Ổn định cá nhân và ổn định hệ thống chính trị

Posted: April 14, 2014 in Uncategorized
Tags:

Đồng Phụng Việt (DanNews) – Đến giờ có lẽ đã tạm đủ thông tin để bàn vài chuyện về vụ phản kháng ở xã Bắc Sơn, huyện Thạch Hà, Hà Tĩnh. Vụ phản kháng này xảy ra hôm 10 tháng 4, sau khi một số cán bộ, chiến sĩ của Công an huyện Thạch Hà thực hiện lệnh bắt ông Trương Văn Trường vì “gây rối trật tự công cộng”.

Xem thêm: Về chuyện dân đập nhà quan ở Hà Tĩnh + Việt Nam khác Myanmar, đừng quá lạc quan! + Hòa hợp, hòa giải cho ai?


Cảnh sát cơ động được điều tới để giải cứu 4 công an bị dân vây bắt.

Đến giờ có lẽ đã tạm đủ thông tin để bàn vài chuyện về vụ phản kháng ở xã Bắc Sơn, huyện Thạch Hà, Hà Tĩnh.

Vụ phản kháng này xảy ra hôm 10 tháng 4, sau khi một số cán bộ, chiến sĩ của Công an huyện Thạch Hà thực hiện lệnh bắt ông Trương Văn Trường vì “gây rối trật tự công cộng”.

Những cán bộ, chiến sĩ đó không những không thi hành được lệnh bắt – chuyện thường được thực hiện hết sức dễ dàng trên khắp Việt Nam, mà còn bị dân lành bắt giữ.

Tại sao những người thực hiện lệnh bắt lại bị bắt?

Câu trả lời là vì dân chúng xã Bắc Sơn xem lệnh bắt đó là một kiểu dằn mặt và chắc chắn, chính quyền sẽ không thèm nghe nguyện vọng của họ, đồng thời sẽ thản nhiên đẩy họ vào tuyệt lộ.

Từ năm ngoái đến ngày xảy ra vụ phản kháng, dân chúng xã Bắc Sơn đã liên tục phản đối Dự án xây dựng Nghĩa trang sinh thái Vĩnh Hằng nhưng chính quyền tỉnh Hà Tĩnh và chính quyền huyện Thạch Hà không bận tâm.

Điều đó đồng nghĩa với việc hàng ngàn người sẽ bị tước đoạt sinh kế, không còn ruộng, vườn, thậm chí mất luôn cả nơi cư trú. Chưa kể dự án còn bịt tất cả những con đường nối xã Bắc Sơn với bên ngoài, xâm phạm mồ mả thân nhân của họ. Thực tế giải quyết khiếu nại, tố cáo ở Việt Nam đã chứng mình rằng con đường này không có lối ra. Phản kháng trở thành phương thức duy nhất. Bi kịch lớn nhất là dân lành không có lựa chọn nào khác!

Đã có vài lần công an bị dân chúng bắt giữ nhưng vụ phản kháng của dân chúng xã Bắc Sơn đặc biệt hơn vì ngoài chuyện bắt công an, họ còn đánh trả “lực lượng giải cứu”. Đến nửa đêm, dân chúng tiếp tục tấn công tư gia của tám viên chức trong xã, đập phá tài sản, đốt xe, đốt nhà. Sau đó đập phá trụ sở chính quyền xã.

Hình như chưa bao giờ có vụ phản kháng nào mà các viên chức trong xã phải đưa thân nhân trốn khỏi địa phương. Trụ sở chính quyền xã đóng cửa, tạm ngưng hoạt động. Cả Chủ tịch xã và Trưởng Công an xã tuyên bố mong được cấp trên cách chức, nếu cấp trên không làm điều đó thì họ sẽ xin từ chức…


Diện tích quy hoạch Công viên Vĩnh Hằng
trùm lên nghĩa trang và đất sản xuất của người dân

Lạ là trước hàng loạt diễn biến như vừa kể, chính quyền trung ương im lặng và không làm gì cả. Chỉ có Công an huyện Thạch Hà hành động bằng cách bắt 4 người, kèm tuyên bố sẽ bắt tiếp một số người nữa. Một kiểu đổ dầu vào lửa!

