Bản chất của chế độ qua việc bắt và thả người

Posted: April 18, 2014 in Uncategorized
Tags:

Nguyễn Hưng Quốc (VOA-Blog) – Thời gian gần đây, chính quyền Việt Nam quyết định trả tự do cho khá nhiều người bị xem là bất đồng chính kiến, trong đó, được dư luận chú ý nhất là việc thả ông Vi Đức Hồi và Nguyễn Tiến Trung vào ngày 12/4; trước đó gần một tuần, thả và cho phép luật sư Cù Huy Hà Vũ cùng vợ được sang Mỹ với lý do “chữa bệnh”; trước đó nữa, ông Nguyễn Hữu Cầu cũng được thả sau 38 năm bị giam cầm; và trước đó nữa nữa, nhà giáo Đinh Đăng Định cũng được thả khi sức khỏe đã hoàn toàn cạn kiệt (mấy tháng sau đó, ông mất).

Xem thêm: Hai Tấm Hình “Trước Và Sau” Về Ts. Cù Huy Hà Vũ + Ai đã vận động cho tự do của tiến sỹ luật Cù Huy Hà Vũ? + Giá tù nhân chính trị

Trại giam số 5 của Bộ Công an tại Thanh Hóa,
nơi tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ từng bị giam giữ.

Theo nhà bình luận Phạm Chí Dũng, “đầu năm 2014 đã chứng kiến một đợt thả tù nhân chính trị lớn nhất và mang tính ‘Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước’ sắc nét nhất tính từ thời điểm năm 1975 đến giờ”.

Với một sự kiện đáng chú ý như thế, không có gì lạ khi số người tham gia tranh luận, đặc biệt trên các diễn đàn mạng, rất đông. Nhiều vấn đề, đặc biệt lý do khiến chính quyền Việt Nam trả tự do cho năm “tù nhân chính trị” trong một quãng thời gian ngắn ngủi như thế, đều có tính chất phỏng đoán. Không có ai có đủ thông tin từ trong Bộ Chính trị hoặc Trung ương đảng để có thể khẳng định được một cách chính xác. Bởi vậy, thay vì phỏng đoán tìm nguyên nhân, tôi chỉ ghi nhận một số phân tích từ các sự kiện ai cũng thấy.

Mô tả bản chất độc tài của một chế độ, người ta có thói quen tập trung vào các vụ án. Các phiên tòa trở thành tụ điểm của sự áp bức. Tuy nhiên, phần lớn người ta chỉ chú ý đến giai đoạn đầu: giai đoạn buộc tội và kết án. Thì cũng đúng. Tất cả các phiên tòa liên quan đến chính trị ở Việt Nam đều có hai đặc điểm nổi bật:

Một là bắt bớ và buộc tội một cách vô cớ hoặc, nếu có cớ, những chứng cớ ấy không có chút chính đáng gì cả. Lý do để bắt: hoặc “hai cái condom đã qua sử dụng” hoặc trốn thuế. Lý do để buộc tội thường là “tuyên truyền chống phá nhà nước”, một cái tội vô duyên không thể tìm thấy ở bất cứ một quốc gia tự do nào trên thế giới, nơi người ta hợp thức hóa và hợp pháp hóa vai trò đối lập, một hình thức “chống phá chính phủ” bất bạo động. Hai là án lệnh dành cho những người bất đồng chính kiến bao giờ cũng nặng, nặng đến mức vô nhân đạo.

Với hai đặc điểm ấy, không có gì đáng ngạc nhiên khi thế giới thường quan tâm đến các phiên tòa xét xử các nhân vật bất đồng chính kiến tại Việt Nam.

Tuy nhiên, theo tôi, khi quá chú ý vào các phiên tòa với những lời buộc tội và kết án oan ức, người ta mắc phải một sai lầm là ít chú ý đến những gì xảy ra sau các phiên tòa, trong đó, bao gồm cả việc trả tự do một cách bất bình thường.

