Tạ Duy Anh (QuêChoa) – Chỉ cần điểm qua cách xưng hô cũng thấy hiện lên một phần lịch sử quan hệ vừa bi vừa hài giữa Việt Nam và Trung Quốc, mà can dự rõ nhất là danh từ đồng chí.
Tình đồng chí giữa lãnh đạo hai nước đạt độ nồng ấm nhất vào những năm 60 của thế kỷ hai mươi.
Xem thêm: Họ vẫn còn gọi nhau là đồng chí!
“Chúng tôi không bao giờ quên được câu nói của Chủ tịch Mao Trạch Đông, đó là:
Đất nước Trung Quốc bao la là hậu phương lớn của nhân dân Việt Nam”.
Khi đó, mặc dù gần trăm triệu người dân Trung Quốc chết hoặc trước sau cũng chết bởi cuộc đại cách mạng văn hóa, thì nó vẫn không ngăn được Tố Hữu, vì tình đồng chí, viết: Trung Quốc đó bàn tay nào huyền diệu/ Đã nắn lại cả dung nhan dáng điệu/Mặt đồng khô xóa sạch những bờ ngăn/ Như mặt người tươi giãn những đường nhăn.
Thân tình đến nỗi, trẻ con Việt Nam cũng gọi ông Mao là “Bác”. Đây là giai đoạn Trung Quốc muốn Việt Nam “đánh Mỹ đến người cuối cùng”, vì thế họ sẵn sàng là “hậu phương bao la của Việt Nam” như lời ông Mao! Nhưng hóa ra từ khi ấy, khi là đồng chí thắm thiết của nhau, khi “cùng chí hướng” giải phóng nhân loại, xóa bỏ biên giới, “Bác Mao” đã chuẩn bị kỹ càng để chiếm đoạt biển đảo của “con cháu Bác” ở bên Việt Nam. Cú lừa để có cái Công hàm 1958 đầy bi hài là một bằng chứng.
Năm 1974, Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa, lúc ấy do chính phủ Việt Nam cộng hòa kiểm soát. Vì là đồng chí nên Miền Bắc bắt buộc phải im lặng, như là chẳng liên quan gì đến mình, như là việc của hai quốc gia láng giềng*. Dân chúng miền Bắc không hề có bất cứ thông tin gì, cảm xúc gì vì vậy họ không có chút cảm giác nào về chuyện mất mát lãnh thổ. Hoặc nếu có bộ phận nào biết thì lại thấy như là điều may mắn vì kẻ thù (Việt Nam cộng hòa mà miền Bắc gọi là Ngụy quyền), mất đi một vị trí chiến lược có thể thọc vào sườn hậu phương xã hội chủ nghĩa! Danh từ đồng chí cho phép xác định Trung Quốc là bạn, còn người anh em phía Nam bị mặc nhiên coi là thù! Liệu có biến cố nào bi hài và thê thảm hơn trong lịch sử người Việt?**
Điều gì phải đến sẽ đến, mọi thứ nham hiểm của Trung Quốc nấp sau danh từ đồng chí cuối cùng cũng lộ mặt. Hơn 50 mười ngàn “con cháu bác Mao” (số ước tính của Hoa Kỳ) ở cả hai bên bị chết trong cuộc tắm máu nhau dọc 6 tỉnh biên giới, trong đó cứ một người rưỡi Tầu đổi một mạng An Nam. Năm 1979 Hà Nội ra sách trắng về quan hệ Việt-Trung, tố cáo Trung Quốc phản bội, chơi đểu, lợi dụng Việt Nam khó khăn để mưu thôn tính từ từ. Thế là chẳng có anh em con cháu gì nữa, chỉ đích danh “bè lũ phản độngMao” là những kẻ chủ mưu ăn thịt người Việt, sau khi đã no thịt người Hán. Trong Hiến pháp Việt Nam năm 1980 thậm chí còn ghi rõ Trung Quốc là kẻ thù trực tiếp, lâu dài, nguy hiểm. Những nhà lãnh đạo Bắc Kinh đương nhiên là những kẻ xâm lược. Có bài báo gọi đám con cháu của Tần Thủy Hoàng là “những con chó Trung Nam Hải”, còn Đặng Tiểu Bình thì là “thằng lùn cao bồi”. Chế Lan Viên, tác giả của câu thơ nôm na nổi tiếng “Bác Mao không ở đâu xa/ Bác Hồ ta đó chính là bác Mao”thì lúc ấy có hẳn cả một bài thơ “Vịnh thằng lùn”, viết về Đặng Tiểu Bình, khá dài, theo thể tự do, trong đó có câu, đại ý: Thằng lùn mặc quần bò/ Thằng lùn thích súc-cù-là…(Có lẽ vì lịch lãm nên nhà thơ không nỡ bảo thằng lùn thích cứt Mỹ nữa thôi!). Bài thơ này, nếu tôi nhớ không lầm thì in trong tập “Hoa trên đá”. Nhưng không riêng Chế Lan Viên- chỉ là nghệ sĩ,- nhạy cảm với thời tiết chính trị, trong vô số phát biểu của các chính trị gia chuyên nghiệp lúc ấy cũng không ngần ngại gọi các đồng chí một thời ở Bắc Kinh là lũ phản động quốc tế, những tên lính gác cho bọn tư bản….
