Ai là người giàu trên con đường công nghiệp hóa?

Posted: May 5, 2014 in Uncategorized
Tags:

Trần Văn Thọ (DĐXHDS) – Từ năm 1996 Việt Nam đã có mục tiêu trở thành một nước công nghiệp hiện đại vào năm 2020. Gần đây các văn kiện đại hội hoặc các Nghị quyết trung ương của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng nhấn mạnh “tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại”.

Xem thêm: Công lý trong việc cho/nhận viện trợ/vay + Hà Nội: tàu 3 tỉ hút bùn chưa hút đã sắp thành … bùn + Giàn khoan khủng của TQ: phần thưởng cho vụ nổ súng với người Duy Ngô Nhĩ, quà mừng Chiến thắng Điện Biên và Sinh Nhật Bác + “Made in USA” rẻ hơn “Made in China”:Việt Nam lợi hay lo? + Cử nhân làm bồi bàn ‘tố’ tỉ lệ thất nghiệp báo động


Các nhà kinh tế lo ngại mục tiêu công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước
đến năm 2020 là quá tham vọng và khó thực hiện.

Chỉ còn 5-6 năm là đến cái mốc đó. Bây giờ là lúc mọi người, kể cả nhà nước, đang đánh giá tình hình công nghiệp hóa hiện tại và bàn về khả năng đạt mục tiêu năm 2020. Có nhiều cách tiếp cận vấn đề. Hôm nay tôi thử đưa ra một cách tiếp cận nhìn từ kinh nghiệm Nhật Bản, một quốc gia đã thành công trong quá trình trở thành một nước công nghiệp hàng đầu thế giới. Cách tiếp cận ở đây là xét xem ai là những người giàu lên và giàu như thế nào trong quá trình đó.

Một nước được xem là có nền công nghiệp hiện đại đương nhiên phải có nhiều mặt hàng công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao cạnh tranh mạnh trên thị trường thế giới, ngày càng chiếm vị trí chủ đạo trong sản xuất và xuất khẩu. Tác nhân của bức tranh sống động đó không ai khác hơn là nhà doanh nghiệp. Dĩ nhiên đứng đàng sau đó là nhà nước, có vai trò tạo ra môi trường pháp lý và các chính sách cần thiết để kích thích tinh thần doanh nghiệp (entrepreneurship) của họ. Tinh thần doanh nghiệp là tính tiến thủ của nhà doanh nghiệp, không bằng lòng với hoàn cảnh đương có mà là xông xáo tìm kiếm và nắm bắt cho bằng được các cơ hội do công nghệ và thị truờng mang lại. Người có tinh thần doanh nghiệp có con mắt nhìn xa trông rộng vào thế giới trong tương lai, giàu trí tưởng tượng về thành quả của công nghệ, biết là sẽ có nhiều bất xác định và rủi ro nhưng vẫn quyết đoán và đi tới hành động đầu tư, phối trí nhân lực và các nguồn lực kinh tế khác vào lãnh vực mới vừa khám phá được.

Những quyết định, hành động đó có nhiều rủi ro vì nhiều bất xác định nhưng khi thành công thì lợi nhuận sẽ rất lớn. Đó là lợi nhuận chân chính, là thứ lợi nhuận mưu tìm (profit-seeking) qua nỗ lực khám phá công nghệ, khám phá thị trường và tổ chức sản xuất kinh doanh. Lợi nhuận đó khác với trường hợp những nhà kinh doanh móc ngoặc với những người có chức có quyền để được “cho” những ưu đãi về tín dụng, về đất đai, về ngoại tệ, về độc quyền, v.v.. và đó chỉ là hành động mưu tìm đặc lợi (rent-seeking).

Những người có tính thần doanh nghiệp thành công sẽ giàu lên một cách chính đáng. Nhìn từ góc độ này, có thể nói một nước thành công trong quá trình công nghiệp hóa sẽ ngày càng có nhiều những nhà doanh nghiệp giàu lên trong lãnh vực sản xuất hàng công nghiệp.