Liên quan đến việc thả năm tù nhân chính trị vừa rồi, nhiều nhà bình luận cho nguyên nhân chính là chủ trương hòa hoãn của nhà cầm quyền Việt Nam trước yêu sách của nước ngoài, đặc biệt là Mỹ. Nếu đúng, điều đó lại có rất nhiều ý nghĩa.

Thứ nhất, nói theo lời của Ủy ban Bảo vệ Nhà báo Quốc tế (CPJ) mới đây, nhà cầm quyền Việt Nam đã sử dụng các nhân vật đối lập như những “con tin để đổi lấy sự nhượng bộ của cộng đồng quốc tế về kinh tế hay quân sự”.

Thứ hai, bằng những sự “trao đổi” dã man như vậy, nhà cầm quyền cũng mặc nhiên thú nhận cái gọi là tòa án, hay rộng hơn, pháp luật ở Việt Nam, không có chút giá trị gì cả: Người ta muốn bắt lúc nào thì bắt, muốn thả lúc nào thì thả, tùy theo các ý đồ chính trị chứ không phải là căn cứ vào pháp luật. Nếu những việc bắt giữ và kết tội một cách oan ức, thậm chí, vô lý, tố cáo sự tàn bạo của nhà cầm quyền, ngay cả việc trả tự do để đáp ứng một đòi hỏi của nước ngoài, tự nó, cũng là một việc làm tàn bạo: Nó không coi trọng những giá trị căn bản của con người. Nó chỉ xem con người như một phương tiện hay một món hàng.

Thật ra, đàng sau sự tàn bạo ấy là một sự yếu đuối đến hèn hạ. Trấn áp những người tranh đấu cho dân chủ và nhân quyền bất bạo động, không có một vũ khí gì trong tay trừ ngôn ngữ là một sự sợ hãi bệnh hoạn. Khuất phục trước các yêu sách thả tù nhân chính trị trong nước để hy vọng nhận được một ân huệ gì đó từ nước ngoài cũng là một việc làm rất thiếu tự tin. Sự thiếu tự tin ấy lại làm phô bày bản chất bất nhân và trơ tráo của chế độ: Nó trở thành hèn hạ.

Nhưng điều quan trọng mà chúng ta cần chú ý không phải ở phạm trù đạo đức với những sự tàn bạo hay hèn hạ mà là ở phạm trù chính trị: Một chế độ sử dụng luật pháp để trấn áp dân chúng trong nước và để trao đổi với nước ngoài nhất định không phải là một chế độ dân chủ.

Một trong những đặc điểm lớn nhất trong chính trị thế giới từ nửa sau thế kỷ 20 trở lại đây là luật pháp không còn là tiêu chí để phân biệt một chế độ dân chủ với một chế độ độc tài. Bởi, mọi chế độ đều có luật pháp và đều nhân danh luật pháp cho mọi chính sách và mọi hành động của mình. Nói cách khác, mọi chế độ độc tài thời hiện đại đều mang bộ mặt dân chủ: Họ cũng có hiến pháp và luật pháp. Họ cũng có bầu cử và tòa án. Họ có tất cả những gì các nước dân chủ có.

Sự khác biệt giữa một chế độ dân chủ và một chế độ độc tài không phải ở những cái có mà ở những cách thức thực thi những cái có ấy. Ví dụ, liên quan đến luật pháp. Một, ở các nước dân chủ, luật pháp là tối thượng. Không có ai ở trên và/hoặc ở ngoài luật pháp. Hai, ở các nước độc tài, ngược lại, luật pháp được sử dụng như một công cụ để hợp thức hóa các hành động độc quyền và trấn áp của họ: những người hoặc nguyên cả tầng lớp lãnh đạo đều ở trên và/hoặc nằm ngoài luật pháp. Trường hợp trên được gọi là pháp quyền (rule of law); trường hợp dưới gọi là pháp trị (rule by law).

Chính quyền Việt Nam, trên mọi thứ giấy tờ chính thức, đều tự nhận là một nhà nước pháp quyền. Thực chất, họ chỉ là pháp trị: Họ sử dụng luật pháp để cai trị: Luật pháp chỉ có tác dụng đối với tầng lớp bị trị. Còn với tầng lớp thống trị thì không: Ở đó, họ chỉ có các “điều lệ đảng”. Mà các điều lệ đảng thì do họ viết và họ có thể thay đổi từ điều lệ đến cách diễn dịch các điều lệ một cách dễ dàng.