Năm 1985, khi đó tôi đang đóng quân ở Lào Cai, vẫn còn thấy sáng nào hai bên cũng chĩa loa vào nhau qua sông Hồng, một bên réo Tập đoàn phản động Mao-Đặng, gán cho đủ thứ tội, một bên át đi bằng loa công suất lớn gấp bội, ồm ồm chỉ đích danh “bè lũ Lê Duẩn” kèm theo hàng chục kết án. Chúng tôi được quán triệt nhất nhất gọi Trung Quốc là bọn bành trướng Bắc Kinh. Trong 10 bài hát mà mỗi quân nhân phải thuộc hồi ấy, gọi là 10 bài hát điều lệnh, có bài Tiếng súng đã vang trên bầu trời biên giới của nhạc sĩ Phạm Tuyên, trong đó có câu: “Quân xâm lược bành trướng dã man”. Ngày nào trước mỗi cuộc tụ tập, liên hoan, tất cả lại đồng loạt gào lên: “Quân xâm lược bành trướng dã man”.
Danh từ “đồng chí” biến mất khỏi mọi văn bản của Việt Nam, khỏi ngôn ngữ đời sống xã hội khi gắn với Trung Quốc. Ai dám cả gan dùng nó để gọi Trung Quốc thì đích thị là kẻ vô loài, thiếu văn hóa chính trị tối thiểu, có dã tâm bán nước. Không ai lại cùng chí hướng với kẻ thù truyền kiếp!

Cho đến sau năm 1990, mà rồi lịch sử sẽ hé lộ và vì thế mà chúng ta biết có cuộc gặp Thành Đô. Các nhà lãnh đạo của chúng ta, những người rõ ràng là rất lép vế trong hội nghị đó, có thể sẽ còn bị lịch sử chế giễu vì mất cảnh giác, khờ khạo nhưng tôi tin là họ có cả phần trong sáng nữa. Họ tin rằng chủ nghĩa xã hội cần phải được bảo vệ bằng mọi giá và xem ra chỉ còn Trung Quốc-dù là gã láng giềng hay chơi bẩn-nhưng khả dĩ làm nơi cố thủ an toàn cho giáo lý Mác. Vì, như ông Nguyễn Đức Bình, nhà lý luận hàng đầu của Đảng khẳng định: “Nếu thời đại hiện nay không còn là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới nữa, thì đất nước Việt Nam chúng ta, Đảng Cộng sản Việt Nam từ nay sẽ đi theo con đường nào?”.Tức là số phận dân tộc bị đóng đinh câu rút, phải đi qua duy nhất một con đường hầm tên là “quá độ lên CNXH”, mà một đầu là thần chết! Không có lối thứ hai! Nguy cấp thế kia mà. Dọa nhau thế ai chả sợ, nhất là những người quen đánh nhau hơn là đọc sách! Hoặc quá độ lên CNXH, hoặc chết! Các nước khác, như Nhật, Hàn, Singopore có cả ngàn lối đến tương lai, cũng kệ họ, không được phép ngó nghiêng. Ai bảo sinh ra là người Việt? Những người chủ trương như ông Nguyễn Đức Bình chỉ quên (hoặc cố tình không biết) một điều: các đồng chí Trung Quốc của họ chưa bao giờ coi chủ nghĩa xã hội là thứ gì quan trọng. Chúng ta hãy đọc lời giáo huấn đầy tính mỉa mai sau đây của Mao về giáo lý Mác, với cấp dưới ông ta: “Sở dĩ chúng ta nghiên cứu thuyết Các Mác không phải vì luận điệu tốt đẹp của nó, cũng không phải vì nó đựng một phép thần diệu để trừ ma quỉ. Nó không đẹp, nó cũng không thần diệu. Nó chỉ ích lợi.(TDA nhấn mạnh) Có nhiều người cho nó là thần dược trừ bách bệnh. Chính những người này đã xem thuyết Các Mác là một giáo lý. Phải nói cho những người này hiểu rằng giáo lý của họ không có ích lợi bằng phân bón. Phân bón còn làm giàu ruộng đất, giáo lý không làm được việc đó.”
