HRW kêu gọi Việt Nam tiếp tục thả các nhà bất đồng chính kiến

Posted: April 15, 2014 in Uncategorized
Tags: ,

Thanh Hà (RFI) – Human Rights Watch hoan nghênh sự kiện Việt Nam vừa trả tự do trước thời hạn cho các ông Vi Đức Hồi và Nguyễn Tiến Trung, vài ngày sau khi thả luật gia Cù Huy Hà Vũ. Thế nhưng, tổ chức bảo vệ nhân quyền Human Rights Watch kêu gọi Hà Nội tiếp tục thả các nhà bất đồng chính kiến.

Xem thêm: Vì sao công an cần một chữ kí đến vậy? + Trong tin đồn có cả sự thật

RFI /Karen Ferreira / hrw.org

Ông Vi Đức Hồi, nguyên là giám đốc một trường đảng ở Lạng Sơn vào năm 2011 đã bị tuyên án 8 năm tù giam và 5 năm quản chế với tội danh « Tuyên truyền chống Nhà nước ». Khi xử phúc thẩm, ông được giảm án xuống còn 5 năm tù giam và 3 năm quản chế.

Là tác giả nhiều bài viết chỉ trích chính quyền, ông Vi Đức Hồi vào năm 2009 đã được trao giải Hellman/Hammett của tổ chức nhân quyền Human Rights Watch vì những đóng góp của ông trong việc thúc đẩy tự do ngôn luận ở Việt Nam.

Về phần Nguyễn Tiến Trung, đã bị bắt vào tháng 07/2009. Tháng 01/2010 ông đã ra tòa cùng với ba nhà bất đồng chính kiến khác là Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Công Định và Lê Thăng Long và bị khép vào tội « hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân ». Nguyễn Tiến Trung bị tuyên án 7 năm tù và 3 năm quản thúc. Trước đó, dưới sức ép của quốc tế, tiến sĩ Luật Cù Huy Hà Vũ cũng đã được trả tự do, ra tù ngày 06/04/2014 và lên đường bay thẳng sang Mỹ.

DĐXHDS

– Thả ông Cù Huy Hà Vũ: CSVN đang tự vả vào mặt (ĐCV). – Hội nhập hay tiếp tục đấu tranh? (RFA). – ‘Thả tù nhân nhưng không đổi lập trường’ (BBC). – Lê Diễn Đức: Thả tù nhân: chẳng mất gì mà đạt mục đích (Blog RFA). – Thả tù để đàm phán, vừa thả vừa run (DLB).  – Thả tù chính trị, Việt Nam muốn đổi gì? (BBC). – TPP- Nhà nước VN xin trì hoãn quyền nghiệp đoàn và xin viện trợ (LĐV). – ĐÚNG QUY TRÌNH HAY TÙY HỨNG? (Phương Bích).

– Thạc sỹ Nguyễn Tiến Trung: ‘Tôi đã cố quên đi cái án của mình’ (VOA). – HRW kêu gọi Việt Nam tiếp tục thả các nhà bất đồng chính kiến (RFI). “Tình trạng nhân quyền tại Việt Nam chưa được cải thiện và tôi nghĩ là tình trạng nhân quyền ở Việt Nam chỉ được cải thiện một khi Việt Nam thả thêm hàng chục tù nhân lương tâm nữa và Việt Nam phải chấm dứt việc bắt giữ công dân của họ vì lý do chính trị

– Hoàng Mai: Vài suy nghĩ về việc Nhà nước thả các tù nhân trong mấy ngày đầu tháng 4/2014 (Boxitvn). – Phỏng vấn GS Nguyễn Minh Thuyết: Thả tù ở VN có thể tác động đến TQ? (BBC).

– Con Đường Việt Nam: Tin tức về tù nhân lương tâm – nhạc sĩ Việt Khang (DL).

– SỰ KIỆN LẤP VÒ : NGUYỂN THỊ THÚY QUỲNH…. (FB Phạm Trung Hiếu).

– Đinh Nhật Uy – Hãy tới dự phiên tòa phúc thẩm tại Long An ngày 16/4/2014 để hiểu tình hình nhân quyền tại Việt Nam (DL). – Phiên tòa phúc thẩm Đinh Nhật Uy sắp diễn ra ngày 16/4/2014 (DLB).

– CON NHỎ CỦA NGƯỜI TỐ CÁO BỊ TRẢ THÙ HÈN HẠ (Lê Anh Hùng).

– Nhà cầm quyền cấm xuất cảnh và câu lưu phóng viên Anna Huyền Trang (DCCT).

– Phạm Đình Trọng: VÌ SAO CÔNG AN CẦN MỘT CHỮ KÝ ĐẾN VẬY (Boxitvn). “Sự lộng hành của công an bằng việc mời trái pháp luật công dân đến làm việc để dùng quyền uy của công cụ bạo lực nhà nước đánh đòn cân não vào tinh thần, ý chí con người tuy không để lại dấu vết trên thân thể nhưng hiểm độc và nguy hại hơn nhiều lần sự lộng hành của cơ bắp. Còn gì hiểm độc và nguy hại bằng giết chết con người công dân của một dân tộc. Sự lộng hành đó cần được ghi nhận lại trung thực bằng chữ nghĩa khắc vào thời gian, khắc vào lịch sử về một loại tội ác của công cụ bạo lực chuyên chính vô sản chỉ có ở nhà nước cộng sản. “

– Nguyễn Hưng Quốc – Tâm lý độc tài (DL). – Nguyễn Ngọc Già: Lửa đang cháy ngang mày (RFA).

