Ai kiềm hãm dân chủ?

Posted: February 12, 2014 in Uncategorized
Tags:

Nguyễn Hưng Quốc (VOA) – Không thể phủ nhận được giá trị, sự cần thiết và xu hướng phát triển tất yếu của dân chủ, giới cầm quyền Việt Nam, và cùng với họ, các cán bộ tuyên huấn cũng như gần đây, các “dư luận viên” được trả lương để nói quấy nói quá trên các diễn đàn mạng, thường tìm mọi cách để trì hoãn tiến trình dân chủ hóa. Hai lý do thường được đưa ra: Một, mỗi quốc gia và mỗi nền văn hóa có một mô thức dân chủ riêng; nước này không có quyền áp đặt mô thức dân chủ của mình lên các nước khác; và hai, Việt Nam chưa sẵn sàng cho một nền dân chủ đa đảng kiểu Tây phương.

Xem thêm: Nói láo, nói láo, đại nói láo + Dư luận Việt Nam lên án hình thức ‘xử lưu động’ 

Lý do thứ nhất, thật ra, là bắt chước từ luận điểm về các giá trị đặc thù của châu Á (Asia values) của Lý Quang Diệu, nguyên Thủ tướng Singapore, và Mahathir Mohamad, nguyên Thủ tướng của Malaysia, trong thập niên 1990. Nội dung của quan điểm này là: văn hóa Á châu khác hẳn văn hóa Âu châu và Bắc Mỹ, hoặc, nói cho gọn, Tây phương. Trong khi văn hóa Tây phương dựa trên Thiên Chúa giáo và tinh thần duy lý của triết học cổ đại Hy Lạp, văn hóa Á châu dựa trên Phật giáo, Nho giáo, Lão giáo và Hồi giáo; trong khi nền văn hóa trên được xây dựng trên nền tảng của chủ nghĩa cá nhân, nền văn hóa dưới được xây dựng trên nền tảng của tinh thần tập thể và cộng đồng; trong khi nền văn hóa trên đề cao tinh thần cạnh tranh, thích đối đầu và nhắm đến tham vọng chinh phục và khống chế, nền văn hóa dưới đề cao tinh thần hài hòa và đồng thuận, sẵn sàng hy sinh lợi ích của mình cho cộng đồng. Hệ quả, về phương diện chính trị, người Á châu dễ dàng cảm thấy hài lòng dưới những chế độ dễ bị Tây phương xem là độc tài: Với họ, đó là điều hợp lý và cần thiết vì nhờ vậy, họ đạt được nhiều mục tiêu chung, trong đó, quan trọng nhất là sự ổn định và phát triển.

Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng tài chính ở châu Á vào năm 1997 dẫn đến sự suy thoái của nhiều nước, đặc biệt tại Indonesia, Thái Lan, Hàn Quốc, Hong Kong, Malaysia, Lào và Philippines… khiến người ta đặt lại vấn đề: Những cái gọi là tinh thần cộng đồng hay tập thể không bảo đảm được sự phát triển và ổn định. Sự suy thoái của Nhật Bản trước đó cũng đã chứng tỏ điều đó. Từ những cuộc khủng hoảng ấy, người ta nhận thấy: kinh tế và chính trị có những quy luật riêng, có tính phổ quát, bất kể các dị biệt về văn hóa; thậm chí, một số giá trị văn hóa mâu thuẫn với những quy luật ấy có thể bị xem là có hại và không có lý do gì phải cố duy trì.

Cuộc khủng hoảng kinh tế ở Mỹ và các quốc gia Tây phương mười năm sau đó (từ 2007) làm cho những sự phê phán vừa kể dịu lại. Tuy nhiên, nó cũng làm cho các chính khách châu Á thấy hoang mang và mất tự tin, từ đó, người ta ít nhấn mạnh một cách quá đáng vào những cái gọi là giá trị đặc thù của văn hóa Á châu. Ở Việt Nam, giới lãnh đạo và giới tuyên huấn cũng bớt mạnh miệng.

Thế vào đó, họ nêu lên lý do thứ hai: người Việt chưa đủ điều kiện để xây dựng một nền dân chủ thực sự và lành mạnh. Đó là những điều kiện gì? Không ai nói ra một cách cụ thể, nhưng hầu như ai cũng hàm ý này: Một, trình độ dân trí còn thấp; và hai, sự chia rẽ, thậm chí, thù hận, còn quá nặng nề.