Hội nghị Thành Đô đã đưa danh từ đồng chí trở lại trong quan hệ hai nước, tạo ra một giai đoạn hòa bình tương đối không thể nói là không quan trọng*** cho Việt Nam, nhưng về cơ bản nó gây nên những thay đổi âm thầm số phận người Việt theo hướng tiêu cực là chính. Vì là đồng chí nên mọi việc lớn bé Việt Nam đều phải tham vấn Trung Quốc. Phụ thuộc toàn diện. (Như tiết lộ mới đây của cụ Nguyễn Trọng Vĩnh về sự can thiệp của Trung Quốc vào vấn đề nội bộ nhất không chỉ của Việt Nam, mà của bất cứ quốc gia nào, là vấn đề chọn nhân sự lãnh đạo đất nước). Trung Quốc âm thầm và ráo riết chuẩn bị mọi mặt để chiếm biển Đông nhưng lấy tình đồng chí làm vật che mắt Việt Nam. Vì tình đồng chí Việt Nam không dám công khai vạch tội Trung Quốc ăn hiếp ngư dân Việt, luôn phải gọi chệch đi. Tầu Trung Quốc rành rành nhưng phải gọi là “tầu lạ”. Suốt bao nhiêu năm Việt Nam không dám chọn bạn tốt để chơi (bất cứ quốc gia nào cũng tốt với Việt Nam hơn Trung Quốc), dù biết là có lợi lâu dài cho đất nước, chỉ đơn giản vì những người bạn ấy đều không cùng hội cùng thuyền với Trung Quốc. Bất cứ ai nhắc đến dã tâm của Trung Quốc cũng bị coi là làm ảnh hưởng đại cục, phá quấy an ninh! Trung Quốc tận dụng triệt để cái hàm thiếc đồng chí để kìm hãm Việt Nam, cả trong đối ngoại lẫn đối nội. Chưa bao giờ danh từ đồng chí mang lại nhiều lợi lộc cho Trung Quốc như giai đoạn hai chục năm vừa qua. Tất nhiên người thiệt hại to lớn là Việt Nam.

Viết đến đây tôi bỗng muốn dừng lại để tìm về nguồn gốc của danh từ đồng chí. Nó là bùa chú gì mà giam hãm Việt Nam trong vòng cương tỏa của Trung Quốc đơn giản đến thế, khiến số phận dân tộc cứ vật vã tơi bời bởi họ lâu đến thế và liệu nó còn tự tung tự tác đến bao giờ?
Hầu như mọi ngôn ngữ lớn đều có từ đồng chí và chắc chắn lúc khởi thủy nó không mang mầu sắc chính trị. Nó được dùng tại Trung Quốc từ hàng ngàn năm trước khi xuất hiện những người theo chủ nghĩa cộng sản. Trong những bang hội, những tổ chức xã hội đen có tổ chức, những băng nhóm chính trị hoạt động ngoài vòng pháp luật như Hội tam hoàng ở phương Đông, tổ chứ 3K chuyên giết người tàn bạo ở Mỹ vì phân biệt chủng, các thành viên đều là những người cùng chí hướng. Đảng Quốc Xã của Hitler, các đảng viên cũng xưng với nhau là đồng chí. Tình đồng chí đậm nhất có lẽ thuộc về đảng của Pôn-pốt. Cùng đi ăn cướp cũng là đồng chí. Chỉ đơn giản vì nó là cùng chí hướng, một khái niệm thuần túy ngôn ngữ. Nó chẳng hề có xuất thân danh giá như nhiều người vẫn tưởng. Về sau nó được chính trị hóa và trở nên “linh thiêng” như ta đang thấy.