Hai Tấm Hình “Trước Và Sau” Về Ts. Cù Huy Hà Vũ

(Mạch Sống) – Tấm hình Ts. Cù Huy Hà Vũ hiên ngang trong bộ “vét” tại phiên toà ngày 4 tháng 4, 2011 của AFP đã được lưu truyền rộng rãi và sử dụng bởi các tổ chức nhân quyền quốc tế để làm biểu tượng cho thái độ của các nhà tranh đấu cho nhân quyền và dân chủ trước bạo quyền. Chế độ cộng sản Việt Nam hoàn toàn tránh không sử dụng tấm hình này và những tấm hình tương tự.

Gần đúng 3 năm sau, nhân dịp Ts. Cù Huy Hà Vũ và vợ là Ls. Nguyễn Thị Dương Hà đến thăm hãng luật WilmerHale LLP, họ chụp một tấm hình hoàn toàn tương phản: Ts. Vũ mặc đúng bộ “vét” và đeo đúng “cà vạt” khi ra toà, nhưng lần này hai người đứng kèm hai bên lại là hai luật sư từng bảo vệ và đòi tự do cho Ts. Vũ chứ không phải là hai công an đại diện cho công cụ đàn áp của nhà nước cộng sản Việt Nam.

Đây là hai trong số nhiều luật sư của hãng luật WilmerHale đã lập hồ sơ gởi Tổ Công Tác Liên Hiệp Quốc về Giam Giữ Tuỳ Tiện. Tổ Công Tác này đã kết luận rằng việc bỏ tù Ts. Vũ là tuỳ tiện, và yêu cầu chính quyền Việt Nam trả tự do lập tức và vô điều kiện và bồi thường tổn hại cho Ts. Vũ.


Ts. Vũ ký tên trên bản phúc trình của tổ chức Human Rights Watch để tặng hai vị luật sư của WilmerHale, ngày 16 tháng 4, 2014. Trang bìa của bản phúc trình in lớn tấm hình tại phiên toà ngày 4 tháng 4, 2011. (ảnh BPSOS)


Ts. Vũ tại phiên toà ngày 4 tháng 4, 2011 (ảnh AFP)

Sự tương phản giữa hai tấm hình trước và sau (before and after) tự nó nói lên sự khác nhau như ngày với đêm giữa chế độ cộng sản ở Việt Nam và thế giới tự do. Một đằng là khống chế; đằng kia là khai phóng. Một đằng là đàn áp; đằng kia là trân trọng.

Các luật sư của hãng luật WilmerHale cho biết sẽ tiếp tục đại diện cho Ts. Vũ trong những tháng năm tới đây khi cuộc tranh đấu của Ts. Vũ để đòi nhân quyền và dân chủ ở Việt Nam chuyển sang bình diện quốc tế.


Kết Nghĩa Với Tù Nhân Lương Tâm (MS) – Ts. Cù Huy Hà Vũ trao đổi quan điểm với Ông Scott Busby, Trợ Lý Phụ Tá Ngoại Trưởng về Dân Chủ, Nhân Quyền và Lao Đông, và Ls. Jack Harrington thuộc hãng luật WilmerHale. Phái đoàn đón tiếp còn gồm có Ông Ryan Fioresi, nhân viên đặc trách về nhân quyền Đông Á và Thái Bình Dương của BNG Hoa Kỳ; các luật sư David Bowker và Brian Smith thuộc hãng luật WilmerHale; cô Hồ Xuân Phương, thực tập sinh của Uỷ Hội Nhân Quyền Tom Lantos; và Ts. Nguyễn Đình Thắng, Giám Đốc BPSOS. Phi trường Dulles International Airport ngày 7 tháng 4, 2014 (ảnh BPSOS)