Về lý do thứ nhất, trình độ dân trí (có người diễn tả một cách văn hoa hơn: tinh thần dân chủ), có nhiều vấn đề:

Một, về phương diện lý thuyết, cho đến nay, các nhà nghiên cứu vẫn chưa tìm được câu trả lời thỏa đáng cho câu hỏi này: giữa cơ chế dân chủ và tinh thần dân chủ, yếu tố nào xuất hiện trước và là tiền đề cho yếu tố kia? Một số người đáp: thể chế cần có trước để làm cơ sở, từ đó, làm nảy nở tinh thần dân chủ. Một số người khác lại đáp: cần có tinh thần dân chủ trước, nếu không, mọi thể chế, dù dân chủ đến mấy, cũng sẽ dẫn đến khủng hoảng mà hậu quả cuối cùng là làm sụp đổ cái cơ chế dân chủ vừa mới manh nha. Vấn đề này khá phức tạp, cần nghiên cứu riêng, do đó, tôi xin tạm gác lại cho một bài khác.

Hai, về phương diện thực tế, có thực trình độ dân trí Việt Nam còn thấp quá hay không? Ở đây, lại có nhiều vấn đề: Một, ngay cả khi dân trí Việt Nam còn thấp thì, như nhiều người đã chỉ, dân trí Việt Nam hiện nay dù sao cũng cao hơn “quan trí”, tức trình độ trí thức của giới lãnh đạo. Trong trường hợp này, không thể lấy trình độ của giới lãnh đạo để đo lường trình độ của dân chúng được. Làm vậy không những sai lầm mà còn là một sai lầm có tính lừa bịp. Hai, không thể chối cãi là dân trí Việt Nam chưa cao, nhưng chắc chắn là, nói chung, nó không thể thấp hơn trình độ dân trí của Mỹ và Pháp trong thế kỷ 19, thời khai sinh của dân chủ hay trình độ dân trí của nhiều quốc gia Âu châu trong nửa đầu thế kỷ 20 (ở đây, tôi chỉ nói đến trình độ dân trí nói chung chứ không so sánh các đỉnh cao, trình độ của giới ưu tú – elite – trong xã hội giữa các nước, điều, thành thực mà nói, về nhiều phương diện, chúng ta vẫn còn thua khá xa!)

Ba, nếu trình độ dân trí Việt Nam thấp thật thì đâu là nguyên nhân của sự thấp kém ấy? Không nên quên, ở Việt Nam, đảng Cộng sản đã bắt đầu cầm quyền từ năm 1945: đến nay, đã gần 70 năm. Nếu tính, chỉ ở miền Bắc: đã 60 năm. Muộn hơn, trong cả nước: gần 40 năm. Một chế độ lúc nào cũng tự nhận là đỉnh cao của trí tuệ và lúc nào cũng huênh hoang về các cuộc cách mạng do họ tiến hành, từ cách mạng quan hệ sản xuất đến cách mạng văn hóa tư tưởng và cách mạng khoa học kỹ thuật, tại sao lại có thể để cho dân trí cứ thấp lè tè và lẹt đẹt mãi như vậy? Đổ lỗi cho chiến tranh ư? Nhưng chiến tranh cũng đã kết thúc gần 40 năm rồi. Vậy, tại sao? Chỉ có một trong hai lý do: hoặc họ bất lực trong việc nâng cao dân trí hoặc họ cố tình kiềm hãm sự phát triển của dân trí bằng các chính sách ngu dân thâm độc?

Về lý do thứ hai, sự thù hận, ai cũng đồng ý: đó là một sự thật. Một trong những di sản lớn nhất của chiến tranh là thù hận. Chiến tranh càng kéo dài, thù hận càng sâu sắc. Ở đâu cũng vậy. Nhưng lại cũng không nên quên: chiến tranh Việt Nam đã kết thúc gần 40 năm rồi. Cho đến bây giờ, thành thực mà nói, rất hiếm người thù hận vì chiến tranh. Người ta thù hận vì những gì xảy ra sau chiến tranh: các chính sách cướp bóc cũng như trả thù của chính quyền đối với những người thua trận. Phong trào vượt biên dấy lên ào ạt là vì những chính sách ấy chứ không phải vì chiến tranh. Nếu không có các vụ tịch thu tài sản, đuổi đi kinh tế mới cũng như các vụ học tập cải tạo kéo dài đằng đẵng và sự kỳ thị đối với con cái những người bị bắt đi cải tạo, có lẽ không mấy người cảm thấy thù hận.