Cho đến giờ, chính quyền trung ương vẫn xem “duy trì và giữ vững sự ổn định của hệ thống chính trị” là ưu tiên số một nhưng cách hành xử của chính quyền trung ương trong vụ phản kháng ở xã Bắc Sơn, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh lại không bảo vệ mục tiêu này.

Qua tường thuật của báo chí, ai cũng có thể thấy, vụ phản kháng ở Bắc Sơn sẽ không bùng phát nếu chính quyền huyện Thạch Hà và chính quyền tỉnh Hà Tĩnh tôn trọng dân và lắng nghe chính quyền xã Bắc Sơn.

Đảng ủy xã Bắc Sơn đã từng gửi báo cáo, đề nghị ngưng thực hiện Dự án xây dựng Nghĩa trang sinh thái Vĩnh Hằng, bởi nếu cố làm, hậu quả sẽ rất nghiêm trọng. Tuy nhiên ngay sau đó, toàn bộ hệ thống chính trị ở xã Bắc Sơn đã bị các lãnh đạo cấp huyện buộc phải tự kiểm nghiêm túc vì… bàn ra. Chủ tịch tỉnh thì ra lệnh cho thuộc cấp tiếp tục thực hiện những biện pháp cần thiết để “thu hút các nhà thầu” cho Dự án xây dựng Nghĩa trang sinh thái Vĩnh Hằng.

Yêu cầu “duy trì và giữ vững sự ổn định của hệ thống chính trị” rõ ràng đã bị lãnh đạo huyện Thạch Hà và lãnh đạo tỉnh Hà Tĩnh vứt sang một bên.

Vậy thì tại sao không xử lý ngay Bí thư, Chủ tịch tỉnh Hà Tĩnh và Bí thư, Chủ tịch huyện Thạch Hà nhằm an dân?

Có thể vì chính quyền Việt Nam đang tồn tại giữa một đám bùng nhùng những mối quan hệ chằng chịt của các vị trí. Thành ra chính quyền trung ương “án binh bất động”“thủ khẩu như bình”.

Sự “án binh bất động” và thái độ “thủ khẩu như bình” của chính quyền trung ương khiến những viên chức cấp thấp như Chủ tịch xã Bắc Sơn và Trưởng Công an xã Bắc Sơn nhận ra yếu tố “bọt bèo” trong thân phận của họ.

Tuy là những thành viên của hệ thống nhưng khi hữu sự, họ không thể đặt hy vọng vào hệ thống – nơi tập hợp những thượng cấp vừa thiếu viễn kiến, vừa tham lam, lại tàn độc khi dụng tâm, dụng lực. Cuối cùng chính họ và gia đình bị đẩy vào tử lộ, trở thành bung xung cho đám đông cuồng nộ trước viễn cảnh sẽ mất hết mọi thứ, trút bỏ oán giận. Đã không thể ly khai cộng đồng dân cư nơi chính họ và thân nhân là những thành viên thì chỉ còn một cách: Ly khai hệ thống!

Các viên chức trong hệ thống chính quyền Việt Nam vốn rất giỏi “rút kinh nghiệm” nên những tình tiết liên quan đến các đồng liêu ở xã Bắc Sơn trong vụ phản kháng vừa kể sẽ sớm được từng cá nhân tự “đúc kết”.

Kết quả “tổng kết” của từng cá nhân trong toàn hệ thống, đặc biệt nơi các viên chức cấp thấp sẽ hài hóa nỗ lực “duy trì và giữ vững sự ổn định của hệ thống chính trị”.

