Gạch nối giữa giáo dục và tự do

Posted: March 6, 2014 in Uncategorized
Tags:

Lịch sử loài người trở thành một cuộc chạy đua giữa giáo dục và thảm hoạ
(Human history becomes more and more a race between education and catastrophe – H.G. Wells)

Alan Phan (Quechoa) Theo blog Alan – Hôm nay một cuộc khảo sát trên tờ tạp chí khoa học Health Affairs xác nhận “giáo dục” là yếu tố quan trọng trong dự đoán số tuổi của con người. Một người xong đại học có tuổi thọ khoảng 10 năm lâu hơn là một người chỉ mới học xong trung học (kiểu ra chợ mua bằng cấp ở VN không tính).

Xem thêm: Bộ trưởng Phạm Vũ Luận cảnh báo hay tuyên chiến với “Bằng rởm”? + 24.000 tiến sĩ Việt Nam đang làm gì?

2 Tôi thường nghĩ là người làm việc lao động linh hoạt hơn với cơ bắp và không phải bận rộn với suy tư, áp lực từ trí tuệ chắc phải sống lâu hơn. Nhưng tôi lầm và cuộc khảo sát này cho thấy tiềm năng của giáo dục cao hơn chúng ta nghĩ. Ai cũng biết là “giáo dục” thường gia tăng lợi tức của một nhân viên ở Mỹ khoảng $6,000 cho mỗi năm học trên cấp đại học. Theo cảm nhận cá nhân, tôi nghĩ giáo dục cũng sẽ đem lại cho mình một tâm linh sâu đậm hơn, một tinh thần mạnh mẽ hơn (vì con người thường sợ hãi những điều họ không biết). Thêm vào đó, tôi nghĩ một người học thức thường cư xử văn minh hơn với đồng loại.

Tóm lại trong 6 yếu tố (sức khỏe, trí tuệ, tâm linh, tinh thần, xã hội, tài chánh) mà tôi cho rằng quan trọng trong cuộc sống hạnh phúc, trí tuệ đóng góp một phần đáng kể. Cái đòi hỏi của bao tử và hormone rất cần thiết (một người đói dài sẽ bỏ quên mọi thứ khác); nhưng muốn cuộc đời thăng hoa đúng nghĩa, chúng ta cần trí tuệ.

Cho nên khi Mao Trạch Đông gọi “trí thức là đống phân” hay khi Pol Pot diệt chủng để đưa đồng loại về thời ăn lông ở lỗ (vì giáo dục làm hư con người) hay khi chủ thuyết “tam vô” của đảng Lao Động TQ (vô tổ quốc, vô gia đình, vô tôn giáo) được hô hào khắp năm châu, tôi đã nghĩ chắc mình sống nhầm thế kỷ. Mọi người thì đã phải im lặng ngao ngán vì quá sợ hãi trước cái ngạo mạn của bạo lực.

Tuy nhiên, trời sẽ lại sáng và giáo dục phải là vũ khí bén nhọn nhất của người yếu thế. Kiến thức trên đám mây của Google là ánh mặt trời đang soi sáng cho nhân loại. Tôi không tin vào một siêu nhân hay một anh hùng nào sẽ xuất hiện để thay đổi thời thế. Đây là việc làm của từng người, gieo rắc kiến thức, khoa học…mỗi ngày vào từng cá nhân một trong xã hội; bắt đầu với những người thân yêu và các bằng hữu.

Chúng ta sẽ nói KHÔNG với sự ngu xuẩn, dối trá và bất nhân. Đó cũng là lý do tại sao tôi cho việc tiếp cận với kiến thức Internet của các trẻ vừa lớn quan trọng hơn bất cứ chương trình nào của quốc gia này.

Với giáo dục, chúng ta khỏe mạnh hơn (không ăn nhậu bừa bãi và tự đầu độc), chúng ta sáng suốt hơn (không bị những lời hoa mỹ bịp), thương người khác nhiều hơn (vì chúng ta biết so sánh chính mình với thế giới) và gần với Thượng Đế hơn (khi biết đọc và tìm hiểu thêm về văn hóa nghệ thuật). Quên, chúng ta cũng giàu hơn (nếu không vào lúc này thì sẽ có một ngày). Trên hết, một người có “giáo dục” là một con người tự do đúng nghĩa.