– Giỗ tổ và những bi hài (Blog RFA). “Và một khi dân tộc này trở nên ngu ngốc, tệ hại vì mất gốc, kẻ được lợi nhiều nhất, kẻ ngồi rung đùi hí hửng không còn ai khác ngoài kẻ độc tài. Nhà độc tài chỉ mong mỏi có chừng đó thôi, và khi nào ngày đó đến, đó cũng là thời điểm, khoảnh khắc mà Việt Nam trở thành mảnh đất màu mỡ cho chủ nghĩa Cộng sản độc tài và Cộng sản đàn anh Trung Quốc sẽ tha hồ chém gió về nguồn gốc Việt Nam, Cộng sản quốc tế lại một lần nữa phủ đôi cánh tay tanh máu của nó lên nhân loại, xuất phát điểm từ đất nước hình chữ S này!”

–  Bí thư Quảng Đông, TQ sang: lần lượt Tổng bí thư, Chủ tịch nước, Phó TT, Bí thư Hà Nội, … tiếp, làm việc (VOV/Chép sử Việt). “Nổi lên một mối quan hệ “song phương”, ngang hàng giữa một quốc gia với một tỉnh lẻ của một quốc gia khác. Nó lồ lộ ngay trong một cái tên rất … hài: “Hội nghị giao lưu hợp tác kinh tế-thương mại giữa Quảng Đông với Việt Nam“.

– Cột cờ Tổ quốc trên đảo Lý Sơn sáng nhờ điện năng mặt trời (VOV). Hoan hô Thành đoàn Hà Nội hỗ trợ, không rõ nguồn tiền có được từ kinh doanh gì.

– Vụ luận văn Nhã Thuyên: báo Nhân dân đã “thách đấu” về pháp lý – học thuật (ND/Chép sử Việt). – Làm bàn “đá vào lưới nhà”?(PNTB/Boxitvn).

– Hồ sơ Dân oan Tuần 52 & 53 (DCCT).

– Audio: Bà Cấn Thị Thêu, nhóm 356 Dương Nội đối thoại với ông Nguyễn Đức Chung, Giám đốc công an Tp Hà Nội. (Nguyễn Tường Thuỵ). – Một số vấn đề về luật đất đai và tồn tại thực tế khi thu hồi đất (DĐXHDS). – TỔ CHA CÁI THẰNG QUY TRÌNH! (FB Phương Bích). – “Xóm ổ chuột” bị cưỡng chế vì… liền kề khu biệt thự? (ĐS&PL).  – Cưỡng chế thế này sao không mất lòng tin? (Trần Kinh Nghị).

– Bắt quả tang một đại úy công an buôn ma túy (ĐS&PL).

Trả lời đài Pháp ngữ RFI phó giám đốc đặc trách khu vực châu Á của Human Rights Watch, ông Phil Robertson ghi nhận:

« Hai nhà bất đồng chính kiến Vi Đức Hồi, Nguyễn Tiến trung được trả tự do trước thời hạn mà lẽ ra cả hai người này không bao giờ phải lãnh án tù như vậy. Họ chỉ sử dụng quyền dân sự và chính trị mà thôi. Ông Vi Đức Hồi là một nhà viết blog còn Nguyễn Tiến Trung thì đã cùng với một số khác muốn lập ra một đảng phái chính trị.

Đấy không phải là những tội phạm và lẽ ra hai ông Hồi và Trung không thể bị kết án tù. Tổ chức Human Rights Watch hài lòng trước việc hai nhà bất đồng chính kiến này của Việt Nam đã được trả tự do trước thời hạn nhưng đừng quên rằng, tại Việt Nam hãy còn hàng trăm tù nhân chính trị.

Hơn nữa, lý do Việt Nam đã phóng thích hai ông Vi Đức Hồi, Nguyễn Tiến Trung cũng không được rõ ràng. Không hiểu là Việt Nam đã lấy quyết định như trên do áp lực của quốc tế – chủ yếu là từ phía Hoa Kỳ – hay đấy cũng có thể là do Việt Nam muốn nhanh chóng thúc đẩy tiến trình đàm phán về thương mại ….

Tình trạng nhân quyền tại Việt Nam chưa được cải thiện và tôi nghĩ là tình trạng nhân quyền ở Việt Nam chỉ được cải thiện một khi Việt Nam thả thêm hàng chục tù nhân lương tâm nữa và Việt Nam phải chấm dứt việc bắt giữ công dân của họ vì lý do chính trị »

Vì sao công an cần một chữ kí đến vậy?

Phạm Đình Trọng (Bà Đầm Xòa) – Làm việc với tôi lúc đầu là hai người: một công an cấp thành phố tên Tuấn ngoài năm mươi tuổi, nước da màu đồng ruộng, mặt nhọn chữ V, đã quá q…uen mặt với tôi suốt mấy năm nay và một người trẻ hơn ông Tuấn vài tuổi, mặc áo thun đen được ông Tuấn giới thiệu cũng là công an thành phố. Tôi hỏi tên, người đó nói tên Sang.