Sự thù hận trong chiến tranh là điều có tính chất gần như số phận: đã có chiến tranh thì có thù hận, không thể khác được. Nhưng những sự thù hận sau chiến tranh thì lại là một lựa chọn của chính quyền. Có thể nói, trong hơn nửa thế kỷ vừa qua, đảng Cộng sản Việt Nam có hai sai lầm lớn: Một, phát động chiến tranh một cách không cần thiết sau Hiệp định Geneva; và hai, kết thúc cuộc chiến tranh một cách hẹp hòi và thiển cận. Sự thù hận mà người ta hay nói hiện nay chính là hệ quả của cả hai sai lầm ấy.

Hơn nữa, cho dù vấp phải hai sai lầm dẫn đến thù hận vừa kể, đảng Cộng sản và nhà cầm quyền Việt Nam cũng có thừa thời gian và thừa cơ hội để xóa bỏ sự thù hận ấy, nếu họ muốn. Gần 40 năm: gần hai thế hệ. Ở Nam Phi, khi Nelson Mandela lên cầm quyền vào năm 1994, chỉ một thời gian ngắn sau, mọi thù hận giữa người da đen và da trắng chấm dứt. Ở Việt Nam, nếu chỉ tính từ năm 1986, lúc phong trào đổi mới được phát động, nếu chính quyền có thực tâm hòa hợp và hòa giải, trong vòng 30 năm, họ có thể xóa bỏ hoặc ít nhất, làm nguôi ngoai sự thù hận ấy rất nhiều.

Trên nguyên tắc, sự thù hận bao giờ cũng là cảm giác của các nạn nhân, nghĩa là, của những người thua cuộc. Bị đè nặng bởi cảm giác thù hận, các nạn nhân làm nạn nhân đến hai lần: nạn nhân của bạo lực và, cùng lúc cũng như sau đó, nạn nhân của sự thù hận. Tính-nạn-nhân chỉ có thể được chấm dứt từ một trong hai, hoặc từ cả hai nguồn: sự bao dung của chính họ hoặc thiện chí của những người gây ra khổ nạn cho họ. Bao dung không, thật ra, không đủ. Sự bao dung có thể kéo dài tính-nạn-nhân thay vì chấm dứt nó. Sự bao dung chỉ có ý nghĩa khi nó đi kèm với thiện chí của tội phạm đồng thời là những kẻ đang nắm giữ quyền lực. Nelson Mandela chỉ chấp nhận hòa hợp hòa giải với chính quyền do người da trắng cầm đầu chỉ với điều kiện: chính quyền phải chấp nhận người da đen và sẵn sàng chia sẻ quyền lực với những người da đen.

Bởi vậy, sự thù hận của những người Việt Nam ở hải ngoại hay ở miền Nam, nếu có, không phải tự họ, xuất phát từ họ. Mà là từ phía chính quyền: chính quyền hoàn toàn không có bất cứ một chính sách hòa giải thực sự nào cả trừ những câu nói đãi bôi và giả dối. Khi chính quyền vẫn tiếp tục kỳ thị, tiếp tục trấn áp những người bất đồng chính kiến thì chính quyền đang nuôi dưỡng sự thù hận. Khi cho sự thù hận là nguyên nhân làm trì hoãn tiến trình dân chủ, nhà cầm quyền cũng thừa nhận: chính mình là nguyên nhân gây ra tình trạng trì trệ của dân chủ.

Có thể nói, khi cho trình độ dân trí thấp và sự thù hận giữa người Việt Nam là những lý do chính để trì hoãn dân chủ, nhà cầm quyền Việt Nam đang tự buộc tội chính mình.

Nói láo, nói láo, đại nói láo

Lê Diễn Đức (Dân Luận) Theo báo Người Việt – Dối trá và bạo lực là bản chất và đặc tính của hệ thống chính trị độc tài toàn trị. Trong hệ thống này, nhà nước thả sức thao túng bằng các phương tiện truyền thông độc quyền, nhồi sọ dân chúng những lý thuyết mị dân, che giấu bộ mặt xấu xa trước dư luận quốc tế.

Ðáng tiếc, thời buổi thông tin ngày nay không cho phép họ thực thi được hoàn toàn những ý định của mình. Nhờ phương tiện Internet phổ cập, dư luận xã hội đã có những phản ứng mau lẹ và kịp thời, vạch trần sự lừa mị giáo điều và giả dối.