Hãy suy nghĩ thêm về lời của Claiborne Pell, ”Sức mạnh của Hoa Kỳ không phải là những thỏi vàng ở Fort Knox hay các vũ khí tiêu diệt tập thể mà là tổng số của giáo dục cộng với nhân cách của người dân (The strength of the United States is not the gold at Fort Knox or the weapons of mass destruction, but the sum total of the education and the character of our people).

Bộ trưởng Phạm Vũ Luận cảnh báo
hay tuyên chiến với “Bằng rởm”?

TS. Dương Xuân Thành (DĐ XHDS) Theo Giáo dục Việt Nam – Nhà sản xuất chi phối thị trường văn bằng “rởm” chính là ngành Giáo dục, còn nơi tiêu thụ, sử dụng bằng “rởm” nhiều nhất chính là các cơ quan nhà nước.

Chủ đề bằng “rởm’ hay bằng thật chất lượng “rởm” thường chỉ được các chuyên gia, nhà báo nói mạnh, những nhà quản lý tuy có nói song thường là khá nhẹ nhàng, với tinh thần “trung lập, không đứng về phía nào”.

May thay tại phiên họp ngày 25/2 của Hội đồng Quốc gia về giáo dục và phát triển nhân lực giai đoạn 2011 – 2015, chủ đề này được đích thân Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Phạm Vũ Luận khẳng định:

“Thực tế những người có bằng giả, hay bằng thật nhưng chất lượng giả chỉ có thể “chui” vào hệ thống công chức nhà nước, chứ không thể vào được các doanh nghiệp tư nhân”. Thật khó để nhận định đây chỉ là lời cảnh báo hay là lời tuyên chiến của Bộ trưởng với quốc nạn bằng rởm.

Cuộc đấu tranh chống hàng rởm, hàng nhái, hàng kém chất lượng phải nhằm vào hai đối tượng: người sản xuất/phân phối và người/nơi sử dụng hàng.

Bằng giả, thậm chí bằng thật nhưng “chất lượng” giả
sẽ không có đất sống ở các doanh nghiệp tư nhân (ảnh minh họa)

Riêng với các loại văn bằng, chứng chỉ “rởm” có thể chỉ rõ mà không sợ bị cho là hồ đồ: nhà sản xuất chiếm thị phần chi phối thị trường văn bằng “rởm” chính là ngành Giáo dục, còn nơi tiêu thụ, sử dụng bằng “rởm” nhiều nhất không đâu khác chính là các tổ chức đoàn thể, đặc biệt là các cơ quan nhà nước.

Theo lời một vị làm việc tại cơ quan Bộ GD&ĐT, trước đây văn phòng phía nam của Bộ có một cán bộ tên là H. cũng dùng bằng tiến sĩ rởm (người này đã chuyển công tác sang cơ quan khác).

Vấn đề là nếu phải phát động một cuộc chiến chống lại “quốc nạn” bằng rởm thì trước hết phải đánh vào đâu? Theo cơ chế thị trường, có cầu ắt sẽ có cung. Chẳng nhà sản xuất nào dại gì sản xuất mặt hàng không có người mua. Nếu xã hội không có nhu cầu văn bằng rởm thì những nhà sản xuất bằng rởm đương nhiên sẽ hết đường sinh sống.

Với kết luận này, cuộc chiến chống bằng rởm sẽ phải bắt đầu từ “người/nơi sử dụng bằng rởm” nghĩa là từ công tác cán bộ, từ cơ quan, doanh nghiệp nhà nước. Cần xem xét lại việc tuyển dụng công chức, viên chức, việc đề bạt, tăng lương, chế độ đãi ngộ… Nó cũng liên quan mật thiết tới hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp.

Tìm hiểu Luật hình sự thấy có hai điều: Điều 266. Tội sửa chữa, sử dụng giấy chứng nhận và các tài liệu của cơ quan, tổ chức; Điều 267. Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; không có tội “sử dụng bằng giả hoặc sử dụng bằng thật mà chất lượng giả ”.

Động chạm đến loại tội phạm này, các luật sư đành phải viện dẫn khoản 1 điều 267: “Người nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu, giấy tờ đó nhằm lừa dối cơ quan, tổ chức hoặc công dân, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”.

Trên một tờ báo ngày 23/12/2013 viết: “Hơn 100.000 sinh viên đại học thất nghiệp trong năm 2013”. Trong khi sinh viên tốt nghiệp hệ chính quy thất nghiệp hàng vạn người thì đội ngũ cán bộ, công chức, nhất là công chức cấp xã, huyện vẫn có rất nhiều người cầm trong tay tấm bằng tại chức? Chẳng ai là không biết câu vè truyền khẩu mấy chục năm nay khắp mọi miền đất nước: “dốt như chuyên tu, ngu như tại chức”.