Tổ chức BPSOS cũng vừa phổ biến đoạn video về cuộc đón tiếp Ts. Cù Huy Hà Vũ và Ls. Nguyễn Thị Dương Hà ở phi trường Dulles International Airport ngày 7 tháng 4 vừa qua. Phái đoàn đón tiếp gồm ba luật sư của hãng luật WilmerHale, Trợ Lý Phụ Tá Ngoại Trưởng Scott Busby và Ông Ryan Fioresi, nhân viên đặc trách nhân quyền Đông Á và Thái Bình Dương, cô Elise Hồ thuộc Uỷ Hội Nhân Quyền Tom Lantos và Ts. Nguyễn Đình Thắng, Giám Đốc BPSOS. Cô Jenifer Neidhart de Ortiz, nhân viên đặc trách nhân quyền ở Toà Đại Sứ Hoa Kỳ ở Hà Nội, đã đi cùng Ts. Vũ từ Việt Nam đến Hoa Kỳ.

.
Đoạn video cuộc đón tiếp Ts. Vũ và Ls. Hà ở phi trường Dulles International Airport cho thấy là các “dư luận viên” hoàn toàn sai khi bình luận rằng Ts. Vũ đến Hoa Kỳ trong lặng lẽ, không ai tiếp đón.

⇐ Quốc Hội Ái Nhĩ Lan Vinh Danh Ts. Cù Huy Hà Vũ

Quốc Hội Ái Nhĩ Lan chọn Ts. Cù Huy Hà Vũ là một trong năm nhà đấu tranh nhân quyền vào vòng chung kết của Giải Front Line Defender (Người Bảo Vệ Ở Tiền Tuyến) Dành Cho Những Nhà Tranh Đấu Nhân Quyền Bị Đàn Áp cho năm 2012. Đây là giải thưởng hàng năm do tổ chức Front Line Defenders trao cho một người đang bị đàn áp vì đã can đảm đứng lên bảo vệ nhân quyền cho những người khác. Đầu năm nay, BPSOS đề cử Ts. Luật Cù Huy Hà Vũ cho giải thưởng này.

[:-/]Ai đã vận động cho tự do của tiến sỹ luật Cù Huy Hà Vũ? (VOA) – Một tổ chức vận động nhân quyền ở Mỹ mới tiết lộ thông tin về những người đứng sau cuộc vận động đòi phóng thích các nhà bất đồng chính kiến ở Việt Nam.

Trong thông cáo đề ngày 14/4, tiến sỹ Nguyễn Đình Thắng, Giám đốc Điều hành của Ủy ban cứu người vượt biển (BPSOS), đã cho biết tên của ‘những khuôn mặt đặc biệt’ mà theo ông ‘công luận ít ai biết đến’. Theo ông Thắng, một trong những người có công lớn giúp tiến sỹ luật Cù Huy Hà Vũ được tự do là Thượng nghị sĩ Ben Cardin, Chủ tịch Tiểu ban Đông Á và Thái Bình Dương của Thượng viện Hoa Kỳ. (…)

Thượng nghị sĩ Ben Cardin nói: “Tôi hoan nghênh việc thả ông Cù Huy Hà Vũ và hy vọng sẽ chứng kiến thêm các bước đi cụ thể của chính phủ Việt Nam để đạt tiến bộ hơn nữa về nhân quyền, trong đó có việc thả ngay lập tức tất cả các tù nhân lương tâm và các nhà hoạt động cũng như nỗ lực thực chất hơn nhằm duy trì các tiêu chuẩn cao nhất đối với việc bảo vệ các quyền tự do hội họp và bày tỏ ý kiến”.

Tiến sỹ Nguyễn Đình Thắng nói: “Chắc chắn đây là áp lực từ phía quốc hội Hoa Kỳ, đặc biệt là Thượng nghị sĩ Ben Cardin, là người đã đích thân nêu trường hợp của tiến sỹ Cù Huy Hà Vũ ngay tại buổi tiếp tân, khoản đãi ông Trương Tấn Sang tại Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ trước sự hiện diện của ông Ngoại trưởng John Kerry. Chính Ngoại trưởng John Kerry cũng đặt vấn đề tự do cho tiến sỹ Cù Huy Hà Vũ là một trong những vấn đề quan trọng trong chính sách của Hoa Kỳ đối với Việt Nam”.

