Nguyên nhân của đất nước nghèo nàn

Posted: March 24, 2014 in Uncategorized
Tags:

Đức Thành (DQ) Theo Bauxite Việt Nam – Cả tuần nay, thông tin từ cả báo cả lề phải lẫn lề trái về việc tại cuộc họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội về hoàn thiện nội dung dự án Luật Đầu tư công, một vị đại biểu đã nói lên một sự thật rằng Việt Nam chúng ta làm 1 km đường cao tốc đắt gấp 3 lần của Mỹ, gấp 2,6 lần của Trung Quốc! Chưa hết báo chí cũng đồng loạt loan tin hàng loạt các sai phạm nghiêm trọng trên tuyến đường cao tốc Pháp Vân – Cầu Giẽ, rồi việc an ninh quốc phòng có nguy cơ bị ảnh hưởng như thế nào khi tuyến đường cao tốc Hà Nội – Lào Cai đi vào hoạt động và nguy cơ hàng hóa Trung Quốc sẽ tràn ngập thị trường Việt Nam khiến sản xuất trong nước bị đình trệ bởi lần lượt các tuyến đường cao tốc nối với Trung Quốc sẽ ra đời. Điều này dường như đã làm bùng lên thêm sự phẫn nộ trong nhân dân.

– ‘Báo chí VN chỉ là công cụ bị lợi dụng’ (BBC). – Không thể suy diễn chủ quan về tự do báo chí ở Việt Nam (QĐND).

Xem thêm: Ban và hành theo cơ chế “xin cho” + Bàn về “cơ chế xin – cho” + Cơ chế xin-cho “đúng đắn” quá lâu!

Thực ra, việc làm thất thoát lãng phí một cách cố tình, triền miên, không có hồi kết ở lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản (đầu tư công) cũng là một loại hình tham nhũng vì nó có sự câu kết, liên kết chặt chẽ với nhau nhằm đội giá vật liệu, trang thiết bị, nhân công, công tác thẩm định, rút ruột công trình, v.v.

Đảng đã biết hết việc này, nhưng vì Đảng đứng trên pháp luật và chỉ có người của Đảng trong các cơ quan liên quan đến đầu tư công, vì lợi ích nhóm nên các cơ quan của Đảng, các tổ chức Đảng cùng với các đảng viên có chức quyền trong guồng máy nhà nước đã cố tình né tránh không dám đưa sự cố tình gây thất thoát lãng phí, thổi giá vào phạm vi, đối tượng điều chỉnh của Luật Phòng chống tham nhũng ngay từ khi soạn thảo cũng như lúc sửa đổi để mà có các biện pháp ngăn ngừa xử lý một cách hiệu quả theo luật định.

Việc đội giá cao gấp nhiều lần các nước trong khu vực trong đầu tư xây dựng cơ bản nói chung và xây dựng đường sá nói riêng, nhất là đường cao tốc đã từng được nhiều người đặt vấn đề. Có nhà báo đã từng phỏng vấn nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt về vấn đề này ngay sau khi đường cao tốc Bắc Thăng Long – Nội Bài hoàn thành và đi vào sử dụng, nghĩa là việc đội giá trong xây dựng, đầu tư công đã được đề cập đến từ hơn 20 năm trước. Và nhà báo ấy đã nhận được một nụ cười ý nhị và một tiếng thở dài! Còn vấn đề nhà báo ấy đặt ra từ đó đến nay không biết có sự chỉ đạo của Ban Tuyên giáo hay không mà hơn hai mươi năm nay mới lại được đặt ra.

Nay không còn ai hỏi có hay không có chuyện đội giá. Đó là sự việc ai cũng biết xảy ra thường xuyên, như cơm bữa, hiển nhiên đến mức nó đã ăn sâu vào mọi mặt của đời sống xã hội.

Chuyện một đất nước còn rất nghèo như ở Việt Nam và sự làm giàu không phải bằng trí tuệ, chất xám của dân tộc, cũng như không phải làm giàu bằng cách nhà nước tự nguyện cho các chủ thể kinh tế được bình đẳng với nhau trong kinh doanh thì cơ chế ban phát xin cho từ những cán bộ có chức quyền là nguyên nhân chính của việc vì sao đường cao tốc quốc gia của một nước nghèo như ta lại đắt gấp ba bốn lần nước ngoài.

Cách gì để nhà nước lấy lại số tiền đã bị đội giá ở những công trình từ trước đến nay?