Tất nhiên không thể vơ đũa cả nắm, không thể nói tất cả những người học tại chức đều yếu về kiến thức song phải thừa nhận phần lớn bằng tại chức đều là bằng thật mà trình độ giả. Chí có điều loại hình “bằng giả” này lại được khuyến khích bởi chính sách cán bộ, miễn là có bằng đại học, còn bằng loại gì và chủ nhân có nó bằng cách nào không quan trọng.

Một kết luận của Bộ GD&ĐT cho thấy: “Ngay từ năm 2001 Bộ GD& ĐT đã tiến hành thanh tra bằng giả, kết quả sau 04 năm đã phát hiện khoảng… một vạn bằng giả.[1] Đến nay, sau 15 năm đội ngũ “bằng giả” này chắc chắn không còn là một vạn mà là nhiều vạn người, họ đã hình thành nên một “nhóm lợi ích bằng giả” phân bố từ phường xã đến các cơ quan cấp cao.

Báo DânViệt ngày 20/8/2013 đưa tin: ông Nguyễn Bá Thuyền (đại biểu Lâm Đồng) và ông Chu Sơn Hà (đại biểu Hà Nội) nêu chất vấn trong kỳ họp Quốc hội: “có hay không lợi ích nhóm hay tham nhũng chính sách trong việc làm luật hay ban hành các văn bản quy phạm pháp luật”.

Câu trả lời của Bộ trưởng Tư pháp Hà Hùng Cường là: “chưa thể khẳng định là có tham nhũng chính sách hay lợi ích nhóm. Tuy vậy cũng không loại trừ có lỗ hổng trong kiểm soát”. [2]

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đã nhận định về dự thảo Luật Xây dựng: “quy định về giấy phép xây dựng như “quy định trên trời”. “Quy định như vậy chỉ chết dân”. [3]

Ai dám bảo đảm rằng dự thảo luật như vậy không lồng ghép lợi ích của cơ quan quản lý, của thanh tra xây dựng? Và liệu có ai dám khẳng định, rằng “nhóm lợi ích bằng giả” đông đến nhiều vạn người không đủ sức mạnh để chi phối các quá trình làm luật và thực thi pháp luật?

Như đã nói cùng với việc ngăn chặn người dân, cán bộ, công chức sử dụng bằng rởm thì phải triệt phá các cơ sở sản xuất bằng rởm, điều này không phải dễ vì có cơ sở ở trong nước, cũng có cơ sở ở nước ngoài. Phát biểu của Bộ trưởng Luận không hề gây sốc cho dư luận vì nó phản ánh một sự thật không thể chối cãi đang diễn ra hàng ngày ở bất kỳ cơ quan, địa phương nào của xã hội Việt Nam. (…)

Ôi, các ngài “đỉnh cao trí tuệ” tự sướng – nhìn đâu cũng thấy nhếch nhác bầy hầy…

24.000 tiến sĩ Việt Nam đang làm gì?

Chi Mai tổng hợp (VNN) – Theo số liệu thống kê mới nhất của Bộ GD-ĐT, tính đến năm 2013 có 633 tiến sĩ là giảng viên các trường cao đẳng, 8.519 tiến sĩ là giảng viên các trường đại học.

2 Trong khi đó, Việt Nam có khoảng 24.300 tiến sĩ.
Vậy 15.000 tiến sĩ đang làm việc ở những đâu?

Nhiều quan chức

Nếu tính từ hàm Thứ trưởng trở lên, số người có trình độ tiến sĩ ở Việt Nam cao gấp 5 lần Nhật Bản. Đó là tiết lộ của TS Nguyễn Khắc Hùng, nguyên Chuyên viên Đối ngoại, Học viện Hành chính Quốc gia khi nói về sự kiện 8 chủ tịch Tỉnh bị Thủ tướng yêu cầu kiểm điểm do báo cáo sai thiệt hại do thiên tai năm 2012.