Khi một hệ thống chỉ gồm toàn những thành viên quan tâm đến việc làm sao để giữ sự “ổn định” cho riêng mình trong bối cảnh bất ổn do hệ thống gây ra càng lúc càng lớn, rộng thì các nỗ lực “duy trì và giữ vững sự ổn định của hệ thống chính trị” chỉ là ước muốn mà mức độ viễn vông tăng theo biến động.

Chẳng phải vụ phản kháng ở Phước Dinh, Thuận Nam, Ninh Thuận và vụ phản kháng ở Bắc Sơn, Thạch Hà, Hà Tĩnh đã biến các cuộc diễn tập chống bạo loạn được tổ chức liên tục khắp nơi trong thời gian vừa qua thành trò hề đó sao?

Nửa tháng, hai vụ dân chúng chống các lệnh bắt người để răn đe, công khai đánh trả lực lượng trấn áp cho thấy hình thức “giáo dục quần chúng” bằng bạo lực chỉ là một kiểu “tự ám thị”.

Rồi các đồng chí sẽ phải tỉnh.

Về chuyện dân đập nhà quan ở Hà Tĩnh

Osin Huy Đức (DanNews) – Cách đây vài tuần, ngồi với bí thư một xã nghèo miền Núi, ông nói: “Tụi tôi chẳng còn gì… ‘ăn’ đâu ông ạ. Trên đưa các công trình 135 (giảm nghèo) về xã là đưa luôn nhà thầu về, chúng tôi chỉ ký giấy tờ cho họ giải ngân”.

Tuần trước, gặp một ông từng là phó chủ tịch tỉnh cũng nói: “Tỉnh có muốn xây trụ sở các ngành cho đẹp cũng đâu có được. Ngân sách rót xuống bao giờ cũng do các nhà thầu mang về kèm theo thiết kế. Nhà thầu họ có thể thay tụi tôi chứ tụi tôi đâu có thay nhà thầu được”.

Đập nhà bí thư, trưởng công an xã thì cũng tội vì có khi trong việc lấy đất của dân họ cũng không… ăn được bao nhiêu. Nhưng, đã đến lúc lãnh đạo ở cấp cơ sở cũng phải thức tỉnh, anh cứ quay lưng với dân thì dù khôngđược… ăn, chết cũng không oan! Chỉ thương mấy người dân vướng vào vòng lao lý!

Việt Nam khác Myanmar, đừng quá lạc quan!

Ngọc Thu FB (DanNews) – Thấy mọi người có vẻ lạc quan về chuyện chính quyền liên tục thả 5 người tù chính trị vừa qua, xin bà con chớ có mừng lâu, bởi cùng là nước độc tài nhưng Việt Nam khác với Myanmar, một bên là độc tài cộng sản, còn một bên là độc tài quân phiệt (military junta).

Độc tài cộng sản luôn cho rằng họ độc quyền lãnh đạo “muôn năm” nên không có chuyện chia sẻ quyền lực với bất kỳ đảng phái hay tổ chức nào. Khác với độc tài cộng sản, Myanmar là dạng độc tài quân phiệt, do quân đội nắm chính quyền. Myanmar hiểu rằng họ chỉ có thể độc tài lãnh đạo Miến Điện một thời gian, không thể độc quyền lãnh đạo “muôn năm” theo kiểu cộng sản, nên họ đã thay đổi.

Mặc dù Myanmar độc tài nhưng các đảng chính trị lớn ở đây như Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ (NLD) của bà Aung San Suu Kyi hay Liên đoàn Dân tộc Shan vì Dân chủ (SNLD) của ông U Khun Tun Oo được phép tồn tại. Cho dù hoạt động của các đảng phái này bị hạn chế, bị nhà cầm quyền quản lý chặt chẽ, nhưng các đảng chính trị đối lập vẫn tồn tại ở Myanmar. Khác với Việt Nam, không một đảng chính trị đối lập nào có thể tồn tại từ năm 1988 tới nay, và trước đó cho dù nó tồn tại nhưng chỉ trên danh nghĩa, mà không có hoạt động chính trị nào.