Vào giữa thập niên 1950, cơ cấu sản xuất và xuất khẩu của Nhật rất giống Việt Nam ngày nay. Năm 1955, nông lâm thủy sản còn chiếm tới 19% trong GDP và 41% trong tổng lao động có việc làm; hàng dệt may còn chiếm tới 37% trong tổng kim ngạch xuất khẩu. Nhưng đó cũng là thời kỳ nở rộ tinh thần doanh nghiệp của giới kinh doanh trong ngành công nghiệp nên sang thâp niên 1960, cơ cấu sản xuất và xuất khẩu chuyển dịch hẵn lên các ngành công nghiệp chủ đạo của thế giới như thép, ô-tô, đồ điện gia dụng,…Trong đó có nhiều công ty khởi đầu từ trước chiến tranh thế giới thứ hai (như Toyota, Panasonic,…) nhưng cũng có nhiều công ty bắt đầu sau năm 1945 (như Sony, Honda,..).

Trong một xã hội lành mạnh, những người giàu nhất cũng là những người nộp thuế nhiều nhất. Ta thử xem vào năm 1960 chẳng hạn, ai là những người giàu nhất ở Nhật. Biểu dưới đây cho thấy trong 10 người giàu nhất có tới 8 người là nhà kinh doanh sản xuất và xuất khẩu hàng công nghiệp.

Nói thêm về ông Matsushita Konosuke (1894-1989), người xếp thứ hai trong biểu. Thật ra vào năm 1955 ông xếp thứ nhất và lúc đó ông là nhà doanh nghiệp trong lãnh vực công nghiệp lần đầu tiên chen vào top 10 của những người giàu. Ông là người sáng lập và điều hành công ty tổng hợp điện và điện tử Matsushita (tên bây giờ là Panasonic) mà các thương hiệu National và Panasonic đã len lỏi vào nhiều gia đình trên khắp các lục địa. Matsushita Konosuke lập công ty trước chiến tranh thế giới thứ hai, lúc đầu chỉ sản xuất những bộ phận nối dây điện, dần dần mở rộng ra các loại đèn điện dùng hằng ngày như đèn xe đạp, đèn bàn, rồi đến các loại đồ điện gia dụng như máy gịăt, tủ lạnh, TV, máy nghe nhạc, v.v.. Ông làm tổng giám đốc đến năm 1961, làm chủ tịch từ 1961 đến 1973 và sau đó làm cố vấn công ty cho đến khi mất năm 1989. Những năm truớc và sau 1960 Matsushita được giới thiệu trên các tờ báo lớn trên thế giới, đặc biệt năm 1962 được chọn là nguời trong năm (Man of the Year) của báo Time.

Tại Nhật, từ năm 1954 trở về trước người có thu nhập cao nhất thường là giám đốc những công ty được nhà nước bảo hộ (như than thép) hoặc chủ bất động sản. Nhưng năm 1955 lần đầu tiên giám đốc một công ty chế tạo khởi nghiệp và trưởng thành hoàn toàn bằng sức mình trở thành người có thu nhập cao nhất. Người đó là Matsushita Konosuke. Hiện tượng nầy gây phấn chấn trong xã hội Nhật, không những dư luận đánh giá đó là thành quả đương nhiên của năng lực và nỗ lực của Matsushita mà dân chúng Nhật còn xem đó là sự cổ vũ đối với chính mình vì thấy rằng Nhật là một xã hội bình đẳng về cơ hội, cá nhân nào có năng lực và cố gắng bền bỉ nhất định sẽ thành công.

Không phải chỉ riêng Matsushita, trong quá trình phát triển, Nhật Bản còn có nhiều nhà kinh doanh khác được xã hội tôn vinh. Một trong những điểm chung của họ là không màn tư lợi mà trước hết là vì sự phồn vinh của đất nước, của dân tộc. Tài sản to lớn mà cuối cùng họ có được là kết quả chứ không phải là mục tiêu của nỗ lực kinh doanh ban đầu. Do đó ta chưa từng nghe ai trong số các nhà doanh nghiệp vĩ đại đó đã có một lối sống hào nhoáng, xa hoa, chưa nghe thấy họ đã tiêu dùng những gì đắt giá nhất thế giới mà chính Nhật chưa sản xuất được.

