Một “gọng kìm lịch sử” khác

Posted: May 22, 2014 in Uncategorized
Tags:

Dân Luận: Dân tộc Việt Nam đang ở trong tình thế khó xử. Đảng CSVN cương quyết không chịu buông tay trả quyền lực cho dân chúng, trong khi đã mất phương hướng và mục ruỗng tới cùng cực. Xã hội dân sự và các đảng phái chính trị – giải pháp thay thế cho Đảng CSVN – lại chưa đủ độ chín vì bao nhiêu năm bị kìm kẹp, ngay cả bây giờ cũng chưa buông. Trung Quốc ở bên ngoài thì lăm le lấn đất lấn biển. Đồng minh khả dĩ thì ở xa, lại trái ý thức hệ và trái những giá trị của cuộc sống. Người dân thì thờ ơ với chính trị, thiếu kiến thức về thể chế, pháp luật cũng như nhân quyền; tất cả như một bong bóng khổng lồ sẵn sàng phát nổ nếu bị kích động. Không khó để thấy Việt Nam sẽ đi về đâu…

Xem thêm: Ông Phùng Quang Thanh đang làm tổn hại quốc thể + Chủ tịch QH Nguyễn Sinh Hùng: Việc đấu tranh phải khôn khéo, vừa cứng vừa mềm + Giữ biển Đông hay giữ Chủ Nghĩa Cộng Sản?

Trần Minh Khôi FB – Giàn khoan HD-981 đến Biển Đông không để thăm dò dầu khí mà để thăm dò một thứ khác: Nó nắn gân và dằn mặt tập đoàn lãnh đạo ở Hà Nội. Nó phơi bày toàn bộ những yếu kém của giới lãnh đạo cũng như của xã hội Việt Nam: lãnh đạo tê liệt và phân rã; xã hội bất ổn và đầy nguy cơ bạo loạn. Nó nhằm nhắc nhở những người lãnh đạo Việt Nam một cách công khai rằng quyền lực chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn còn phụ thuộc rất lớn vào Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Tại sao Bắc Kinh phải làm điều này ngay lúc này? Động thái này của nhóm lãnh đạo mới ở Bắc Kinh gợi ý sự lo lắng trước nguy cơ Việt Nam tuột khỏi tầm ảnh hưởng trực tiếp của nó. Một Việt Nam ngã về với các quốc gia tự do, hoặc tồn tại một ấn tượng như thế, là thất bại mà Bắc Kinh không thể nào chấp nhận được. Bắc Kinh sẽ làm tất cả những gì có thể để ngăn chặn điều đó.

Xã hội Việt Nam, trong khuôn khổ Đông Nam Á, đang lẳng lặng dịch chuyển lại gần với các quốc gia tự do. Những người lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam hiểu là họ không thể chống lại sự dịch chuyển này. Họ không còn lựa chọn nào khác hơn là thuận theo chiều gió. Họ cũng hiểu rõ rằng điều này sớm muộn cũng đưa họ đến sự đối đầu không thể tránh khỏi với Đảng Cộng sản Trung Quốc, tập đoàn quyền lực đang nuôi dưỡng và cưu mang họ ngay từ những ngày đầu. Không có sự nuôi dưỡng của Đảng Cộng sản Trung Quốc thì Đảng Cộng sản Việt Nam không thể thâu tóm quyền lực ở Việt Nam bằng cuộc nội chiến quốc cộng đẫm máu vừa qua. Giờ đây việc phải đối đầu với Đảng Cộng sản Trung Quốc đặt họ trước những lựa chọn rất khó khăn.

Nội bộ lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam lúc này không có đủ đồng thuận để có một bước đi quyết đoán. Tệ hơn, giả sử lãnh đạo Đảng có đủ ý chí đi nữa thì một bước đi dứt khoát, như Miến Điện, ra khỏi quỹ đạo của quyền lực chính trị ở Trung Quốc sẽ đưa đến bạo loạn không thể tránh khỏi: Bắc Kinh sẽ không để yên. Việt Nam không có điều mà Miến Điện có: một xã hội dân sự và những lãnh đạo dân sự có thẩm quyền đạo đức để dàn xếp chuyển tiếp và chống lại nguy cơ tạo loạn từ bên ngoài. Xã hội Việt Nam ở thời điểm này ẩn chứa quá nhiều ung nhọt và có nguy cơ bùng nổ bất cứ lúc nào. Đảng Cộng sản Việt Nam đang nhận lấy hậu quả tại hại của quyền lực toàn trị của chính nó: nó không thể có một bước đi quyết đoán, ngay cả khi nó muốn.