Cuộc kiểm điểm định ký phổ quát về nhân quyền của Liên Hiệp Quốc UPR tại Genève trong những ngày đầu tháng 2 năm 2014 đã minh chứng rất rõ. Chính quyền cộng sản Việt Nam đưa ra những tuyên bố cũ rích, đã được sử dụng không biết bao nhiêu lần. Trước những câu hỏi và kiến nghị về cải thiện nhân quyền, phái đoàn Việt Nam như những con vẹt bị bịt tai, bịt mắt, cúi gằm mặt xuống đọc bài được soạn sẵn, thậm chí không ăn nhập gì với trọng tâm của câu hỏi.

Họ nói láo không biết ngượng, rằng, “Việt Nam có tự do ngôn luận”, “Việt Nam không có tù nhân chính trị”, “Việt Nam không kiểm duyệt Internet”, “Tòa án xét xử công bằng”, bla, bla,…

Xin hỏi ngoài 800 tờ báo đảng và hàng chục đài phát thanh, truyền hình trong hệ thống tuyên truyền của đảng, có tờ báo tư nhân nào không?

Tự do ngôn luận ở đâu, khi Bộ Thông Tin và Truyền Thông khẳng định Việt Nam sẽ không có báo chí tư nhân và điều 258 của Bộ Luật Hình Sự sẵn sàng quy chụp, bỏ tù những ai có ý kiến khác với nhà cầm quyền? Tổ chức Phóng Viên Không Biên Giới (RSF) có trụ sở tại Pháp trong bản phúc trình thường niên, một lần nữa liệt kê Việt Nam vào danh sách 5 nước “kẻ thù của Internet 2013” trên thế giới, đứng ở vị trí gần cuối bảng 172/179, chỉ sau Trung Quốc về số nhà báo bị cầm tù.

Không kiểm duyệt Internet, cớ sao ngày 5 tháng 5 năm 2010, tại Hội Nghị Toàn Quốc triển khai nhiệm vụ của các cơ quan báo chí do Ban Tuyên Giáo Trung Ương chủ trì, tướng công an vũ Hải Triều khoe khoang “bộ phận kỹ thuật đã phá sập 300 mạng và blog cá nhân xấu”?

Tự do Internet ở đâu, khi mà nghị định của chính phủ số 72/2013/NÐ-CP về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet nhằm kiểm soát chia sẻ thông tin trên mạng xã hội?

Tự do Internet và ngôn luận ở đâu, khi Nghị định 174/2013/NÐ-CP áp dụng từ ngày 15 tháng 1, 2014 phạt từ 70 đến 100 triệu đồng các hành vi hành vi nói xấu nhà nước trên mạng xã hội.

Bài “Sự bùng nổ của Facebook và một số vấn đề đặt ra” trên tờ Nhân Dân, cơ quan ngôn luận của đảng, ngày 6 tháng 1 năm 2014, là gì, nếu không phải là dọn đường cho sự ngăn chặn hoàn toàn mạng xã hội với 19,6 triệu người sử dụng này?

Tiến Sĩ Cù Huy Hà Vũ viết một số bài trên mạng, trả lời phỏng vấn một số đài quốc tế BBC, RFA, VOA, kiện thủ tướng về vụ khai thác bauxite Tây Nguyên phá hoại môi sinh và an nguy cho an ninh quốc phòng, bị kết án tù 7 năm tù về tội “tuyên truyền chống phá nhà nước xã hội chủ nghĩa (XHCN)”, thì không phải là kiểm soát người sử dụng Internet và quyền tự do ngôn luận?

Với những bài viết trên mạng kêu gọi lòng yêu nước, tố cáo sự xâm chiếm lãnh hải và thái độ khiêu khích, hiếu chiến của Trung Quốc trên Biển Ðông, blogger Ðiếu Cày Nguyễn Văn Hải bị kết án nặng nề 12 tù về tội “tuyên truyền chống phá nhà nước XHCN Việt Nam”. Ðây không phải là kiểm duyệt thông tin, phỉ báng quyền tự do ngôn luận, thì là cái gì? Anh Nguyễn Văn Hải không phải là tù nhân chính trị ư?

Chỉ vì các bài viết phân tích các chính sách của đảng, vạch trần tham nhũng, đưa ra những nhận định chủ quan và khách quan về thời cuộc, về vai trò và uy tín của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng, mà nhà báo Trương Duy Nhất bị bắt giam. Ðây không phải là đàn áp tự do ngôn luận, kiểm duyệt Internet, thì là cái gì?