Từ góc độ phân tích ở trên ta có thể đánh giá tình hình ở Việt Nam. Tại Việt Nam hiện nay ai là những người giàu nhất? Chưa thấy có thống kê chính thức về những người giàu ở Việt Nam nhưng qua báo chí tôi có ấn tượng những người giàu hiện nay phần lớn ở trong lĩnh vực bất động sản, chứng khoán, (và một phần không nhỏ là một số quan chức vừa về hưu!). Nhìn từ góc độ này ta thấy nền tảng công nghiệp của Việt Nam còn quá yếu, chẳng những mục tiêu đề ra cho năm 2020 chắc chắn là không đạt được mà viễn ảnh về một nước công nghiệp tiên tiến còn rất xa trong tương lai. Việt Nam muốn trở thành một nước công nghiệp hiện đại, phải sớm có những nhà giàu bắt nguồn từ tinh thần doanh nghiệp trong các ngành công nghiệp.

[:-/] Công lý trong việc cho/nhận viện trợ/vay (Nguyễn Văn Thạnh) – Công lý-đơn giản là điều đúng. Ví dụ ai đó nhân danh tôi mượn nợ rồi bắt tôi trả mà tôi không hề biết gì thì điều đó là không có công lý.

Công lý trong việc cho/nhận viện trợ/vay Các quan chức chính phủ luôn nhân danh người dân để tiến hành cho/nhận các khoản viện trợ/vay. Tuy nhiên không phải lúc nào nhân viên chính phủ cũng có cùng quyền lợi với nhân dân; nhất là các nước có nền dân chủ yếu-nhiều khi quan chức không phải do dân bầu ra. Điều này là rất nguy hiểm vì có thể động lực cho các khoản viện trợ/vay lại đến từ các động cơ khác như phần trăm tham nhũng, liên minh chính trị,….Rõ ràng các khoản tiền viện trợ/vay lại được quyết định bởi các viên chức mà dân không hề biết.

Do vậy để có công lý trong việc cho/nhận viện trợ/vay thì chúng ta phải có giải pháp để người dân hai bên cho và nhận phải biết các khoản viện trợ/vay.

Giải pháp minh bạch các khoản viện trợ/vay là cách để thúc đẩy công lý trong lĩnh vực này

http://www.minhbach.org/2014/05/sang-kien-chong-tham-nhung-toan-cau.html?m=1

[:-/] Hà Nội: tàu 3 tỉ hút bùn chưa hút đã sắp thành … bùn (TP) Chuyện lạ ứng dụng khoa học vào sản xuất tại Hà Nội: Tàu 3 tỷ hóa ‘sắt vụn’, vì sao?

Gần 4 năm qua, tàu nạo vét bùn là kết quả nghiên cứu được đầu tư lên tới 3 tỷ đồng từ ngân sách sau khi chạy thử nghiệm vẫn nằm “đắp chiếu”, hoen gỉ theo thời gian. Mặc dù đã nhiều lần được HĐND thành phố Hà Nội giám sát, kiến nghị xử lý nhưng đến nay sự việc vẫn dậm chân tại chỗ…

Chưa có “đơn giá định mức” nên chưa dùng (?!)

Trước mặt tôi là con tàu hút bùn từng được mệnh danh là con tàu “công nghệ đặc biệt”, kết quả hợp tác giữa Viện nghiên cứu cơ khí (Bộ Công Thương) với UBND thành phố Hà Nội. Tàu xuống cấp, nằm bẹp như người bệnh hấp hối bên rãnh thoát nước hôi thối trong khuôn viên Xí nghiệp quản lý cụm công trình đầu mối Yên Sở (thuộc Công ty TNHH một thành viên Thoát nước Hà Nội).

Nhiều thiết bị do không được bảo trì, bảo dưỡng thường xuyên đã hoen gỉ, mục nát, rêu phong bám đầy. Phần buồng lái hai bên kính vỡ vụn, hoang tàn.

[:-/] Giàn khoan khủng của TQ: phần thưởng cho vụ nổ súng với người Duy Ngô Nhĩ, quà mừng Chiến thắng Điện Biên và Sinh Nhật Bác (CSV) – Nào là kỷ niệm Giải phóng miền Nam vừa xong, đến 60 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu, lại cả Đại lễ Vesak của Liên Hiệp Quốc nữa, rồi sẽ tới Sinh nhật Bác. Giờ mà làm to chuyện một tí về vụ giàn khoan này thì khác gì tự ném … phân vào chính mâm giỗ nhà mình?