Nếu không có những biến chuyển chính trị nội địa mà qua đó Bắc Kinh có nhu cầu hướng sự quan tâm của dân chúng Trung Quốc ra bên ngoài bằng cách gây hấn ở Biển Đông, tình huống nhùng nhằng này có lẽ sẽ kéo dài thêm một thời gian nữa. Sau sự kiện giàn khoan HD-981, lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam cũng sẽ phải lần lượt sang Trung Quốc hoà hoãn mong làm nguôi đi sự nóng giận của Bắc Kinh. Sau đó mọi chuyện sẽ lập lại. Bắc Kinh sẽ lại gây hấn để dằn mặt Hà Nội trước một động thái nào đó của Hà Nội mà nó cho rằng có nguy cơ tuột khỏi tầm kiểm soát của nó. Giới trí thức Việt Nam sẽ lại xuống đường bày tỏ lòng yêu nước. Bắc Kinh lại tiếp tục thao túng xã hội Việt Nam và phân hoá giới lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam. Bắc Kinh sẽ không chiếm đất chiếm biển Việt Nam. Một Việt Nam trôi dạt, tiềm ẩn nguy cơ bất ổn, với một tập đoàn lãnh đạo phân rẽ, dật dờ là mục đích tối thượng của Bắc Kinh. Như đã nói, Bắc Kinh sẽ làm bất cứ điều gì có thể để duy trì một Việt Nam trong trạng thái đó.

Nhưng, có hai xu hướng không thể đảo ngược và không phụ thuộc vào ý chí của bất cứ tập đoàn phe nhóm nào: 1. Việt Nam càng lúc càng gắn chặt với Đông Nam Á và dịch chuyển về phía các quốc gia tự do, và 2. Cùng lúc với tiến trình dân chủ hoá.

Cả Hà Nội và Bắc Kinh hiểu rằng họ chỉ có thể trì hoãn chứ không thể chặn đứng tiến trình này. Hy vọng của lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc là vẫn có thể dùng Đảng Cộng sản Việt Nam cho mục đích trì hoãn này. Tuy nhiên, lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam cũng tự nhận ra rằng, để tiếp tục duy trì quyền lãnh đạo, họ chỉ có thể trì hoãn ở một mức độ mà xã hội Việt Nam có thể dung thứ. Những khó khăn kinh tế trong thời gian qua làm họ sốt ruột và buộc có những động thái mà dưới cái nhìn của Bắc Kinh họ đã không làm tròn phận sự của mình. Bắc Kinh nổi giận.


Cựu Đại sứ Bùi Diễm và bản hồi kí In the Jaws of History

Hai mươi năm trước, Bùi Diễm, cựu đại sứ Việt Nam Cộng Hoà ở Mỹ và là một thành viên kỳ cựu của Đảng Đại Việt, người có mặt trong những ngày đầu tiên của các lực lượng không cộng sản ở thập niên 40, có viết một cuốn hồi ký với cái tựa đề Trong Gọng kìm Lịch sử. Ông mô tả cái thế bị mắc kẹt của các lực lượng chính trị không cộng sản này trong gọng kìm của các thế lực quốc tế. Lần này đến lượt những người cộng sản: họ đang bị mắc kẹt trong một gọng kìm khác của lịch sử.

Đảng Cộng sản Việt Nam đã bị phân hoá và tê liệt. Những người lãnh đạo Đảng ngay cả khi muốn cũng không thể làm được gì ngoài việc duy trì tình trạng hiện có và hy vọng nhóm lãnh đạo mới ở Bắc Kinh không quá tay làm khó thêm nữa. Xã hội Việt Nam vẫn lẳng lặng bước tới. Và họ đang phải đối diện với một tương lai tắc ách.


(VNN)Chủ tịch QH Nguyễn Sinh Hùng: Việc đấu tranh phải khôn khéo, vừa cứng vừa mềm để vừa bảo vệ được chủ quyền song vẫn gìn giữ hòa bình theo đúng tinh thần của luật pháp quốc tế và truyền thống của nước ta: Anh dũng, kiên cường và hòa hiếu

Trần Hữu Dũng: Người nào khác nói câu này thì tôi không nghi ngờ ý nghĩa, nhưng khi ông Sinh Hùng nói “vừa cứng vừa mềm” thì, vì ông thường hóm hỉnh, tôi phân vân, không biết ông đang nghĩ đến việc gì?