Chắc chắn vấn đề này sẽ không được bàn thảo thỏa đáng và cũng sẽ chẳng có cách gì để thu hồi số tiền đội giá này nếu như Đảng còn độc quyền lãnh đạo. Và như thế nhân dân và đất nước này sẽ còn phải làm trâu ngựa kéo cày để đóng góp sưu cao thuế nặng cho những ông trong “đội tiền phong của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam” tha hồ mà vẽ duyệt, quyết toán những công trình có giá cao gấp ba bốn lần nhưng chất lượng lại kém cũng gấp chừng ấy lần so với nước khác.

Việc đầu tư công sẽ không chỉ bị đội giá lên gấp ba lần nước Mỹ như báo chí đã nêu mà sẽ còn bị đội giá nhiều hơn nữa nếu đem so sánh thu nhập, lương bổng của người lao động Việt Nam với thu nhập của người lao động Mỹ!

Làm sao để ngăn ngừa sự đội giá tại các công trình hiện tại và trong tương lai?

Để ngăn ngừa được sự đội giá này rất cần nhiều biện pháp và phải được sự vào cuộc của toàn thể cộng đồng dân tộc Việt. Không phải “sự vào cuộc của toàn xã hội” dựa vào các đoàn thể do Đảng, nhà nước dựng ra, theo cách hiểu và giải thích của Đảng vì thực tế đó chỉ là những cánh tay nối dài của Đảng, do vậy sự giám sát đầu tư công từ trước đến nay chỉ là hình thức hời hợt và không lòe bịp được ai. Cần mạnh dạn giao cho các chủ thể kinh tế đủ mọi thành phần có kinh nghiệm tâm huyết, nhất là những chủ thể gắn liền và liên quan trực tiếp đến dự án đầu tư đó, tiến hành thi công, giám sát.

Còn nhớ cách đây gần 10 năm chương trình người đương thời của nhà báo Tạ Bích Loan trên VTV3 đã đề cập đến một nông dân tên Tuấn ở Thái Nguyên đã đầu tư 34 triệu đồng để làm một con đường rộng 5,5m dài 3,5km trên đất đồi rừng có cả hệ thống cống rãnh thoát nước giúp cho kinh tế bản làng quê anh phát triển rõ rệt từ lợi ích của con đường này do anh đầu tư. Khi được hỏi động cơ nào đã thúc đẩy anh làm con đường đó anh đã trả lời do xuất phát từ sự ân hận của anh khi chứng kiến cảnh mẹ mình bị bệnh mà không được chạy chữa kịp thời vì không có đường sá giao thông thuận tiện. Chỉ với 34 triệu đồng và một người nông dân không có kiến thức chuyên ngành về xây dựng cầu đường nhưng với lòng quyết tâm của anh và được sự sẻ chia chung sức của bà con, những người có đất nơi con đường của anh đi qua đã tặng lại cho công trình mà không cần lấy một đồng tiền đền bù nào. Trng khi đó, tôi từng chứng kiến có những địa phương vùng sâu vùng xa trước đây được tổ chức NGO là “Quỹ Tầm nhìn thế giới” đến đặt vấn đề giúp đỡ xây dựng phòng học mẫu giáo cho những địa bàn bản làng xa xôi, thì cán bộ xã thẳng thắn nói rằng nếu cho phép xây lớp mầm non thì họ sẽ được bao nhiêu tiền đút túi?!

Sự câu kết chung hưởng những khoản đội giá từ các công trình đầu tư xây dựng cơ bản đã trở thành một sự câu kết chặt chẽ từ những người có quyền lực thì việc ngăn chặn việc đội giá công trình là rất khó. Nhưng không phải là khó tới mức mà việc đội giá không thể chấm dứt được vì chỉ cần thực hiện những đòi hỏi chính đáng của dân tộc về dân chủ pháp quyền một cách triệt để theo đúng mô hình các nhà nước phát triển đang thực hiện, thì tự nhiên Việt Nam chúng ta sẽ hết mọi chuyện phi lý như hiện nay không chỉ trong lĩnh vực đầu tư công mà còn nhiều lĩnh vực khác.

Chỉ có điều Đảng có dám làm không?!

Ban và hành theo cơ chế “xin cho”

Lê Quý Hiền (SKKĐS) – Bất cứ Bộ nào trong Chính phủ cũng phải là cơ quan quản lý nhà nước, hoạch định chính sách phát triển trong lĩnh vực mình quản lý mang tầm vóc quốc gia chứ không thể là cơ quan ban phát theo cơ chế xin cho. Dư luận quả thật ngỡ ngàng trước những quyết định thay đổi đến chóng mặt của Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) trong khoảng một vài tháng gần đây. (Ai biết “Đỉnh Cao Trí Tuệ VN” nằm ở chỗ nào? HELP!)