BPSOS là một trong các tổ chức làm cầu nối giữa gia đình các tù nhân và các nhà lập pháp Mỹ. (…)

Giá tù nhân chính trị

Phạm Kỳ Đăng (DĐXHDS) theo BVN – Từ 1963 đến 1989 Cộng hòa dân chủ Đức đã thả 33.775 tù nhân chính trị sang Tây Đức (CHLB Đức ) để đổi lấy ngoại tệ mạnh. Hệ thống buôn bán chính trị phạm đã kiếm lời nhiều nhất 390.000.000 D-Mark vào năm 1984 chỉ riêng với việc thả 2.236 người đối kháng, qui ra 174.419 D-Mark một đầu người. Hai nhà lãnh đạo uy quyền (1) lập hẳn những trương mục mang tên mình tại những nhà băng lớn nhất (tài khoản Honecker, tài khoản Mielke). Tuy nhiên CHLB Đức ngừng không trả tiền cũng như xuất hàng hóa theo chế độ ưu đãi cho CHDC Đức, khi nước này vào năm 1989 trở thành hội viên của Hội đồng nhân quyền Liên hiệp quốc buộc phải cam kết tôn trọng và thực thi nhân quyền. Tuy buôn người khấm khá, mà vậy rồi CHDC Đức cũng phá sản và sụp đổ.

Nhà nước CHXHCN Việt Nam, sau những vụ hành hình kẻ thù giai cấp vô tội vạ đỉnh cao thời Cải cách ruộng đất, dán cái nhãn “phản động” lên người bất mãn hoặc phê phán chế độ rồi đưa họ vào nhà tù hay trại cải tạo. Hình thức triệt tiêu thay thế thủ tiêu. Số phận của nạn nhân bi thương hơn, do người tù chính trị bị giam trong những trại cải tạo heo hút cách ly tuyệt đối, sự hành hạ về tinh thần dai dẳng hơn, bởi trong một thời gian dài Việt Nam không có những lực lượng đối kháng trong xã hội lên tiếng động viên và ủng hộ họ.

Số phận của nhà nước chuyên chính vô sản kiểu mao-ít, luôn thi hành chính sách thiếu minh bạch khác thường, biệt lập với thế giới, từ bên ngoài nhìn vào không khá hơn, thực ra lại là bi đát. Điều liên quan đáng để ý ở đây: sự bắt bớ giam cầm tù nhân chính trị cho đến gần đây chưa bao giờ thu hút được sự chú ý của truyền thông và các tổ chức quốc tế, và do vậy nhà nước cũng chưa dám tổ chức được một thương vụ thu ngoại tệ mang tính lâu dài. Sự bắt bớ tăng lên, có thể thấy rõ rệt hơn từ sau Đại hội Đảng lần thứ 11, để thêm điều kiện thương lượng mới chỉ là tập tọng và thăm dò.

Trước mắt về ngắn hạn, Việt Nam đạt được một số thỏa hiệp nào đấy. Nhiều ý kiến nhận định việc thả bốn tù nhân lương tâm trong tháng Tư là phép thử hoặc là một toan tính chiến thuật. Nếu là một toan tính nước cờ chiến thuật, sẽ phải để ý đến bước tiếp tức khả năng tạm ngừng để rồi phát động một chiến dịch bắt bớ khác hoành tráng hơn, nếu một mai không ký được hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương, cùng lúc đó là vỡ nợ công và khủng hoảng toàn diện.

Như vậy chính quyền có thể duy trì chính sách tạo dựng thêm “thù địch“ và “phản động“, như cái nền chuyên chính tự học thuyết say máu luôn cần “kẻ thù“ vận hành “đúng qui trình“. Tuy nhiên thời thế hôm nay đã khác. Nhà nước đi nước cờ đang bị chiếu bí khắp nơi, không cẩn thận sẽ tứ bề thọ địch. Việc bắt giữ giam cầm có lẽ chỉ chiều lòng cho đồng chí Bốn Tốt. Nhưng Trung quốc, đang xuất siêu và thi hành chính sách bóp nghẹt kinh tế, chỉ ủng hộ chư hầu trên quan điểm lập trường để yên bề man rợ hóa dân tộc Việt Nam. Mới đây Trung quốc còn tuyên bố xóa bỏ hệ thống lao cải nữa. Nhóm cầm quyền bám đuôi Trung quốc, sẽ thù địch với nhân dân, và như vậy ngồi thế trứng để đầu đẳng.