Tôi tin chắc ông Sang không phải là công an cấp thành phố mà là công an cấp bộ. Tôi đến trụ sở công an xã Phước Kiển vào phòng trung tá Lâm Ngọc Thích, trưởng công an xã, hỏi: Thưa anh, tôi được mời đến làm việc ở phòng nào. Ông Thích hỏi ngay: Bác là bác Trọng phải không? Ông Thích mời ngồi, pha ấm trà mới tiếp khách và bảo tôi bác ngồi đợi chút, các anh đó đang đến. Tôi hỏi thăm gia đình, ông Thích bảo quê ông bà nội ngoại của ông đều ở xã Phước Hải, cạnh xã Phước Kiển này. Ông vui vẻ, cởi mở khoe rằng anh thiếu úy Lê Phương Tinh, công an khu vực dân cư nơi tôi ở, người hai lần mang giấy mời của công an đến cho tôi chính là con rể của ông, lấy con gái đầu của ông.

Uống ngụm trà rồi tôi ra sân đợi thì ông Tuấn đến. Tôi và ông Tuấn đến phòng ông Thích đi ngang qua một người mặc áo thun đen đứng bên chiếc xe máy ngay cửa phòng ông Thích. Ngôn ngữ trao đổi và cử chỉ của ông Thích và ông Tuấn cho tôi hiểu rằng ông Thích giục làm việc đi, ông Tuấn bảo đợi thêm người, ông Thích liền chỉ người mặc áo thun đen. Lúc đó ông Tuấn mới biết rằng người mặc áo thun đen đứng trước phòng ông Thích chính là người sẽ cùng ông Tuấn làm việc với tôi. Người mặc áo thun đen chính là ông Sang. Sự không quen biết nhau giữa ông Tuấn và ông Sang cho tôi hiểu rằng ông Sang không cùng đơn vị công an thành phố với ông Tuấn thì ông Sang phải là công an cấp bộ.

Sau phần thủ tục đầu tiên ông Tuấn hỏi tôi về sức khỏe để ghi vào biên bản rằng tôi đủ sức khỏe và đủ minh mẫn để làm việc, tôi nói: Lần trước các anh gửi giấy mời nhưng tôi không đi vì những bài viết của tôi là của đời sống dân sự. Hiến pháp cho công dân được tư do ngôn luận đã cho tôi được viết bộc lộ suy nghĩ, tình cảm, chính kiến. Nếu tôi viết có gì sai, các anh cứ kiện tôi ra tòa án, tôi sẽ hầu kiện. Đó là đời sống dân sự. Nhưng công an vào cuộc về những bài viết của tôi thì đã hình sự hóa đời sống dân sự rồi. Tôi không chấp nhận đời sống dân sự bị hình sự hóa như vậy. Lần này lại nhận được giấy mời của các anh, tôi đã định không đi. Nhưng thấy những bài viết bộc lộ suy nghĩ, tình cảm của tôi chỉ là việc nhỏ nhặt trong đời sống dân sự mà cứ để các anh nay mời, mai mời làm cho sự việc nhỏ trở thành lớn, trở thành căng thẳng và các anh phải đi lại nhiều lần vất vả nên tôi đến đây gặp các anh. Tôi coi đây chỉ là cuộc gặp dân sự nói chuyện để hiểu biết nhau nên tôi không kí bất kì một biên bản nào để hình sự hóa cuộc gặp này.

Ông Tuấn gọi tôi là chú. Ông Sang gọi tôi là bác. Hai người thay nhau hỏi. Bác có trang cá nhân facebook không? Bác có trang này lâu chưa? Mục đích chú lập trang facebook để làm gì? Tôi nói rằng ở thời công nghệ thông tin này, trang facebook đã trở thành rất phổ biến từ bà nội trợ đến cô học trò cấp hai, từ anh nông dân đến ông cán bộ nhà nước đều có trang facebook công khai những sự việc, những vui buồn trong ngày của mình để được cộng đồng facebook trên khắp thế giới chia sẻ, tạo ra một thế giới phẳng rộng lớn. Tôi mới có trang facebook từ năm 2013. Cũng như mọi người, tôi ghi lại những vui buồn, nghĩ suy, trăn trở trên facebook. Khác mọi người, tôi là nhà văn. Tôi không chỉ buồn vui, nghĩ suy về cá nhân tôi mà tôi buồn vui, nghĩ suy, trăn trở về đất nước, về nhân dân, về thời cuộc.

Ông Tuấn đưa cho tôi xem hai tờ giấy A4 in một list tên những bài viết của tôi từ trang web Đàn Chim Việt và hỏi đây có phải những bài viết của chú không? Chú thường gửi bài cho những mạng nào? Trả lời: Tôi thường gửi bài cho trang Boxitvn và trang Diễn Đàn Xã Hội Dân Sự. Đàn Chim Việt vẫn đăng bài của chú mà? Không phải chỉ có Đàn Chim Việt, các trang web khác đều tải bài của tôi từ trang Boxitvn và trang Diễn Đàn Xã Hội Dân Sự.