Ngày 18/2 vì thấy một số cơ sở giáo dục mầm non tổ chức dạy ngoại ngữ thu tiền của phụ huynh nhưng không bảo đảm chất lượng và hiệu quả, ảnh hưởng tới sự phát triển của trẻ và việc thực hiện chương trình giáo dục nên có quyết định (QĐ) cấm tuyệt đối không dạy thêm ngoại ngữ cho trẻ, không quảng bá, tiếp thị các chương trình, phần mềm làm quen với ngoại ngữ.

Sau đúng một tháng, ngày 19/3, vẫn là Bộ GD&ĐT lại thấy những nơi có điều kiện và phụ huynh có nhu cầu, các cơ sở giáo dục mầm non được tổ chức thí điểm cho trẻ làm quen với ngoại ngữ khi bảo đảm điều kiện! Không hiểu điều kiện vật chất phải thế nào và các thầy cô đạt năng lực ngoại ngữ bậc 4 trở lên theo khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc có chịu về dạy mầm non không hay đây chỉ là cách “Cấm rồi phải xin sẽ cho”. Tùy tiện quá thể chứng tỏ Bộ không nắm được thực tế lĩnh vực mình quản lý để cơ sở và phụ huynh bất an sau mỗi QĐ.

Với hệ ĐH, trước mùa tuyển sinh, Bộ quyết định dừng tuyển sinh 207 ngành học hệ ĐH của 71 cơ sở đào tạo từ năm 2014 do không đáp ứng đủ các điều kiện quy định cũng khiến hàng vạn thí sinh nơm nớp lo trước cánh cửa mùa thi.

Thế rồi sau đó ít lâu, Bộ GD&ĐT họp báo công bố 62 ngành học bị dừng lại được tuyển sinh mà không ai hiểu được vì sao lại từ “dừng” đến “được”! Không lẽ 62 ngành học trên loáng cái có đủ 1 tiến sĩ, 3 thạc sĩ và 70% giảng viên cơ hữu ngay hay đấy là sự đối phó hoặc Bộ thích “dừng” để rồi có xin thì có cho?!

Lạ nữa là trong 207 ngành học bị dừng tuyển sinh chỉ có 62 ngành học được tiếp tục tuyển sinh theo công bố nhưng thực tế không phải thế. Hàng chục ngành học thuộc khối trường đào tạo nghệ thuật vẫn được tiếp tục tuyển sinh. Không lẽ vì có công văn từ Bộ VH-TT-DL nên dù có QĐ dừng nhưng có xin là cho hay Bộ giờ mới hiểu thêm một mảng đào tạo trong lĩnh vực mình quản lý rằng đào tạo nghệ sĩ với đào tạo cử nhân hoàn toàn khác nhau, một đằng là tư duy khoa học, một đằng là tư duy nghệ thuật. Vậy thì lời “đe” đến năm 2017 phải tiến sĩ, thạc sĩ dạy những môn cần năng khiếu nghệ thuật liệu có thể thực hiện hay chỉ là lời chữa ngượng như việc giấu bớt ngành học bị dừng lại được tiếp tục?

Ngay ngành học không phải ngành nghệ thuật, không có trong danh sách 62 ngành được tiếp tục tuyển sinh vẫn có những ngành học được tuyển sinh như hải dương học (Trường ĐH KHTN), công nghệ may (Trường ĐH SPKT TP. HCM), kế toán (Trường ĐH Tài chính-Marketing)… trong cuốn Những điều cần biết về tuyển sinh ĐH-CĐ năm 2014 thì chẳng thể hiểu ra sao!

Vấn đề không còn là chuyện cấm hay không cấm, dừng hay không dừng mà dư luận cần biết mỗi QĐ của Bộ GD&ĐT ban ra phải là kết quả của việc hoạch định chính sách phát triển giáo dục, đào tạo nước nhà để yên lòng dân và ổn định công việc của đội ngũ các thầy cô trên cả nước. Quan liêu, tùy tiện theo kiểu xin cho với những QĐ ngẫu hứng, thiếu thực tế và cơ sở khoa học cũng là vật cản lớn cản trở sự phát triển nước nhà, đặc biệt, GD-ĐT là công việc trồng người, trồng nhân lực lao động cho đất nước.