● Trần Trọng Nghĩa: Khảo luận các bài viết của các tác giả Trần Ngân, Huy Đức và Nguyễn Trọng Bình về hiện tượng Việt Nam – Trung Quốc(viet-studies 21-5-14) — “Để đạt được (mục đích của họ) Trung Nam Hải sẵn sàng chà đạp lên tất cả. Điều đau đớn hơn nữa đối với Việt Nam là cú tát về ý thức hệ. Chủ nghĩa Marx Lênin, chủ nghĩa xã hội, khái niệm về đồng chí… đều không có giá trị gì đối với Trung Nam Hải”  BÀI RẤT HAY, CẦN PHẢi ĐỌC!

Một nhóm nhỏ) gieo gió, (cả dân tôc) gặt bão: Việt Nam sẽ đơn độc nếu bị tấn công? (RFA 21-5-14) — P/v Carl Thayer.  Không vui gì khi đối diện với sự thật ấy, nhưng làm sao tránh khỏi hậu quả của biết bao sai lầm — do ngu xuẩn, do thiển cận, do bạo tàn, do tham lam, do hèn nhát… – chồng chất lên nhau từ gần 40 năm nay?

VN có thể chống đỡ áp lực kinh tế từ TQ? (BBC 20-5-14) — P/v bà Phạm Chi Lan

Ăn mày dĩ vãng: “Học Bác Hồ để xử lý vấn đề biển Đông” (VnE 21-5-14)

 Nayan Chanda khen Tập Cận Bình đã tính toán rất kỹ phương thức chiến đoạt Biển Đông: Xi Jinping’s Excellent Adventure: A Calibrated Takeover of the South China Sea (Huffington Post 21-5-14) — Trời đất ơi!  Nayan Chanda (chuyên gia hàng đầu về Việt Nam, tác giả cuốn “Brother Enemy: The War after the War” nổi tiếng về chiến tranh Việt Nam – Campuchia) nói như vậy thì chết rồi! (Interesting observation: Chinese policy to realize its claim of nearly 80 percent of the South China Sea has since followed three parallel tracks: discreet incremental military advances; diplomatic efforts to propose a code of conduct and joint development of energy resources, and; building robust economic cooperation with ASEAN” (Ba mặt giáp công của Trung Quốc: (1) Từng bước, tiến tới về mặt quân sự, (2) Đề nghị “code of conduct” về mặt ngoại giao, (3) thiết lập những hợp tác kinh tế chặt chẽ với ASEAN). THD bức xúc: Và đáp lại chiến lược của Trung Quốc, Việt Nam lải nhải:  “Kiên trì”, “cương quyết”, “học tập gương đạo đức của Bác Hồ”?

 Tăng tuổi hưu vì người Việt… sống lâu hơn! (ĐV 21-5-14) — Nghe qua thì có thể… bất mãn, nhưng cái gì hợp lý thì phải nhìn nhận là hợp lý.  Nước nào trên thế giới cũng thế, nếu không thì quỹ hưu bổng quốc gia sẽ cạn kiệt sớm!

Ông Phùng Quang Thanh đang làm tổn hại quốc thể

Khương Việt Tác giả gửi tới Dân Luận dưới dạng phản hồi. Tựa đề do Dân Luận đặt.

2 Thật tình tôi không nghĩ rằng lời lẽ của ông Phùng Quang Thanh, Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam, trong buổi gặp gỡ đối tác Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Thường Vạn Toàn là thích hợp đối với tình hình đang xảy ra.

1. Ngôn từ của ông Thanh không thể hiện ý thức bình đẳng trong ngoại giao. Dù là nước nhỏ, nhưng trong quan hệ với nước khác, dù là nước lớn, chúng ta phải giữ được sự bình đẳng, ít nhất là bề ngoài. Nội dung những gì ông nói toát lên vai vế của kẻ yếu, kẻ nhỏ nói với kẻ mạnh, kẻ lớn.

2. Các vị trong chính quyền thường nghèo về từ ngữ. Chẳng hạn thiếu gì từ mà lúc nào cũng “trao đổi”, rồi lại “trao đổi”. Sao không dùng những từ như “đối thoại”, “đàm thoại”, “thảo luận”, hay “bàn về”. Sự nghèo nàn từ ngữ thể hiện một trình độ hạn chế về giáo dục và ngôn ngữ.