Sau sự kiện giàn khoan HD-981, số phận của từ đồng chí lại một lần nữa trở nên mong manh và bi hài. Các báo của nhà nước đều dùng từ ông, ngài để gọi các lãnh đạo Trung Quốc. Lần đầu tiên sau hơn 20 năm, Đài truyền hình Việt Nam không dùng từ đồng chí trước tên Dương Khiết Trì khi đưa tin ông này sang Hà Nội. Bởi vì chính Trung Quốc đã làm cho từ đồng chí trở nên rất giả dối, sống sượng, đồng nghĩa với từ lừa lọc. Chả lẽ qua ngần ấy biến cố, lộ rõ bộ mặt đểu cáng, dã tâm độc ác của Trung Quốc, lại vẫn là đồng chí (cùng chí hướng) của nhau thì thật lố bịch? Cả trăm triệu người dân Việt đầy lòng tự trọng “quyết không đổi chủ quyền thiêng liêng lấy thứ hữu nghị viển vông” chắc chắn sẽ cảm thấy bị làm nhục và nổi giận. Xác đồng bào của họ vẫn còn bập bềnh trên biển Đông bởi súng đạn Trung Quốc. Chẳng ai chấp nhận cùng chí hướng với kẻ cướp chính đất nước mình, giết anh em, đồng bào, người thân của mình, ngoại trừ phải gọi rõ ra là đồng chí địch!
Lịch sử quan hệ hai quốc gia suốt hàng ngàn năm qua (ít nhất là đến trước năm 1949) cho thấy chưa bao giờ người Việt cùng chí hướng với người Hán. Đơn giản vì lợi ích lãnh thổ của Trung Quốc luôn đi kèm với việc thôn tính hoặc gặm nhấm Việt Nam. Trong hoàn cảnh phải sống cạnh một gã khổng lồ thì hòa hiếu luôn là điều kiện sống còn để Việt Nam tồn tại và phát triển. Nhưng cũng chính lịch sử cho thấy, Việt Nam muốn có hòa hiếu thực sự với Trung Quốc thì phải độc lập tối đa với họ. Mà muốn vậy thì Dân tộc phải là lợi ích cao nhất của mọi tính toán chính trị, được thể hiện trong chiến lược quốc gia tầm nhìn hàng trăm năm****, là sản phẩm của tầng lớp trí thức tinh hoa chưa bị nhiễm độc bởi bất cứ khẩu hiệu mang tính phô diễn lập trường nào, nghĩa là hoàn toàn tự do và trong sạch. Không có cách nào khác. Mọi ảo tưởng về sự mật thiết dựa trên tương đồng ý thức hệ hoặc sự gắn bó mang tính đảng phái, rốt cuộc chỉ là cách tự sát từ từ.

* Trong một liệu nào đó mà tôi không nhớ, cho rằng sau khi Trung Quốc làm chủ hoàn toàn Hoàng Sa, Hà Nội có gửi điện “cảm ơn” Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đã “giải phóng giúp” miền Bắc một phần lãnh thổ khỏi tay kẻ thù? Trung Quốc im lặng. Nếu quả thực có chuyện như vậy thì có thể coi đó là bằng cớ gián tiếp xác định chủ quyền của phía Việt Nam với quần đảo này. Nhưng chưa thấy thông tin chính thức nào xác nhận chuyện đó.
** Quan hệ giữa Trung Quốc đại lục và Đài Loan y như quan hệ giữa Bắc và Nam Việt Nam về mức độ thù địch và ý thức hệ. Nhưng khi Mao lệnh đánh chiếm Hoàng Sa, chính quyền Đài Loan, dựa theo lợi ích của người Hán, nhanh chóng ngầm tạo điều kiện để hải quân Trung Quốc thuận lợi trong việc di chuyển tiếp cận vị trí tác chiến. Cứ nghĩ thế mà thấy cay đắng cho người Việt mình!