Sau khi thấy lãnh tụ các nước độc tài ở các nước Trung Đông, Bắc Phi lần lượt bị lật đổ, các nhà lãnh đạo Myanmar đã nhìn thấy số phận của mình trong tương lai, nên họ đã quyết định thay đổi. Và họ thay đổi thật nhanh, họ thả hàng loạt tù chính trị, cho phép các đảng đối lập tranh cử và nắm ghế trong quốc hội, không tìm cách ngăn cản ứng viên đảng chính trị đối lập là bà Aung San Suu Kyi khi bà tuyên bố sẽ ra tranh cử tổng thống trong kỳ bầu cử năm tới.

Khác với Myanmar, ĐCSVN vẫn khư khư giữ lấy điều 4 Hiến pháp, vẫn tự cho phép mình độc quyền “lãnh đạo nhà nước và xã hội”, vẫn tiếp tục đi theo chủ nghĩa Mác – Lenin. Không một đảng chính trị đối lập nào được tồn tại. Cho nên chuyện thả vài người tù ra trong một tháng vừa qua, mọi người chớ có mơ tới chuyện họ thay đổi như Myanmar.

Chuyện thả tù chính trị ở VN vừa qua có thể là một sự trao đổi, trong đó chính quyền VN muốn cho Mỹ và các nước phương Tây thấy Việt Nam “có tiến bộ về nhân quyền”, để Mỹ không ngăn cản VN tham gia Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP). Nước cờ mà họ đang đi hiện nay cũng giống như những gì đã xảy ra hồi năm 2006, họ đã từng nới lỏng chuyện nhân quyền để được gia nhập vào WTO.

Chuyện thả tù chính trị hiện nay không khác gì trước đây, khi VN vào được TTP rồi thì coi như xong, sẽ có thêm những người bất đồng chính kiến bị sách nhiễu sau đó, thậm chí còn bị “nhập kho”.

Cho nên, họ thả thì thả, chuyện của chúng ta đòi những quyền của chúng ta thì chúng ta vẫn tiếp tục đòi. Chớ thấy vài người được thả rồi cho rằng họ đã thay đổi, lo vui mừng mà quên rằng những cái quyền mà chúng ta đã và đang đòi bấy lâu vẫn chưa có.


Biểu tình chống khai thác titan ở Ninh Thuận

Hòa hợp, hòa giải cho ai?

Tiến sĩ Phạm Chí Dũng (QuêChoa) theo BBC – Gần một năm sau bài trả lời phỏng vấn khá trôi chảy và bóng mượt trên Thanh Niên – một tờ báo của Hội liên hiệp thanh niên Việt Nam – với tiêu đề ấn tượng “Hòa hợp tạo ra sức mạnh cho dân tộc”, ông Nguyễn Thanh Sơn lại một lần nữa bắt buộc dư luận người Việt hải ngoại phải mổ xẻ tính bất xứng trong cuộc gặp gỡ đầu tháng 4/2014 của ông với một trong những nhân vật thường bị nhà cầm quyền ở Việt Nam coi là “chống Cộng” bậc nhất ở hải ngoại – thượng nghị sĩ Canada gốc Việt Ngô Thanh Hải.

TT Sơn là người phụ trách vận động người Việt ở hải ngoại

Chi tiết có thể gây cười nhiều nhất sau cuộc gặp hai bờ đối nghịch trên là tâm thế “đường ai nấy đi”.

Trong khi ông Nguyễn Thanh Sơn diễn thuyết trên báo chí nhà nước rằng Thượng nghị sĩ Ngô Thanh Hải đã “hoàn toàn nhất trí” với quan điểm của ông về việc Việt Nam đã xử sự hợp tình hợp lý với những người bất đồng chính kiến và vi phạm pháp luật Việt như trường hợp “quậy phá” của linh mục bị bịt miệng tại tòa Nguyễn Văn Lý, thì vị nghị sĩ Bắc Mỹ cứng rắn lại tuyên bố đầy bức bối với giới truyền thông quốc tế là “không chấp nhận”“hoàn toàn bác bỏ” những quan điểm và cách nhìn của người khách bất đắc dĩ về “các thế lực thù địch”.