Một Ban chủ nhiệm HTX có thể ra quyết định và nhanh chóng thay đổi QĐ khác sau khi giải thích, xin lỗi bà con song một Bộ được giao trọng trách quản lý nhà nước về lĩnh vực đào tạo, phát triển con người thì không thể có những QĐ tù mù, thay đổi đến chóng mặt như trên huống lại không có đến một lời giải thích, xin lỗi rõ ràng ngoài việc ra QĐ được ban và hành.

Bàn về “cơ chế xin – cho”

GS. Trần Phương (Doanhnhan.vneconomy) – “Xin – cho” là sản phẩm của cơ chế kế hoạch hóa tập trung, thậm chí đồng nhất với cơ chế này, do đó cũng được gọi là cơ chế – “cơ chế xin – cho”.

Theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung thì mọi hoạt động của cơ sở đều phải đặt trong một kế hoạch chung của ngành, của địa phương, mọi hoạt động của các ngành, các địa phương phải đặt trong một kế hoạch chung của cả nước, gọi là Kế hoạch Nhà nước. Kế hoạch này, do Ủy ban Kế hoạch Nhà nước tổng hợp, cắt xén cho cân đối, rồi trình Quốc hội phê duyệt, Thủ tướng Chính phủ ký lệnh ban hành.

Kế hoạch Nhà nước gồm hàng triệu chỉ tiêu pháp lệnh giao cho từng ngành, từng địa phương, từng cơ sở sản xuất lớn. Tính chất quan liêu của cơ chế này đã hạn chế và làm triệt tiêu sáng kiến và tính năng động của cơ sở, gây bức xúc cho hàng triệu người lao động ở cơ sở và cả những nhà quản lý các cấp dẫn đến những vụ “vượt rào”, “xé rào” kéo dài từ thập kỷ 60 sang thập kỷ 70 và 80, tạo điều kiện chín muồi cho chủ trương “đổi mới” của Đại hội Đảng lần thứ 6.

Qua 25 năm triển khai, chủ trương “đổi mới” thực ra mới chỉ được thực hiện trong lĩnh vực kinh tế là chủ yếu, còn ở nhiều lĩnh vực khác, chủ trương đó mới chỉ dừng lại ở mức khẩu hiệu.

Tại sao như vậy? Vì lĩnh vực kinh tế liên quan đến cuộc sống thiết thân của hàng triệu con người, không đổi mới không sống được, còn các lĩnh vực khác, nếu không “rũ rối ra” thì vẫn có thể tạm sống được với cơ chế cũ. Còn một nguyên nhân quan trọng nữa là: trong bộ máy Nhà nước, không ít quan chức và công chức lại thích sống theo cơ chế cũ, cố bám lấy cơ chế cũ. Đơn giản vì cơ chế này trao cho họ cái quyền “cho”.

Trong một bài báo, không thể kể hết những điều bất hợp lý của cơ chế xin – cho, chỉ xin kể ra đây mấy thí dụ có liên quan trực tiếp đến một đơn vị cơ sở một trường đại học – mà tôi là người đại diện.

(…) Trong tất cả các trường hợp trên, người “cho” chỉ cho một chữ “đồng ý”, ngoài ra không có một thứ gì khác để cho cả. Còn người “xin” thì mất rất nhiều thứ, từ công sức, thời gian, cơ hội và – chẳng nói ra thì ai cũng hiểu – cả tiền “bôi trơn” nữa (đấy là không nói đến chuyện đút lót).

Điều đáng bàn là: cái quyền được trao cho người “cho” có đáng trao không? Có nhiều điều hệ trọng phức tạp cần phải cân nhắc trước khi “cho” không, hay chỉ là những thủ tục rườm rà? Tôi lấy hai thí dụ sau cùng để làm rõ câu hỏi này.

(…) Khoa học quản lý ngày nay đã khẳng định một nguyên tắc: việc gì, ai làm tốt nhất thì giao cho người ấy. Nền kinh tế và cuộc sống vẫn luôn luôn hướng theo nguyên tắc ấy – một nguyên tắc phản ánh quy luật khách quan.

Cơ chế xin-cho “đúng đắn” quá lâu!

Nguyễn Sĩ Dũng (VNN) – Ở ta hiện nay có thể xin rất nhiều thứ và cho cũng rất nhiều thứ. Kể hết ra thì nhiều thứ lắm, nhưng chung quy vẫn là hai thứ quan trọng nhất: tiền và quyền.