Cách đây không lâu, Hà Nội công bố “chiến lược cán bộ công chức” với mục tiêu đến năm 2020 phấn đấu 100% cán bộ khối chính quyền diện Thành ủy quản lý có trình độ tiến sĩ. Theo đó, 100% cán bộ diện UBND TP quản lý có trình độ trên đại học, trong đó một nửa cần đạt trình độ tiến sĩ, 100% cán bộ chủ chốt xã, phường, thị trấn có trình độ đại học, trong đó 50% trên đại học.

Lãnh đạo các tổng công ty, tập đoàn, doanh nghiệp… trên danh thiếp hầu hết đều kèm hai chữ TS.

Và tiến sĩ cho dù có đang làm gì đi nữa, thì công tác nghiên cứu khoa học đối với họ chắc chắn không phải là việc trọng yếu. Bởi, hiện nay, Việt Nam được xếp vào nước có nhiều tiến sĩ trong khu vực nhưng nghiên cứu khoa học lại nằm trong nhóm thấp nhất Đông Nam Á. Chúng ta vẫn thiếu các công trình khoa học có tầm cỡ khu vực và ít các sáng chế.

Theo thống kê của Bộ Khoa học – Công nghệ (KH-CN), cả nước có 24.300 tiến sĩ (TS) và 101.000 thạc sĩ. So với năm 1996 đội ngũ này tăng trung bình 11,6%/năm, trong đó TS tăng 7%/năm, thạc sĩ tăng 14%/năm.

PGS-TS Phạm Bích San, Phó tổng thư ký Liên hiệp Các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam (VUSTA), cho biết: “Số giáo sư, tiến sĩ chúng ta nhiều nhất Đông Nam Á nhưng không có trường ĐH Việt Nam nào được đứng trong bảng xếp hạng 500 trường ĐH hàng đầu thế giới”.

Tiến sĩ rởm “bị lộ” đã từng làm việc ở những đâu?

Có đến 21 trường đại học đã và đang có mặt tại Việt Nam không được công nhận bởi các cơ quan kiểm định giáo dục có thẩm quyền từ Hoa Kỳ.

Chắc chắn không ít lãnh đạo các tập đoàn, cơ quan Nhà nước có bằng Thạc sỹ của Đại học Irvine và bằng Tiến sĩ của Đại học Nam Thái Bình Dương. Cả hai trường Đại học này đều là trường rởm (degree-mill) bị báo chí phanh phui suốt mấy năm qua.

Đầu tháng 6/2010, dư luận tỉnh Phú Thọ xôn xao khi được biết ông Nguyễn Ngọc Ân, giám đốc Sở Văn hóa – Thể thao và du lịch tỉnh Phú Thọ đã có học vị tiến sĩ với đề tài “Vấn đề di sản văn hóa với việc phát triển kinh tế du lịch tỉnh Phú Thọ”. Với tấm bằng cử nhân tại chức kinh tế – quốc dân khóa 24 (lớp học được tổ chức tại thành phố Việt Trì), không biết tiếng Anh, ông Ân nâng cấp cho mình bằng tấm bằng tiến sĩ tại trường đại học Nam Thái Bình Dương của Mỹ.

“Tiến sĩ” Nguyễn Văn Ngọc, thời điểm còn là Phó Bí thư Tỉnh ủy Yên Bái, cũng lấy bằng Tiến sĩ ĐH Nam Thái Bình Dương chỉ trong 6 tháng với 17.000 USD.

Đang đình đám là “tiến sĩ kinh tế” Dương Chí Dũng. Sau khi tốt nghiệp phổ thông, Dương Chí Dũng chọn con đường đi xuất khẩu lao động ở Cộng hòa dân chủ Đức vào những năm cuối thập niên 1980. Đầu năm 1994, ông Dũng về Việt Nam và làm cán bộ Liên hiệp Các xí nghiệp nạo vét và sau đó làm phó giám đốc cho Công ty nạo vét sông 1. Trong thời gian này, ông đã đi học lớp tại chức tại ĐH Hàng hải, tiếp đó học lấy bằng thạc sĩ, rồi tiến sĩ kinh doanh thương mại. Đến tháng 9.2003, ông Dũng được bổ nhiệm làm Tổng giám đốc Tổng cty Xây dựng đường thủy (Vinawaco). Hậu quả mà vị “tiến sĩ kinh tế” này để lại cho các đơn vị ông ta từng công tác đến nay ai cũng rõ.

7329e-nguyecc82cc83n2btacc82cc81n2bducc83ng2b-2bduongchidung

Advertisements
Comments
  1. […] Gạch nối giữa giáo dục và tự do […]

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.