Tình cảnh “kiều vận” trái khoáy như thế đang khiến dư luận quan tâm đến công cuộc “hòa hợp, hòa giải dân tộc” của Nhà nước Việt Nam vẫn không vơi nhẹ áp lực câu hỏi: liệu có thể tin vào lòng chân thành của ai – người đại diện cho 3,7 triệu Đảng viên nắm quyền ở Việt Nam và đặc biệt nhạy cảm với tín hiệu “kiều hối”, hay vào một trong những tiếng nói thống thiết nhất từ khối bốn triệu rưỡi triệu “kiều bào ta” ở hải ngoại?

“Đói thì đầu gối phải bò”

Còn nhớ vào mùa hè năm ngoái, Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn kiêm chủ nhiệm của Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài đã lần đầu tiên dẫn ra một quan niệm mới: “Do hoàn cảnh lịch sử mà kiều bào ta vẫn còn một bộ phận mà ngày xưa chúng ta vẫn gọi là “phản động”. Quan điểm của tôi là không nên gọi như thế”.

Những từ ngữ có vẻ mang tính cải cách này lại nảy nở tiếp liền cuộc đối thoại nhân quyền Việt – Mỹ được tái lập ở Hà Nội, sau một thời gian dài dang dở. Tức phải sau gần một thập kỷ từ năm 2004 khi phát sinh bản nghị quyết số 36 của Bộ Chính trị về “công tác người Việt Nam ở nước ngoài”, những nhân vật như Thượng nghị sĩ Ngô Thanh Hải mới có cơ hội lặng biến khỏi phát ngôn vằn vện nơi cửa miệng của giới quan chức Việt Nam.

2013 cũng là thời điểm nền kinh tế, xã hội và có thể cả giai tầng chính trị Việt Nam rơi vào tâm trạng “khủng hoảng sâu sắc và toàn diện” chưa từng thấy từ mốc 1975. Và chẳng ai không biết về câu chuyện kinh tế sụp đổ hoàn toàn có thể làm cho chế độ băng hà.

Tục ngữ người Việt có câu “Đói thì đầu gối phải bò, no cơm ấm cật chẳng dò đi đâu”. Vài cái Tết qua lại nổi lên một thảm trạng xã hội: ngay cả giới quan chức cũng không còn mấy no đủ như thời vàng son trước đây, và cách nào đó họ cũng cần được xếp vào danh sách “xóa đói giảm nghèo” khi giá trị “lì xì” của các doanh nghiệp cho họ đã hụt đến 50-70%.

Đã đến lúc giới quan chức phải “ra đi tìm đường cứu nước” – nói như cửa miệng dân gian. Tình cảm kiều bào cũng là thước đo ngoại tệ.

Một lần nữa trong nhiều lần thời dĩ vãng, “hòa hợp dân tộc” lại được tung hứng, nhưng với tầm mức tha thiết hơn nhiều. Không thể có kiều hối nếu thiếu vắng niềm tin.

Lòng tin chở được núi lớn – một bài học mà có lẽ một chế độ đã đánh mất trọn vẹn niềm tin nơi con tim dân nghèo mới phải viện dẫn đến Thánh kinh.

Công cuộc viện dẫn như thế đã ròng rã từ năm 2000 đến nay, bắt đầu từ Hiệp định thương mại song phương Việt – Mỹ và tiếp liền bởi những gói viện trợ ODA mà nghe nói tỷ lệ thất thoát vào túi giới quan chức Việt Nam lên đến ít nhất 20%.

Hòa hợp không hòa giải?