3. Tại sao viên bộ trưởng Trung Quốc có thể có những lời lẽ mang tính cáo buộc (accusation), chẳng hạn như: Việt Nam quấy nhiễu, dùng bạo lực cướp bóc, v.v… và bày tỏ sự khẳng định chủ quyền một cách mạnh mẽ, nhưng ông Thanh, đến lượt của mình lại không hề có một phản cáo buộc (counter-accusation) nào cả, cũng không có lấy được một lời khẳng định mạnh (assertiveness) về chủ quyền của mình, mà chỉ toàn những lời nhũn nhặn? Trong khi đối phương buộc tội mình mà mình lại nhắc đến “hợp tác hữu nghị” thì rõ ràng là tự hạ mình xuống nhiều quá.

4. Việc ông Thanh nhắc đến nhu cầu ổn định để phát triển kinh tế khi đối thoại với viên bộ trưởng của Trung Quốc lại càng không nên. Tại sao lại “tự khai” ra nhu cầu gan ruột của mình với kẻ thù làm gì? Sao không cho đối phương hiểu rằng chúng ta, vì chủ quyền tổ quốc, và tuy tôn trọng sự hoà hiếu, vẫn sẳn sàng hy sinh tất cả để bảo vệ chủ quyền bằng mọi phương cách.

5. “Do vậy, đề nghị phía Trung Quốc hết sức kiềm chế…” Sao lại “đề nghị” mà không là “yêu cầu” hay “đòi hỏi”? Một viên tướng, một bộ trưởng quốc phòng mà dùng từ theo kiểu van xin này thì còn ra thể thống gì.

Rồi lại “cũng mong hai bên kềm chế”. Không nên nói vậy, bởi bên chúng ta, Việt Nam, đã kềm chế nhiều rồi, kiên quyết đòi phía Trung Quốc phải bày tỏ sự kềm chế tương xứng để tránh làm tình hình tệ hại hơn. Hoặc nên nói rằng, chẳng hạn, “chúng tôi đã kềm chế hết mức, nhưng nếu tình hình trở nên xấu hơn thì đó là do các ông gây ra”… Đại khái là nên như vậy.

Tóm lại, là một người trung bình, tôi nhận thấy ông Phùng Quang Thanh, trong cương vị một bộ trưởng, đã không có trình độ ngôn ngữ tương xứng với chức vụ và với tình hình đang diễn ra giữa Việt Nam – Trung Quốc, làm tổn hại quốc thể. Thật đáng buồn và lo khi Đất Nước lại được lãnh đạo bởi những người chỉ với những tầm cỡ thấp thỏi như vậy.

Giữ biển Đông hay giữ Chủ Nghĩa Cộng Sản?

Giáo sư Nguyễn Tiến Dũng (Dân Luận) theo (blog Nguyễn Tiến Dũng) – Việt Nam đang đứng trước một lựa chọn bắt buộc của lịch sử: đó là phải lựa chọn giữa hai thứ, một bên là chủ quyền biển đảo của Việt Nam ở Biển Đông, và bên kia là CNCS.

0c269-thanhdo01
14/3/1988 Trung Cộng đưa quân đến bãi đá Cô Lin, Len Đao và chiếm đoạt Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa.
03/9/1990 Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Phạm Văn Đồng đã sang Thành Đô, tỉnh Tứ Xuyên để chọn giữ CNCS

Vì sao vậy?

Bởi cho đến thời điểm này tình hình đã trở nến quá rõ ràng: Dù có muốn cũng không thể giữ cả hai thứ, một khi chúng đã trở nên mâu thuẫn với nhau. Nếu giữ CNCS thì sẽ càng ngày càng mất chủ quyền ở Biển Đông. Nếu từ bỏ CNCS thì may ra giữ được những gì đang còn chưa bị mất ở Biển Đông.

CNCS hấp dẫn nhiều người vì tính lãng mạn của nó trong lý thuyết. Nhưng thực tế thì hoàn toàn trái ngược với lý thuyết mà các nhà cộng sản đưa ra. Người ta ước tính là số người bị chết oan dưới các chính quyền cộng sản trong thế kỷ 20 (ví dụ như riêng nạn đói ở Ukraina quãng năm 1930 do chính quyền Xô Viết gây ra đã làm gần chục triệu người chết) còn nhiều hơn là số người bị chết vì các chế độ phát xít gây ra trong chiến tranh thế giới lần thứ 2. Mô hình kinh tế cộng sản thất bại hoàn toàn, dẫn đến sự sụp đổ của Liên Xô sau hơn 70 năm xây dựng CNCS. Ngay Carl Marx lúc cuối đời cũng nhận ra rằng con đường cộng sản mà chính ông chỉ ra chưa chắc đã đúng.