Có lẽ ông Sang không phải là người chuyên trách theo dõi tôi nên hỏi nhiều câu thuộc về sơ yếu lí lịch mà người chuyên trách về tôi phải rành rẽ từ đầu như: Bác có tham gia công tác cách mạng gì không? Bác có tham gia tổ chức xã hội nào không. Tôi nói tôi là người lính nhập ngũ từ năm 1963 mà cuộc chiến tranh chống Mĩ đến năm 1965 mới thực sự nổ ra. Tôi đã tham gia trọn vẹn ba cuộc chiến tranh. Chiến tranh chống Mĩ. Chiến tranh chống Pôn Pốt. Chiến tranh chống Tàu ở biên giới phía Bắc. Cuộc chiến tranh chống Mĩ, tôi là người lính ở mặt trận Tây Nguyện. Sau năm 1975, tôi được điều về Tổng cục Chính trị, là nhà văn ở tạp chí Văn Nghệ Quân Đội rồi làm biên kịch ở Xưởng phim Quân đội. Hai cuộc chiến tranh sau, tôi là nhà văn, nhà báo quân đội. Tôi là hội viên các hội: hội Nhà Văn Việt Nam, hội Nhà Báo Việt Nam, hội Điện ảnh Việt Nam.

Ông Sang có hỏi tôi về Văn Đoàn Độc Lập nhưng chỉ hỏi thoáng qua. Sau này khi nhân vật công an thứ ba xuất hiện mới hỏi nhiều về Văn Đoàn Độc Lập và nhân vật này cũng biết rất rõ về tôi và gia đình tôi mà tôi tin chắc đó chính là người chuyên trách về tôi. Hỏi qua về Văn Đoàn rồi ông Sang lại quay về cá nhân tôi: Bác là hội viên hội Nhà Văn từ khi nào? Tôi không nhớ rõ năm nào nhưng lâu rồi. Tôi trả lời và nhìn Sang, nói: Tôi biết anh không phải là công an thành phố mà là công an bộ. Sang cười. Nụ cười thú nhận. Sau cuộc gặp, nhìn lại ba công an vừa làm việc với tôi, tôi thấy ở ông Sang phần người còn nhiều hơn cả trong ba công an, phần công cụ chưa lấn át phần người. Hai người còn lại thì phần người đã bị khuất lấp sau phần công cụ.

Ông Tuấn đưa ra một tập những bài viết của tôi được in từ trên mạng và bảo tôi kí xác nhận: Lần trước chú đã kí 19 bài rồi. Hôm nay chú kí tiếp những bài này. Tôi bảo lần này tôi không kí vì ba lẽ. Một là không cần thiết. Bài viết đã ghi rõ tên tôi là đủ để xác nhận rồi. Hai là lần trước tôi kí đã tạo ra tiền lệ để lần này tôi lại được mời đến gặp các anh để kí. Mấy tháng sau tôi có những bài viết mới lại bị gọi lên kí lần thứ ba. Rồi lần thứ tư. Lần thứ n. Là nhà văn, tôi không thể thờ ơ với cuộc sống, với số phận nhân dân, số phận đất nước nên cứ phải viết cho đến lúc từ giã cuộc đời. Rồi đến lúc sắp chết sẽ lại bị các anh nhét bút vào tay bắt kí. Ba là công dân có quyền tự do ngôn luận vì thế bài viết của tôi hoàn toàn hợp pháp trong đời sống dân sự. Tôi phải kí xác nhận bài viết với công an là tôi đã tự hình sự hóa bài viết của tôi. Tôi không thể làm điều đó.

Ông Sang bảo: Bài của bác sao bác không dám kí. Bác sợ à? Tôi mỉm cười: Nếu sợ tôi đã không dám viết. Có viết cũng không dám kí tên thật mà phải dùng một cái tên ảo Nguyễn Văn Sang, Nguyễn Văn Hèn nào đó. Tất cả các bài viết của tôi trên mạng suốt bao năm nay tôi đều ghi tên đầy đủ, rõ ràng. Không có bài nào tôi phải giấu tên. Điều đó xác nhận rằng tôi chẳng có gì phải sợ hãi. Làm đúng với lương tâm, trách nhiệm và luật pháp thì có gì phải sợ hãi, anh Sang nhỉ.

Ông Tuấn cắm cúi viết chắc là ghi biên bản. Chỉ còn đối đáp của ông Sang và tôi. Việc trùng tên rất thường gặp. Cũng có khi người khác ghi tên bác ở bài của họ thì sao. Vì thế bài nào của bác, bác phải kí xác nhận để phân biệt với những bài khác. Tên của tôi và bài viết của tôi là một chỉnh thể thống nhất. Văn phong, giọng điệu, ngôn ngữ, tình cảm, thái độ và cả kiến thức, trí tuệ trong bài viết của tôi cũng đã làm nên cái tên Phạm Đình Trọng và cái tên đó luôn là một chỉnh thể thống nhất với bài viết. Bài viết cũng như vân tay của một người. Từ vân tay công an xác định được người có vân tay đó thì từ bài viết, công an cũng dễ dàng xác định được người viết bài đó.

Lặp đi lặp lại đòi hỏi bác phải kí xác nhận bài viết là của bác thì cũng lặp đi lặp lại lí do không kí: Không phải chỉ riêng tôi phải kí mà hàng trăm, hàng ngàn người khác cũng đã và sẽ bị các anh yêu cầu kí vào bài viết. Số giấy mực in lại bài viết của một người thì không đáng bao nhiêu nhưng bài viết của hàng trăm, hàng ngàn người thì tiền giấy mực không phải là nhỏ. Dân mình còn nghèo lắm. Tiền giấy các anh in bài là tiền thuế của những người dân nghèo chạy ăn từng bữa đấy. Chúng tôi cứ kí hết lần này đến lần khác là các anh cứ vô tư tiêu phí những đồng tiền thuế của dân nghèo vào những việc không đáng tiêu. Tôi không thể hình sự hóa bài viết của tôi. Tôi không thể suốt đời cứ bị gọi lên gặp các anh để kí xác nhận bài viết.