Tuy nhiên giới quan sát độc lập trong nước và quốc tế vẫn chú ý đến một chi tiết rất dị biệt: trong hầu hết nội dung trả lời phỏng vấn báo Thanh Niên vào năm 2013 và trong lần “kiều vận” vừa qua ở Hoa Kỳ, Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn đã chỉ đề cập đến từ “hòa hợp” mà hầu như né tránh bản thông điệp “hòa giải”, dù tất cả mới chỉ đang tồn tại trên phương diện ngữ nghĩa.

Hẳn đó là nguyên do sâu xa để những người như ông Ngô Thanh Hải cảm thấy bất an. Chủ động xin gặp nghị sĩ Canada, nhưng những gì mà ông Sơn truyền đạt cho chủ nhà lại là “Đảng Cộng sản Việt Nam không bằng lòng về công việc làm” của ông Hải, và cố gắng “dân vận” ông Ngô Thanh Hải ủng hộ tính chính danh của Nhà nước Việt Nam cùng thực tiễn “Việt Nam luôn quan tâm và bảo vệ các quyền con người”.

Nhưng cử chỉ đặc sắc tuyên giáo bị ông Ngô Thanh Hải coi là “hoàn toàn không có đồng thuận gì cả” như trên lại có thể làm người ta liên tưởng về quá khứ “đạt được rất nhiều thành tựu” của nghị quyết 36 cùng những mục đích gan ruột của bản văn “kinh tế – chính trị học” này.

Chính vào năm 2013, quá nhiều dư luận ở hải ngoại và cả trong nước đã nghi ngờ rằng nếu Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn cố gắng thể hiện “gương mặt nhu mì đột biến” với kỳ vọng có thể thu hút từ 10 đến 20 tỷ USD kiều hối từ cộng đồng “kiều bào ta”, thì sau gần mười năm, nghị quyết số 36 của Bộ Chính trị đảng vẫn còn rất xa mới đạt được ý nghĩa trọn vẹn về hình thể và nhân cách của nó.

Ở Việt Nam, nhân cách chính trị lại thường là một loại thực phẩm đặc thù có thể “ăn” được và còn lâu mới chạm đáy tiêu hóa. 2004 – thời điểm mà nghị quyết 36 của Bộ Chính trị ra đời, cũng là “thời kỳ quá độ” mà Việt Nam rất tích cực vận động để “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” được tô điểm thêm một sắc thái mới: thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới.

Với trường hợp nhà nước Việt Nam, nhân cách cũng luôn và cần được móc xích với phạm trù nhân quyền và trên hết là niềm tin vào quả núi lớn TPP. Không chỉ tạo nên hố sâu khó vượt giữa chế độ với những người thuộc “bên thua cuộc”, nhân quyền còn là chủ điểm của đến 227 khuyến nghị từ hơn 100 quốc gia trong cuộc Kiểm điểm định kỳ phổ quát (UPR) về nhân quyền Việt Nam vào tháng 2/2014 tại Thụy Sĩ, gần gấp đôi số khuyến cáo được nêu ra vào cuộc UPR Việt Nam năm 2009.

Công cuộc “hòa hợp, hòa giải” cũng bởi thế đậm ý nghĩa thất bại trong ít nhất 5 năm qua. Cũng bởi, “đổi nhân quyền lấy viện trợ” chưa bao giờ tồn đọng như một thể bền vững trong một chính thể bỏ quên quốc thể.

Không nêu ra được bất kỳ chứng cứ đủ thuyết phục nào về “Việt Nam đã thực hiện hơn 80% khuyến nghị của Hội đồng nhân quyền Liên hiệp quốc sau UPR năm 2009” như cấp trên của ông Nguyễn Thanh Sơn là Bộ trưởng ngoại giao Phạm Bình Minh trưng chào, con đường “trở về cội nguồn” của Đảng vẫn tiếp tục nứt nẻ và xung khắc hơn lúc nào hết, không chỉ với “đồng bào” trong nước mà cả với “bà con người Việt ở nước ngoài”.