Cô Phạm Thanh Nghiên chỉ tọa kháng tại nhà ở của mình với khẩu hiệu “Hoàng Sa-Trường Sa là của Việt Nam” mà nhận bản án 3 năm tù. Ông Vi Ðức Hồi viết báo trên mạng phê phán đảng, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa tố cáo nạn tham nhũng, kêu gọi đa nguyên đa đảng, đều bị kết án nhiều năm tù, họ không phải tù nhân chính trị sao?

Biết bao nhiêu trường hợp khác nữa không thể nêu hết. Có sự lấp liếm, nói láo nào bỉ ổi hơn không? Một nhà nước ra trước diễn đàn quốc tế với một đội quân hùng hậu 30 người từ các bộ, mà sao lại có thể diễn trò tệ hại, nhục nhã như thế?

Còn về sự xét xử công bằng của tòa án? Xin lỗi, tòa án, viện kiểm sát hay chính xác là cả ngành tư pháp là công cụ của đảng cầm quyền.

Nói sao về 4 năm tù cho trung tá công an Nguyễn Văn Ninh đánh đến chết ông Trịnh Xuân Tùng ngay giữa đồn công an? Nói sao về vụ xử côn đồ Văn Giang đánh người bị thương? Về 10 năm tù oan gia của ông Nguyễn Thanh Chấn? Nói gì về sự phi lý trong vụ án xử Huỳnh Thị Huyền Như và Vietinbank? Nói sao về các vụ xử các nhà bất đồng chính kiến, tuyên bố xử công khai mà an ninh mật vụ phong toả, bắt bớ, cấm dân chúng tới tham dự, kể cả những người thân ruột thịt của gia đình?

6f071-b25c325a1otn Trên sân nhà, họ còn trơ trẽn và nhục nhã đến mức, bài “Việt Nam báo cáo LHQ về nhân quyền” trên tờ Vietnam.net ngày 5 tháng 2, 2014 và bài “Ðảng ta, tất cả vì hạnh phúc của nhân dân”của Giáo Sư Hoàng Chí Bảo trên tờ Thanh Niên, đã phải vội vã gỡ bỏ nhút nhấn “Like” và “Dislike”, chỉ vì nút nhấn “Dislike” quá nhiều (51) so với nút “Like” (2). Tương tự trên Vietnam.net, 5,595 “Dislike” so với 163 “Like”. Con đà điểu đã phải giấu đầu trong cát, không còn mặt nạ nào che giấu nổi trò “cả vú lấp miệng em” nữa!

Trong kỳ Kiểm Ðiểm Phổ Quát về nhân quyền lần này tại Genève, đoàn Việt Nam bị sửa lưng, vạch mặt nặng nề. Ngoại trừ “mèo khen mèo dài đuôi” của Trung Quốc, Cuba và vài nước Asean, hơn 100 nước đã đặt câu hỏi chất vấn và khuyến nghị. Ngay cả Miến Ðiện cũng đòi hỏi Việt Nam thúc đẩy dân chủ, tôn trọng pháp quyền và nhân quyền. Ðặc biệt sự có mặt của những đại diện các nhóm nhân sự đến từ trong nước và anh chị em từ nhiều nước trên thế giới tới tham gia hội thảo và cung cấp thông tin độc lập cho các quốc gia thành viên tham dự UPR, đã gây cho đoàn của nhà nước cộng sản Việt Nam sự khó chịu thực sự.

Ðoàn Việt Nam do Thứ Trưởng Hà kim Ngọc dẫn đầu, đã ngụy biện rằng, vì những “dị biệt” văn hóa nên có sự nhìn nhận khác nhau về nhân quyền, cam kết sẽ tiếp thu các ý kiến và tiếp tục đối thoại.

Trong phần mở đầu bản tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Hồ Chí Minh đã trích lời của Tuyên Ngôn Ðộc Lập Hoa Kỳ: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.” Có nghĩa rằng, đã là con người, không phân biệt quốc tịch, màu da, văn hóa, đều được hưởng những quyền tự do như nhau, giống nhau, không có loại nhân quyền riêng nào cho người Việt Nam mũi tẹt, da vàng, mà cũng chẳng có thứ nhân quyền nào riêng cho ông Tây tóc vàng, mắt xanh. Nhân quyền là giá trị phổ quát đã được nhân loại khẳng định.

Còn cam kết và đối thoại của nhà nước cộng sản ư? Ðã có hàng tá cam kết khi đặt bút ký vào các công ước, hiệp ước quốc tế đã bị chà đạp!