[:-/] “Made in USA” rẻ hơn “Made in China”:Việt Nam lợi hay lo? (BĐV) – Khi chi phí lao động tại Trung Quốc tăng lên thì năng suất của Mỹ lại cải thiện, đồng thời chi phí năng lượng Mỹ giảm xuống đã giúp thu hẹp khoảng cách giá sản xuất giữa Mỹ – Trung gần như bằng 0.

Business Week cho biết mỗi USD chi phí sản xuất tại Mỹ tương đương với 96 xu sản xuất ở Trung Quốc, chưa kể đến chi phí vận chuyển hàng từ Trung Quốc về Mỹ và các yếu tố khác. Đối với nhiều công ty, khó mà xác định sự chênh lệch khi yếu tố chất lượng sản phẩm, quyền sở hữu trí tuệ hay chuỗi cung ứng tầm xa cũng được cộng dồn vào hoạt động sản xuất.

Ngoài ra, cũng theo chuyên gia Hal Sirkin đã có ít nhất 300 công ty đã dời cơ sở sản xuất nước ngoài về lại Mỹ.

Thời gian vừa qua, Việt Nam cũng đã đón nhận nhiều nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài dịch chuyển quy mô sản xuất của họ từ Trung Quốc sang Việt Nam, lý do đưa ra là vì giá nhân công ở Trung Quốc đã tăng mạnh trong thời gian vừa qua trong khi giá nhân công của Việt Nam vẫn đang ở mức thấp.

Tuy nhiên, có một thực tế đã từng được chỉ ra, là chi phí dịch vụ hậu cần (logistics) lớn, chất lượng dịch vụ yếu… đã làm giảm sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam.

“Nếu tính trên giá trị, Việt Nam hiện chi cho logistics nhiều hơn khoảng 10-15 tỷ USD/năm so với các nước có cùng trình độ phát triển”, ông Hoàng Anh Dũng, chuyên gia giao thông của Ngân hàng thế giới WB nhận xét tại cuộc hội thảo được tổ chức vào hồi cuối tháng 3/2014.

Điều này có nghĩa là, toàn bộ hàng hóa xuất nhập khẩu của Việt Nam phải “cõng” thêm chi phí từ 10 đến 15 tỷ USD/năm, khiến sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam bị giảm đáng kể.


Không ít cử nhân thất nghiệp đã phải chọn công việc tạm thời
là phụ bàn, bán hàng… để mưu sinh

[:-/] Cử nhân làm bồi bàn ‘tố’ tỉ lệ thất nghiệp báo động (ĐV) – Không ít cử nhân đi làm bồi bàn, bán quần áo, giày dép, phục vụ bàn, làm bảo vệ… để nuôi sống bản thân. Câu chuyện những cậu cử, cô cử không có việc làm đúng ngành nghề đào tạo, phải chấp nhận đi làm đủ thứ việc là chuyện không mới.

  • Thành tựu thất nghiệp thấp, giá lao động rẻ nhất – Báo cáo của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) cho thấy, Việt Nam nằm trong số các quốc gia có tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất trên toàn cầu. Tuy nhiên, số lao động trẻ thất nghiệp lại gấp 3 lần so với tỷ lệ thất nghiệp trong nước nói chung.
  • Hơn 72.000 cử nhân, thạc sĩ thất nghiệp – Báo cáo cũng nhấn mạnh tỷ lệ thất nghiệp rất cao ở những người có trình độ chuyên môn. Trong đó nhóm cao đẳng và cao đẳng nghề đều tăng 1,3 lần. Đặc biệt tỷ lệ thất nghiệp ở lao động có trình độ Đại học trở lên khá cao với 4,25%, tăng 1,7 lần so với cùng kỳ 2012.Tỷ lệ thất nghiệp tiếp tục tăng cao ở thanh niên. Trong đó thanh niên từ 20 đến 24 tuổi tốt nghiệp cao đẳng và đại học trở lên có tỷ lệ thất nghiệp rất cao với 20,75%. Đặc biệt, thất nghiệp dài hạn trên 12 tháng chiếm tỷ lệ cao với 44,2%, tăng 2,4 lần so với cùng kỳ 2012. Trong đó, tỷ lệ ở nhóm có trình độ chuyên môn cao là hơn 54%, còn nhóm không có trình độ chỉ là gần 40%.
Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s