*** Chúng ta cần thêm cả một chút công bằng khi phán xét Hội nghị Thành Đô. Tình thế đất nước lúc đó đã như trứng để đầu gậy, cần phải có hòa bình để tìm cách thoát hiểm. Đáng trách là ở những gì diễn ra sau đó, kéo dài mấy chục năm, bỏ lỡ cơ hội vàng hòa nhập với thế giới văn minh, hiện đại hóa đất nước, tạo sức mạnh cả quân sự, ngoại giao, uy tín quốc tế… đặng xác lập quan hệ bình đẳng với Trung Quốc.
**** Chừng nào còn chưa có một Chiến lược quốc gia trong phát triển, Việt Nam sẽ chỉ là một đất nước nghiệp dư trong giải quyết mọi vấn đề, may ăn, rủi chịu, thua thiệt là chính.
“Thầy” Dương Khiết Trì đang giảng bài ở Hà NộiBasam.info
– Báo chí Trung Quốc: Dương Khiết Trì thăm Việt Nam và kêu gọi ‘đứa con hoang đàng’ trở về (Diplomat/ Lê Anh Hùng/ Ba Sàm). “CCTV nói rằng Dương Khiết Trì đến Hà Nội để giúp ‘đưa quan hệ Trung-Việt sớm trở lại lộ trình đúng đắn’… Khi nói chuyện với Việt Nam, Hoàn Cầu viết, Trung Quốc đã “thúc giục ‘đứa con hoang đàng trở về nhà‘.” Theo lối diễn giải này thì dường như Dương Khiết Trì không phải đến Hà Nội để thực sự đối thoại, mà chỉ đơn giản là thuyết giảng“.
– Một bản dịch khác: Báo Trung Quốc nói Dương Khiết Trì đến Việt Nam để “Đôn Đốc Đứa Con Hoang Đàng Trở Về Nhà” (Liêm Nguyễn). Truyền thông Trung quốc mô tả chuyến đi của Dương Khiết Trì đến Việt Nam như một chiến thắng về ngoại giao và đạo đức của Trung quốc.
– Truyền thông TQ thâm độc khi đưa tin Biển Đông (TM/ TTVN).
– COI TƯỚNG TÌM TRẦN ÍCH TẮC (FB Phu Nguyen).
– TS. Dương Danh Huy, Quỹ Nghiên cứu Biển Đông: Trung Quốc sa bẫy, Việt Nam cúi đầu? (BBC). “Cho đến nay, chiến lược của Việt Nam để đối phó với Trung Quốc dường như là ‘nó đấm thì mình la, nó xoa thì mình im‘. Nhưng chiến lược đó chỉ có thể dẫn đến việc mất hết từng bước, vì chiến lược của Trung Quốc là ‘đấm, xoa, đấm, xoa’ cho đến khi họ giành được hết“. – Tại sao CSVN không dám kiện Trung cộng ra trước tòa án quốc tế? (Nguyễn Chính Kết).
– LỌC TIN VỪA CAY VỪA RÁT (Nguyễn Quang Vinh). “Khi Trung Quốc đã tuyên bố biển Đông của nó, Hoàng Sa của nó, tuyên bố ngay cả khi thằng Cúp Mặt Trì sang Hà Nội mà chúng ta vẫn chỉ là tuyên bố không thể với lại có thể thì nó muốn đưa cái gì qua mà không được“. – GS Carl Thayer: Cần đưa vấn đề giàn khoan ra Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc (TN).
– Việt Nam lún sâu vào bãi lầy do Trung Quốc tạo ra (RFA). Phạm Chí Dũng: “Tôi cho là đó là cuộc nói chuyện giữa hai người khiếm thính thì đúng hơn, họ nói họ nghe nhưng họ không hiểu nhau và có vẻ như họ cố tình không hiểu nhau. Nếu gọi Việt Nam là kẻ khiếm thính thì Trung Quốc còn có thể đóng trai trò một người câm nữa. Tại vì cho tới ngày hôm nay thì thêm một giàn khoan nữa đã được kéo vào biển Đông Việt Nam đó là giàn khoan Nam Hải 9…”
– Nguyễn Mộng Hoài: Hỏi ai cũng ù ù cạc cạc (Quê Choa). “Đài truyền thanh xã không được phép và không có chức năng nói về ‘biển đông’, càng không có một tiếng nào chỉ rõ nguy cơ mất nước, nguy cơ bị Trung Quốc xâm lược… Sợ dân chúng hoang mang chăng?… người dân ở cơ sở hầu như vẫn bị đói thông tin, nhất là những thông tin về biển đông. Hỏi ai cũng ù ù cạc cạc. Thế có chán không?“
Họ vẫn còn gọi nhau là đồng chí!