Ðối thoại ư? Ðối thoại với ai? Chắc chắn không có sự đối thoại sòng phẳng, cởi mở với dân chúng, vì với họ đã có sẵn các điều 79, 88, 258 của Bộ Luật Hình Sự. Trấn áp bằng bạo lực là phương tiện “đối thoại” duy nhất mà bộ máy công quyến có thể áp dụng.

Dối trá và hứa lèo vốn là hai mặt song song của một căn bệnh mãn tính không thuốc chữa của chế độ cộng sản Việt Nam.

Như ông Benjamin ismail, giám đốc phụ trách khu vực Châu Á của tổ chức phóng viên không biên giới, kết luận:

“Hà Nội không thể tiếp tục lừa bịp Liên Hiệp Quốc và thế giới kiểu này nữa. Hơn ai hết họ hiểu rõ những gì họ đang làm và những chính sách tàn bạo mà họ đang thực hiện.”

Dư luận Việt Nam lên án hình thức ‘xử lưu động’

(Người Việt) – Cái chết đột ngột của một thanh niên không muốn bị đưa ra trước phiên tòa lưu động khiến người dân tỉnh Quảng Nam bàng hoàng.

Lần đầu tiên, hình thức xử án công khai giữa bàng dân thiên hạ bị dư luận chỉ trích. Có người cho rằng, xử lưu động không khác hình thức đấu tố, thiếu nhân tính, đã xuất hiện ở miền Bắc Việt Nam từ những năm 1954 kéo dài đến nay.

Phiên tòa lưu động xử hai bảo mẫu hành hạ trẻ tại quận Thủ Ðức,
Sài Gòn thu hút hàng ngàn người tham dự. (Hình: báo Tuổi Trẻ)

Theo báo Tuổi Trẻ, một thanh niên tên Nguyễn Thanh K., cư dân huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam đã uống thuốc độc tự tử trước giờ bị đưa ra xử trước một phiên tòa lưu động ở huyện nhà. Nguyễn Thanh K. bị kết tội dùng điện thoại di động hù dọa một học sinh lớp 9 trong xóm để lấy 3 triệu đồng, tương đương 150 đô la. Hồ sơ điều tra của công an địa phương nói rằng, ông K. bảo em này đưa tiền chuyển cho một băng đảng để không bị họ giết.

Vụ án được chính quyền huyện Phú Ninh lên kế hoạch xử lưu động ngày 20 tháng 12, 2013, ba tháng sau ngày Nguyễn Thanh K. bị bắt. Tuy nhiên, bị cáo đã tự tìm lấy cái chết trước giờ bị điệu ra tòa, có lẽ vì quá xấu hổ.

Báo Tuổi Trẻ dẫn lời ông tổ trưởng nơi Nguyễn Thanh K. trú ngụ nói rằng, K. thường ngày hiền lành, chưa phạm tội, cũng không rượu chè, trộm cắp, quậy phá. Mẹ ruột của nạn nhân, bà Ðinh Thị Q. cho rằng, K. bị bạn bè xúi giục và đã biết hối lỗi sau khi lỡ phạm tội tống tiền một cậu bé.

Người ta chưa quên phiên tòa xử lưu động tại quận Thủ Ðức kết án hai bảo mẫu, mỗi người ba năm tù, về tội hành hạ, đánh đập 4 trẻ em hồi tháng 1, 2014. Phiên tòa quy tụ hàng ngàn cư dân địa phương, bảo nhau mang cà chua, trứng thối ném vào hai bị cáo. Nhiều tràng pháo tay vang dội hoan hô lời kết án bị cáo trước phiên tòa.

Theo bà Dương Thị Thu Hà, phó chánh án Tòa Cần Thơ, thành phố này đã mở 76 phiên tòa xử lưu động riêng trong năm 2013. Bà Thu Hà cho rằng, xử án lưu động là để răn đe, giáo dục người phạm tội hoặc người có ý định phạm tội, và “nâng cao sự hiểu biết pháp luật của người dân.”

Tuy nhiên, theo ông Bùi Quang Nghiêm, phó chủ nhiệm Luật Sư Ðoàn Sài Gòn, các vụ xử lưu động đặt bị cáo cùng gia đình họ trước một sức ép tâm lý khủng khiếp, vượt khỏi khả năng chịu đựng của con người. Theo ông, “đã đến lúc cần chấm dứt các vụ xử lưu động, vì thời buổi này việc tuyên truyền pháp luật không còn khó khăn như thời xưa.” (PL)

Bức ảnh về cảnh tác nghiệp của phóng viên gây nhiều tranh cãi gay gắt.

 

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.