“Tách đảng”?

Con đường ấy cũng đang chìm trong cơn bạo bệnh suy thoái chưa hề được chẩn trị và gần như cạn kiệt sức hồi sinh của nền kinh tế, còn những người điều hành nó đang phải bằng nhiều cách tìm ra lối thoát cho phe nhóm lẫn cá nhân.

Cũng gần như cạn kiệt tài nguyên ngoài trữ lượng dầu khí chỉ còn khá ít ỏi ở khu vực biển Đông, Việt Nam đang tụt hậu quá xa so với Miến Điện trong nhãn quan lợi nhuận của giới tư bản quốc tế. Đó cũng là bối cảnh trên trường chính trị Việt Nam đang xuất hiện một cụm từ mang tính biểu đạt rất cao: “tài nguyên nhân quyền”.

Một ít vụ việc trả tự do cho Phương Uyên và Đinh Nhật Uy vào nửa cuối năm 2013, đặc xá cho những tù nhân “sắp chết” như Đinh Đăng Định và Nguyễn Hữu Cầu, cùng lời “xá tội chữa bệnh” cho Cù Huy Hà Vũ vào đầu năm 2014 là một biểu trưng “nâng lên một tầm cao mới” cho sự giải thoát chính thể trong giai điệu mặc niệm của nền kinh tế phụ thuộc.

Để đến lượt mình, kinh tế lại có thể đóng vai vế làm biến đổi cả quan niệm chính trị. Rồi tư duy chính khách cũng có thể khiến đổi khác cả ý thức hệ đã luôn ràng buộc họ và chằng xích cả dân tộc. Không khó để nhận ra rằng muốn tham gia vào TPP, Việt Nam không thể sao y “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, trong khi không dưới hai lần Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phải đề đạt với người Mỹ để nhận được “quy chế thị trường” nhưng cho tới nay vẫn hoàn toàn chưa có hồi âm.

Thậm chí, sự biến đổi kín đáo về màu da và cả máu thịt như vậy đã hiển hiện trong bài trả lời phỏng vấn của Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn trên báo Thanh Niên vào năm 2013, khi ông dành lời khen tặng cho một nhân vật vốn bị coi là “khét tiếng chống cộng” ở hải ngoại: ông Hoàng Duy Hùng.

“Vấn đề mà chúng ta từng lo ngại là các thành phần chống Cộng cực đoan đã ngày càng giảm đi. Một trong những người cực đoan nhất như ông Al Hoàng (Hoàng Duy Hùng) vừa qua cũng đã được về nước và ông ấy đã có những cái nhìn hết sức tích cực” – ông Sơn ca ngợi.

Trong khi đó, nghị viên Hoàng Duy Hùng đặc trách về châu Á của thành phố Houston – lại bày tỏ “cái nhìn hết sức tích cực” khi nêu ra một đề nghị không tiền khoáng hậu trên BBC tiếng Việt vào ngày 30/4/2013: nếu đảng Cộng sản Việt Nam thuận theo sự tiến bộ và tách thành hai đảng, thí dụ đảng Cộng hòa (bảo thủ) và đảng Xã hội hay đảng Dân chủ (cấp tiến), thì đó chính là đột phá của lịch sử để giải quyết nhiều bế tắc trong nhiều năm qua ở ngay trong nội bộ đảng Cộng sản cũng như của chính những người bất đồng chính kiến và ở hải ngoại. Lúc đó, những người bất đồng chính kiến có thể tham gia một trong hai đảng mà không cảm thấy khó khăn.

Liệu vài ý tứ trên có giúp cho đảng cầm quyền ở Việt Nam xử lý được nhu cầu cấp thiết “hòa hợp, hòa giải” ngay trong nội bộ họ vào những năm tới, trước khi làm điều tương tự với “đồng bào người Việt ở nước ngoài”?

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.