Nếu bác không kí thì không có gì xác nhận có buổi làm việc hôm nay. Ông Sang nhắc đi nhắc lại câu đó rồi hứa: Bác cứ kí đi. Đây là lần kí cuối cùng. Sẽ không có lần thứ ba nữa. Tôi bảo: Lòng tin của người dân vào công an bây giờ xuống rất thấp. Chả có gì bảo đảm rằng tôi không còn bị các anh mời lên kí xác nhận bài viết nữa. Chúng tôi sẽ ghi vào biên bản làm việc điều đó. Biên bản các anh đưa vào hồ sơ rồi cất trong tủ sắt. Tôi đâu có bằng chứng về lời hứa của các anh. Tôi đề nghị các anh ghi điều đó ra giấy để tôi giữ lời hứa của các anh bằng giấy trắng mực đen. Ông Sang im lặng rồi đi ra ngoài. Trong quá trình làm việc, ông Sang mấy lần ra khỏi phòng gọi điện thoại. Lần này ông Sang ra ngoài khá lâu. Trở vào phòng, ông Sang ngồi lặng lẽ, dáng chờ đợi.

Gần nửa tiếng im lặng chờ đợi, người thứ ba mới xuất hiện. Lời giới thiệu của ông Sang về nhân vật mới chỉ vẻn vẹn có cái tên, anh Toàn. Mặt trắng, sáng sủa. Chân râu xanh rì quanh miệng. Đầu hói khoảng ba mươi phần trăm. Dáng nho nhã của con người bureau. Nhìn ông Tuấn thấy sự hăng hái, xông xáo, thấy cả sự tất bật, băm bổ của con người hành động thì nhìn ông Toàn nhận ra sự lạnh lùng, kín đáo của con người toan tính, nhận ra cả sự tư tin của kẻ rất có ý thức về sức mạnh đang có trong tay. Cái tự tin “công an là pháp luật, pháp luật là công an” của mọi công an nhà nước cộng sản Việt Nam.

Lời đầu tiên ông Toàn nói ngay những hiểu biết của ông về tôi, tuy những hiểu biết đó chỉ là bề ngoài, không đúng thực chất và không ăn nhập với đề tài buổi làm việc: Bác còn quá khỏe, còn đi khắp nơi. Bác có hai nhà cho thuê. Lương hưu lại cao . . . Ông Toàn còn kể ra cả căn hộ tôi đang ở là căn hộ penthouse, căn hộ thông tầng. Tôi nói: Những điều anh Toàn nói tuy có cái không đúng như tôi làm gì có hai nhà cho thuê nhưng tôi không cần diễn giải vì đây là lĩnh vực riêng tư của đời sống cá nhân được pháp luật bảo đảm bí mật, không bàn ở đây.

Ông Toàn hỏi tôi về Văn Đoàn Độc Lập. Văn Đoàn đã có hoạt động gì? Các tổ chức quốc tế có công nhận Văn Đoàn, có ủng hộ sự ra đời của Văn Đoàn không? Trang web của Văn Đoàn do ai làm? Bác đã viết bài cho trang web này chưa? Tham gia Văn Đoàn như thế nào? Tôi bảo: Anh Toàn cũng biết thời nước ta còn bị Pháp đô hộ, còn chưa có độc lập thế mà Tự Lực Văn Đoàn còn được ra đời và hoạt động suốt mười năm, từ năm 1932, để lại một nét son, một dấu ấn sâu đậm mãi mãi trong lịch sử văn học nước nhà. Bây giờ nước ta đã có độc lập, có Hiến pháp bảo đảm quyền lập hội cho công dân thì các nhà văn thành lập Văn Đoàn Độc Lập cũng là bình thường. Một xã hội dân sự phải có các tổ chức xã hội thực sự của người dân, do người dân thành lập và duy trì hoạt động. Ông Toàn cắt lời tôi rằng trên thế giới không nước nào có xã hội dân sự cả. Tôi rất ngạc nhiên về nhận thức xã hội dân sự của ông Toàn. Tôi nói chỉ có mấy nước cộng sản là không có xã hội dân sự thôi. Phần lớn các nước trên thế giới đều là xã hội dân sự. Văn Đoàn Độc Lập chưa chính thức ra đời. Mới có 61 người tập hợp nhau lại thành ban vận động rồi mới tiến tới thành lập Văn Đoàn. Tôi chỉ là một trong 61 người đó. Anh Toàn theo dõi các trang mạng thì cũng biết các hãng thông tấn nổi tiếng thế giới như BBC, RFA đều đã có bài phỏng vấn, đưa tin về Văn Đoàn. Đó là sự ủng hộ, chào đón của họ với Văn Đoàn. Chỉ là thành viên, không có chức trách gì ở Văn Đoàn nên tôi không biết ai làm trang web của Văn Đoàn và tôi cũng chưa có bài đăng ở đó. Những người gia nhập Văn Đoàn đều là tự nguyện ghi tên xin tham gia qua email.