Cơ chế xin-cho là một trong những tàn dư còn sót lại của thời kỳ bao cấp. Nét đặc trưng quan trọng nhất của cơ chế này là quyền tự do ý chí to lớn của người cho, và vị thế thấp kém của người xin, một vị thế “Bắt ở trần phải ở trần-Cho may ô mới được phần may ô”.Công bằng mà nói, cơ chế xin-cho, cũng như mọi loại cơ chế, đều có hoàn cảnh lịch sử riêng của nó. Với một hoàn cảnh lịch sử nhất định, xin-cho, cũng như bao cấp, đều là cần thiết và đúng đắn. Vấn đề chỉ là: nó “đúng đắn” quá lâu, và trong điều kiện mới, khi những ràng buộc chặt chẽ về pháp lý, về tư tưởng và đạo đức không còn, cơ chế xin-cho đang là một thứ máy cái đẻ ra tiêu cực.

Cơ chế xin-cho đang là một thứ máy cái đẻ ra tiêu cực. Minh họa: Khều

Về mặt pháp lý, trước đây sở hữu tư nhân không được pháp luật công nhận. Việc khai thác cơ chế xin-cho để làm giàu vì vậy ít có động lực và cơ hội để xảy ra. Mặc dù, những chuyện như lấy lòng cô mậu dịch để mua được mấy lạng thịt ngon hơn, hay làm quen với cô bán gạo để đỡ phải xếp hàng thì vẫn xảy ra. Những chuyện này làm chúng ta khó chịu, nhưng không gây tổn hại quá lớn đối với sự công bằng xã hội. Ngày nay, thì mọi chuyện đã khác. Các tỷ lệ phần trăm từ các dự án, các hợp đồng, các nguồn tín dụng… đang chảy vào túi của cả người cho, lẫn của người xin. Và sở hữu tư nhân được pháp luật công nhận có thể bắt đầu từ những nguồn mà pháp luật hoàn toàn không công nhận.

Về mặt tư tưởng-đạo đức, sức ép to lớn của những yếu tố điều chỉnh hành vi này đang mất dần tác dụng. Chúng ta không tỏ ra vô thần hơn, nhưng rõ ràng đang vô đạo hơn. Đã vậy thì khai thác cơ chế xin-cho là một cách làm giàu dễ được lựa chọn.

Vấn đề đặt ra là xin gì và cho gì?

Ở ta hiện nay có thể xin rất nhiều thứ và cho cũng rất nhiều thứ. Ngân sách, chức tước, bằng cấp, dự án, tín dụng, đất đai, các nguồn tài nguyên v.v. và v.v. là những thứ đều có thể xin và đều có thể cho. Kể hết ra thì nhiều thứ lắm, nhưng chung quy vẫn là hai thứ quan trọng nhất: tiền và quyền.

Chuyện xin-cho liên quan đến tiền xảy ra vì thông thường từ 22-23% GDP của đất nước được tập trung vào ngân sách. Và đây là tiền do Nhà nước chi tiêu. Tiền do Nhà nước chi tiêu còn có cả tiền vay của dân và của nước ngoài. Đây là một khối lượng tiền rất lớn. Quy trình phân bổ ngân sách chặt chẽ đến mấy thì vẫn còn có rất nhiều kẽ hở. Và những câu hỏi tại sao lại chi cho nội dung này mà không phải nội dung kia, chi cho tỉnh này mà không phải tỉnh kia nhiều khi thật không dễ trả lời.

Để hạn chế chuyện xin-cho liên quan đến đầu tư từ ngân sách có ba việc có thể làm: Phân cấp và phân quyền về tài chính, ngân sách; phân bổ ngân sách bằng cách thảo luận và quyết định theo đa số tại các cơ quan dân cử (Quốc hội, Hội đồng Nhân dân); xác định hợp lý tỷ lệ GDP được tập trung cho ngân sách.

Còn chuyện xin-cho liên quan đến quyền đa dạng và phức tạp hơn nhiều. Trước hết, các quyền này nhiều vô kể. Một số trong những quyền quan trọng nhất là: quyền tiếp cận tín dụng, quyền tiếp cận các dịch vụ xã hội, quyền tiếp cận thị trường và quyền tiếp cận các nguồn tài nguyên (trong đó có đất đai). Rủi ro lớn nhất ở đây là không dễ thiết kế các tiêu chí để xác định ai được, ai không được và xác thực ai đáng được ai không. Tiêu cực vì vậy rất dễ xảy ra. Để vượt qua rủi ro này, điều quan trọng là phải xác lập nguyên tắc quyền tiếp cận bình đẳng của mọi công dân. Nghĩa là, nếu ông A có quyền vay vốn, thì bà B cũng hoàn toàn có quyền như vậy. Ngoài ra, cần xây dựng một bộ máy thực thi công vụ công tâm và có đạo đức. (theo Tia sáng)

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.