Đối với thế giới, “giai đoạn cộng sản” là một trang sử đã khép lại, chỉ trừ có ở Việt Nam và Trung Quốc, nếu không kể đến mấy nước đang trong giai đoạn khủng hoảng nặng là Bắc Triều Tiên và Cu Ba. Thực ra Trung Quốc, từ sau khi Đặng Tiểu Bình đưa ra học thuyết “mèo trắng mèo đen”, cũng không còn coi chủ nghĩa cộng sản như là một lý tưởng, mà chỉ còn coi ĐCS như là một công cụ để điều khiển quốc gia.

Chính vì TQ và VN là hai “anh em đồng chí” còn lại của “phe cộng sản” nên VN mới dễ bị TQ o ép.

Trong vấn đề Biển Đông, thì kẻ thù của VN chính là TQ. TQ không hề che dấu tham vọng bành trướng của họ, với “đường lưỡi bò”. Họ thực hiện được tham vọng đó đến đâu, phụ thuộc và việc các nước liên quan có chống lại được tham vọng đó không. Trong việc chống TQ, bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông này, nội lực của VN rất yếu: với GDP của Việt Nam chưa bằng chí phí quân sự hàng năm của TQ, không có cách gì VN có thể một mình đối đầu với TQ. Bởi vậy, để đối đầu, cần có đồng minh.

Nhưng ai là đồng minh của Việt Nam?

Câu trả lời đơn giản là, vào thời điểm này, không có ai cả! Tất nhiên không phải các nước “đã phát triển” (khối OECD). Lại càng không phải là TQ.

Philippines và Nhật Bản đều có Mỹ, nước mạnh nhất thế giới về quân sự, làm đồng minh, và do đó TQ không dám làm những động tác lấn chiếm thô thiển với các nước này như là họ làm đối với VN. Còn Việt Nam thì không có ai bảo vệ. Thế giới có thể “tỏ ra quan ngại sâu sắc” về xung đột giữa TQ và VN, nhưng bảo vệ VN thì không. Nếu phải chọn giữa TQ và VN, các nước lớn sẽ chọn TQ, vì giữa TQ và VN thì TQ là đối tác quan trọng hơn nhiều đối với họ.

Việc VN “kiên định” theo CNCS vào thời điểm hiện tại đẩy VN vào thế hoàn toàn cô lập trong vấn đề Biển Đông. Cô lập bởi yếu mà không có đồng minh. Sẽ không nước tư bản lớn nào làm đồng minh với Việt Nam (quan hệ ngoại giao, buôn bán thì có, nhưng đồng minh thì không), bởi chừng nào VN còn chưa thừa nhận sự lỗi thời của cơ chế đặt ĐCS lên trên hết thì còn chưa đáng tin cậy trong con mắt của họ. Làm sao mà tin được, khi mà cơ chế khiến cho không thể kiểm soát tham nhũng và lạm quyền, trong khi một số quyền cơ bản của người dân thì không được tôn trọng, khiến VN luôn trong “sổ đen” của các tổ chức nhân quyền quốc tế.

Hơn thế nữa, “con đường cộng sản” khiến VN càng ngày càng lệ thuộc vào TQ, kể cả kinh tế và chính trị. Đến mức gần như “làm gì cũng phải hỏi TQ, làm gì TQ cũng biết”. Việc VN chỉ đàm phán song phương với TQ chứ không liên kết với các nước khác ở Thái Bình Dương để cùng kiện TQ là điều hoàn toàn bất lợi cho Vn, và rơi đúng vào cái bẫy “chia để trị” của TQ. Theo logic thông thường thì VN không thể làm thế, vì như thế quá bất lợi. Vậy tại sao VN vẫn nhất quyết đàm phán song phương? Chỉ có thể đặt giả thuyết rằng, đó là do TQ muốn vậy, và VN vì quá phụ thuộc nên phải nghe theo. Tất nhiên, ở thế yếu và lệ thuộc như vậy, thì việc thua cuộc là việc tất yếu xảy ra.

Đây là thời điểm lịch sử đối với VN. Nếu lãnh đạo VN tiếp tục lựa chọn sai lầm vào thời điểm này, thì sẽ bị cả dân tộc nguyền rủa!

9e63f-hinh-dong-cuc-chat-23-04-2012202

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.