Ông Sang hỏi email của tôi nhưng tôi bảo email thuộc bí mật thư tín cá nhân nên tôi không thể tùy tiện cung cấp cho mọi người.

Ông Toàn giơ lên tờ giấy A4 in lại từ Facebook của tôi bài “Hoa của Bauxite Việt Nam, Diễn Đàn Xã Hội Dân Sự, Tổng Lãnh sự quán Hoa Kỳ viếng thầy Đinh Đăng Định” và hỏi: Bác có quan hệ với Tổng Lãnh sự quán Hoa Kỳ chứ? Những ngày lễ của họ, họ vẫn mời những người như bác đến dự lễ mà. Tôi bảo: Thầy Đinh Đăng Định chỉ vì phản đối dự án khai thác bô xít Tây Nguyên mà bị tù. Thày bị bệnh hiểm nghèo, gia đình xin cho thầy ra tù để chữa bệnh nhưng công an không cho. Đến lúc bệnh của thầy không còn chạy chữa được nữa, cái chết đã cận kề, công an mới trả thầy về gia đình để rũ bỏ trách nhiệm tang lễ cho thầy. Thầy chết, những công an đã gần gũi thầy suốt nhiều năm không ai đến viếng thầy nhưng Tổng Lãnh sự quán Hoa Kỳ xa lạ chưa hề gặp thầy đã gửi hoa viếng thầy. Hoa của Bauxit Việt Nam, hoa của Diễn Đàn Xã Hội Dân Sự mang tấm lòng của cả nước đến với thầy. Hoa của Tổng Lãnh sự quán Hoa Kỳ mang tấm lòng của loài người dành cho một con người. Ba giá hoa đẹp đó gây cho tôi sự xúc động mạnh mẽ nên tôi đã chụp ảnh đưa lên fb của tôi.

Lại trở về với những bài viết của tôi, ông Sang: Dạo này bác viết nhiều không? Bác có nhớ viết bao nhiêu bài không? Trong đầu thoáng xuất hiện một câu hài hước, tôi nhìn ông Toàn và có lẽ trên gương mặt tôi có nụ cười thấp thoáng khi tôi nói: Tôi viết bài nào thì các anh đều biết cả. Có các anh nhớ hộ, thống kê hộ nên tôi cũng chẳng cần nhớ tôi đã viết bao nhiêu bài. Ông Toàn nói: Lần trước bác kí là năm 2012. Hơn một năm bác mới lại kí nhận bài viết của bác, đâu có nhiều. Bỗng ông Toàn căng giọng: Bác không kí thì còn làm việc dài. Hôm nay không xong thì ngày mai, ngày mốt. Tôi bình thản: Tôi sẵn sàng ngồi với các anh. Nhưng các anh không có quyền làm điều đó. Công chức nhà nước chỉ được làm những gì pháp luật cho phép. Ông Toàn: Bác sợ mới không dám kí nhận bài viết của mình. Tôi biết ông Toàn sử dụng ngón nghề điều tra, đánh vào tâm lí tự ái cá nhân nhưng tôi vẫn thấy như bị xúc phạm liền nói to: Anh nói thế là xúc phạm tôi. Tôi chẳng có gì sai để phải sợ các anh. Ông Toàn vẫn không thôi ngón đòn tâm lí: Tôi biết trong lòng bác đang sợ. Kiên trì lí lẽ của mình, tôi nói ngắn gọn: Tôi không kí để tự hình sự hóa bài viết của mình. Tôi không kí để cứ phải kí suốt đời. Ông Toàn liền lớn tiếng như quát: Bác còn viết thì còn phải kí!

Bác còn viết thì còn phải kí! Sự tự tin của ông Toàn đó! Công an là pháp luật, pháp luật là công an đó! Không có điều luật nào cho phép công an được mời công dân đến trụ sở công an vì những bài viết hợp pháp. Không có điều luật nào buộc công dân phải kí xác nhận bài viết hợp pháp với công an. Nhưng ông Toàn vẫn nói chắc nịch như công bố một điều luật của công an: Bác còn viết thì còn phải kí! Tôi lại nhớ đến câu nói của ông Sang mới ít phút trước: Đây là lần kí cuối cùng, không có lần kí thứ ba. Con người công dân của ông Sang đó! Bác còn viết thì còn phải kí! Con người công cụ của ông Toàn đó!

Kí – Không kí. Đã nói hết lí lẽ với nhau vẫn không chấp nhận đề xuất của nhau. Chẳng còn gì để nói, tất cả đều ngồi im lặng. Chợt ông Toàn đưa ra lối thoát: Bác không kí vào từng bài thì kí vào tờ giấy ghi rằng từ ngày 10 tháng tư năm 2014 trở về trước, những bài đứng tên Phạm Đình Trọng là của bác. Chúng tôi viết rồi đưa bác kí hoặc bác tự viết tờ giấy đó cũng được. Suy nghĩ giây lát, tôi chấp nhận giải pháp này. Tôi xin tờ giấy A4 và tự viết. Ông Sang nhắc tôi ghi tiêu đề Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhưng tôi không chấp nhận. Với tôi, đây không phải là văn bản pháp luật. Tôi viết ngắn gọn: XÁC NHẬN / Những bài viết trên mạng internet kí tên Phạm Đình Trọng từ ngày 10. 4. 2014 trở về trước là của tôi, Phạm Đình Trọng / Phước Kiển ngày 10. 4. 2014 / Kí tên.

