choáng!  (…)

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s