Với chính quyền, bắt giam người vì lý do gọi là chính trị càng ngày là một việc thất sách. Ngụy tạo vụ án bắt người để thăng quan tiến chức cũng là một điều lố lăng, bởi bộ máy an ninh và công an quá dư thừa hàm cấp đã phình to quá mức ở quyền hạn, nhân sự và ở trang bị, đang đóng vai trò nhân danh đảng trị. Có thể dùng những điều luật mù mờ tước tự do người bất đồng quan điểm, tín ngưỡng. Bắt thì dễ, thả họ để trút gánh sau này không bao giờ gặp lại khó hơn nhiều. Người tù chính trị khác với thường phạm ở chỗ ấy. Vả chăng người đối lập quan điểm, người phê phán mang bao suy tư đầy thiện chí, hơn thế nữa ôm ấp nhiều sáng kiến cải cách tránh đổ vỡ. Hành hạ những người đó chính là đánh vào thành phần ưu tú của nhân dân.

Là thành viên mới của Hội đồng nhân quyền thế giới, nhà nước Việt Nam trong những cuộc điều trần thường kỳ phải phơi mặt giải trình với hầu hết các nước tham gia. Những kỳ sát hạch tiếp theo, nhà nước chuyên chế tước sạch quyền công dân khó có thể mãi mãi cho các nhà ngoại giao đọc báo cáo viết sẵn, như cho học trò dùng tài liệu quay cóp trong phòng thi như ta vừa thấy.

Tất cả những người vận động cho dân chủ và nhân quyền không nên thất vọng vì việc Việt Nam, với một lý lịch lem nhem về nhân quyền bất ngờ được kéo lên sân khấu của cộng đồng quốc gia nhân quyền, được chính thức gia nhập Hội đồng nhân quyền thế giới. Thành quả ấy trước mắt vừa gây thất vọng cay đắng trong lòng nhiều người, nhưng riêng cá nhân tôi không bực bội, tôi cho đó là khung pháp lý ràng buộc một thành viên chưa „tiến bộ“. Nếu đã là thành viên rồi, khó giở trò bắt thả người tùy tiện để vòi vĩnh.

Trong tháng Tư thời tiết hay chơi khăm, không ai biết nhà cầm quyền thành tâm đến đâu. Trước hết hãy vui cho người được trả tự do, bởi vì họ chịu tù đày không hề vô nghĩa. Và hợp lý hơn nên nhìn nhận từng cá nhân họ một cách bình thản và ôn hòa. Tôi không đòi hỏi gì hơn ở Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ, giả sử tương lai ông không làm gì nữa (mà ai đã biết?), ông đã đóng góp phần mình. Chúng ta tránh tâm lý thường thấy ở người trong và ngoài nước khá trông chờ và phó thác vào một người xuất chúng lãnh đạo hoàn hảo như “lãnh tụ”, nếu người kỳ vọng không khớp với mường tượng của mình lại sinh ra bới móc, chê trách, hết dèm pha ra hờn dỗi. Hình ảnh một người dựng nên theo mường tượng và trông chờ của đám đông chỉ là mẫu người phất lên bằng giấy, trong khi họ phải hứng đòn hành hạ bằng xương thịt của mình.

Và hơn hết hãy nghĩ đến Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, linh mục Nguyễn Văn Lý, Tạ Phong Tần, Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Quốc Quân, Bùi Hằng, Hồ Thị Bích Khương và còn bao người rên xiết không tên trong bóng tối tù ngục.

Chú thích: (1) Erich Honecker (1912-1994), Tổng bí thư Đảng Công nhân Xã hội thống nhất Đức và Erich Mielke (1907-2000), Bộ trưởng Bộ An ninh quốc gia của CHDC Đức.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.