Tôi đưa tờ giấy vừa viết cho ông Toàn. Ông Toàn đề nghị tôi thay chữ “kí tên” trong câu “Những bài viết trên mạng internet kí tên…” bằng chữ “đứng tên”. Lại phải lấy tờ giấy khác viết lại.

Ông Sang ra ngoài mời cô nhân viên hành chính Ủy ban Nhân dân xã Phước Kiển và ông hàng xóm cạnh trụ sở công an xã Phước Kiển vào làm chứng việc tôi viết giấy xác nhận. Lại mời cô công an xã Phước Kiển vào viết văn bản để hai người làm chứng kí.

Trong khi chờ ông Sang đi mời mấy người vào viết giấy làm chứng, tôi hỏi ông Tuấn: Anh Tuấn có biết hình ảnh của anh được đưa lên tất cả các trang mạng tiếng Việt khắp thế giới không? Ông Tuấn im lặng. Mặt ông Tuấn vốn đã tối như càng tối hơn. Ông Toàn nói: Sự nổi tiếng ấy cũng là do các bác. Tôi bảo: Tôi có đến viếng đám tang anh Lê Hiếu Đằng nhưng lúc anh Tuấn cướp băng tang, tôi không ở đó. Không biết ai chụp được bức ảnh giây phút anh Tuấn làm việc đó và đưa lên mạng. Là người phải có cái đức. Cái đức để sống ở đời và cái đức để lại cho con cháu, anh Tuấn nhỉ.
Giấy xác nhận rồi giấy làm chứng xác nhận đã xong. Đến biên bản làm việc cũng mất khá nhiều thời gian vì Kí – Không kí. Cuối cùng tôi chấp nhận xóa chữ “Đương sự” viết thay vào chữ “Người làm việc” ở cuối biên bản và ghi: Như lúc đầu tôi đã nói đây chỉ là buổi gặp gỡ trao đổi để hiểu nhau nên tôi không kí vào bất kì biên bản nào. Tôi không đọc biên bản này.

Lời cuối

Đến nay tôi vẫn chưa lí giải được vì sao công an cần một chữ kí của tôi đến vậy. Vì thế tôi vẫn chưa xác định được buổi làm việc của tôi với công an hôm 10.4.2014 là thất bại hay là một kết quả chấp nhận được. Chỉ nhận ra rất rõ cảm giác mệt mỏi. Mệt mỏi về thể xác song ý chí của tôi không những không hề lay chuyển mà còn giúp tôi từng trải hơn, vững vàng hơn.

Những cuộc làm việc như vậy thực sự là cuộc công an khủng bố tinh thần, nhục hình tinh thần đối với công dân, chà đạp lên quyền con người, quyền công dân của người dân. Những cuộc làm việc như vậy cũng không khác bao nhiêu với việc năm công an ở Phú Yên dùng gậy cao su đánh chết công dân Ngô Thanh Kiều.

Nhân danh pháp luật, công an Phú Yên bắt anh Kiều trái pháp luật rồi cứ cái đà lạm quyền, lộng hành, mất tính người, năm công an Phú Yên thay nhau đánh anh Kiều nát nhừ thân thể đến chết. Nhân danh pháp luật, công an viết giấy mời trái pháp luật, hình sự hóa đời sống dân sự. Những cuộc làm việc theo giấy mời của công an với công dân là những trận nhục hình đối với công dân nhằm giết chết con người công dân, con người xã hội, giết chết con người trách nhiệm với đất nước, với dân tộc, với đồng loại, để người dân chỉ còn được sống bằng con người sinh vật ích kỉ, chỉ biết có miếng ăn và chỉ mong được yên thân, để người dân chỉ còn được sống bằng con người thần dân, phục tùng, cam chịu như một bầy cừu.

Sự lộng hành của công an bằng gậy cao su để lại bằng chứng là cái chết của anh Ngô Thanh Kiều ở Phú Yên, cái chết của ông Trịnh Xuân Tùng ở Hà Nội, cái chết của anh Nguyễn Văn Khương ở Bắc Giang, cái chết của em học sinh Tu Ngọc Thạch ở Khánh Hòa và cái chết trong đồn công an của hàng trăm người dân lương thiện khác. Những cái chết đó khắc ghi trong lòng người dân Việt Nam tội ác của công cụ bạo lực chuyên chính vô sản.

Sự lộng hành của công an bằng việc mời trái pháp luật công dân đến làm việc để dùng quyền uy của công cụ bạo lực nhà nước đánh đòn cân não vào tinh thần, ý chí con người tuy không để lại dấu vết trên thân thể nhưng hiểm độc và nguy hại hơn nhiều lần sự lộng hành của cơ bắp. Còn gì hiểm độc và nguy hại bằng giết chết con người công dân của một dân tộc. Sự lộng hành đó cần được ghi nhận lại trung thực bằng chữ nghĩa khắc vào thời gian, khắc vào lịch sử về một loại tội ác của công cụ bạo lực chuyên chính vô sản chỉ có ở nhà nước cộng sản.

Viết xong đêm 11. 4. 2014.

Theo Facebook Nguyen Lan Thang

Trong tin đồn có cả sự thật

Văn Hùng (SM) – Báo chí bấy lâu nay vẫn được đánh giá cao về tính phản biện. Thế nhưng ngày nay khi có quá nhiều thứ được “vén màn” với “lộ diện” thì báo giới đôi khi cũng bị gán tội đưa tin đồn thất thiệt. Đành rằng, những thông tin sai lệch phải bị nghiêm khắc xử lý song cũng nhiều bật mí đã được ép rơi vào vùng“ im lặng đáng sợ”. Không ít vụ việc tồn đọng nhiều năm mới được giãi bày chỉ sau khi truyền thông “xới” lại.

Gần đây báo chí có ồn ào về chuyện nhà công vụ. Thật ra khi nói “nhà công vụ” ai cũng hiểu đó là nhà cấp cho cán bộ đương chức sử dụng vào cuộc sống riêng; khi nào nghỉ hưu, cán bộ phải trả lại nhà nước để cấp cho cán bộ đương chức. Song nhiều trường hợp đã không thể thu hồi nhà. Một phần bởi văn bản pháp quy quản lý nhà nước về nhà công vụ vẫn còn kẽ hở, nhưng phần nhiều là bởi sự tiếc nuối, xót xa của cán bộ (và cả người thân của họ) không muốn buông. Thế nên khi nhận được thông báo thu hồi thì họ vội biện minh rất ngây thơ rằng: “tôi không biết”; “chẳng thấy ai nói gì cả”; “nếu thu nhà gia đình tôi biết đi về đâu, ở đâu?”…

Chuyện tài sản cán bộ khó phân định khi về hưu đã đành, ngay khi cái việc đề bạt, bổ nhiệm cán bộ; về thu nhập và khối tài sản khổng lồ của một số cán bộ cao cấp đương chức và nghỉ hưu cũng lắm thứ bất bình thường. Báo chí cũng đưa tin, bình luận cả rồi, nhưng rồi chờ mãi chẳng thấy ai lên tiếng giải thích. Vì thế, dư luận cứ bàn tán xôn xao với những hoài nghi bất lợi, tạo nên bức xúc xã hội, xói mòn lòng tin với cơ quan công quyền, với cán bộ có chức quyền…

Thôi thì chốn quan trường lắm chuyện khó nói, song đến ngay chuyện ăn ở của dân cũng chẳng mấy khi được thỏa lòng ngôn luận. Mới đây thôi đường ống dẫn nước sạch phục vụ dân sinh ở Hà Nội đã vỡ đến 6 lần, dân kêu than, nhưng chả cán bộ, nhân viên liên quan bị xử lý gì cả vì nguyên nhân được cho là “khách quan” cùng với những lời hứa sẽ sớm khắc phục như vẫn thấy.
 Nhiều vụ doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh gây ô nhiễm môi trường làm thiệt hại kinh tế, ảnh hưởng sức khỏe người dân trong nhiều năm, tiếng kêu cứu cứ rơi vào vòng xoáy của sự tắc trách, vô cảm của những người thiếu lương tâm nghề nghiệp, kiếm sống bằng mọi cách, thậm chí bất chấp pháp luật.
Báo chí lên tiếng phản biện, làm cầu nối đưa tiếng nói người dân tới các cơ quan và cá nhân liên quan, nhưng cũng không ít lần giới chức né tránh trách nhiệm bằng cách bất hợp tác với báo chí, cung cấp thông tin không đầy đủ, thiếu trung thực hoặc tìm mọi cách bao biện cho yếu kém của mình.
Nhiều vụ việc được ngâm lâu nên từ “ nóng” thành “ nguội” và rơi vào quên lãng. Mỗi khi truyền thông nhắc lại thường nhận được những câu thở dài, cái lắc đầu ngao ngán đằng sau sự bức xúc, buồn nản, thất vọng.
“Không có lửa làm sao có khói”, kiểu bưng bít thông tin ấy chỉ càng khiến cho người ta thêm tò mò, đi “hóng” thông tin ngoài luồng, những tin đồn được thể ngày càng bay xa. Mà một đồn mười, mười lại đồn trăm, chẳng mấy lại trở thành tin đồn thất thiệt. Khắp nơi chỉ là thất thiệt, để rồi con người ta chẳng còn biết tin bất cứ ai và cả một thế hệ sống trong khủng hoảng lòng tin, một xã hội bất an. Đó có lẽ cũng là nguyên nhân mà giới trẻ hiện nay bị phê phán là sống không lý tưởng. Cũng không có gì là khó hiểu bởi một khi khủng hoảng niềm tin thì họ sẽ sống không mục đích và dễ sa lầy vào những cuộc vui quên ngày tháng.
Để kết thúc bài viết này, xin mượn lời Phó giáo sư, tiến sĩ Phạm Duy Nghĩa ( Trưởng Khoa Luật, ĐH Kinh tế TpHCM): “Trên thế giới, chính quyền thường không muốn minh bạch thông tin. Đó là một thực tế, kể cả ở nhiều quốc gia phát triển. Chỉ dưới sức ép liên tục của dân chúng thì chính quyền mới chấp nhận biện pháp minh bạch, càng minh bạch chính quyền càng vững mạnh tựa như ánh sáng sẽ giết chết vi trùng” .
Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s