Tô Văn Trường (QuêChoa) – Anh mắt “rực lửa” của Bộ trưởng Phạm Bình Minh khi bắt tay Ủy viên quốc vụ Trung Quốc Dương Khiết Trì rất khí phách, thể hiện phong cách ngoại giao trong quan hệ thực chất hiện nay với Trung Quốc. Tiếc rằng trong bài phát biểu của ai nấy đọc , họ lại vẫn còn gọi nhau là “đồng chí”. Nghe rõ chán!

Luận bàn hai từ “đồng chí”
Ngôn từ nào cũng phải hợp ngữ cảnh thì mới có sức sống. Dùng sai ngữ cảnh thì nó lãng nhách như Trung Quốc hiện nay đã không dấu giếm bộ mặt xâm lược đối với Việt Nam mà hai bên vẫn gọi nhau bằng “đồng chí” thì chẳng khác nào “sấm giữa trời quang”. Cách gọi đó không chỉ vô duyên, mà còn rất phũ phàng, ghẻ lạnh với các chiến sĩ bảo vệ biển và ngư dân ta đang vật lộn, kiên cường bám biển, không quản ngại hy sinh, gian khổ bị tàu Trung Quốc “đâm húc” ngoài Biển Đông, nhất là từ gần hai tháng nay. Người dân có quyền đặt ra câu hỏi với những người đang giữ trọng trách quản lý điều hành đất nước: phải chăng hai chữ “đồng chí” trong hoàn cảnh nầy chứa đựng sự bí ẩn cũng như “sự kiện Thành đô”, như cụm từ “nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao hai bên”, “vì đại cục” vv….
Dường như một loạt chữ ĐỒNG như đồng chí, đồng đội, đồng bào… đang bị lặng lẽ thủ tiêu hoặc thay thế bằng đồng tiền và đồng bọn! Thật kinh hoàng! Hay là việc sử dụng từ đồng chí trong ngôn ngữ ngoại giao là để đấu tranh, mang ý nghĩa cao siêu mà dân không hiểu chăng!? Chẳng biết nên hi…hi, ha…ha hay hu…hu đây !!!
Gọi nhau là “đồng chí” trong hoàn cảnh hiện nay, phải chăng là muốn tái khảng định Việt Nam và Trung Quốc vẫn cùng chung một ý thức hệ vì đồng là cùng và chí là chí hướng hay ý thức hệ . Không lẽ lãnh đạo Đảng và Nhà Nước Việt Nam hiện nay vẫn cố xích lại gần giới cầm quyền và bành trướng Trung Quốc dù bị nó lừa, khinh rẻ, ngang nhiên xâm phạm chủ quyền quốc gia và bộc lộ rõ mưu đố biến Biển Đông thành ao nhà của chúng?. Nếu duy danh định nghĩa thì Việt Nam và Trung Quốc hiện nay chẳng đồng với nhau về chí hướng cũng như quan điểm tôn trọng độc lập chủ quyền của nhau, có “đồng” chăng là trong một số trường hợp các vị tham nhũng có quyền lợi mờ ám gắn bó với nhau thôi!
Bàn về hai chữ ” đồng chí “, ngay từ hơn 50 năm trước đây, nhà thơ Việt Phương trong bài thơ nổi tiếng mọi thời ” Cuộc đời yêu như vợ của ta ơi ” (trong tập thơ Cửa mở) đã viết những dòng thơ rất sâu sắc và rất đáng suy ngẫm về hai từ “đồng chí” này :
“Ta cứ tưởng đã là đồng chí rồi thì không ai xấu nữa
Trong lòng ta chỉ có chỗ của yêu thương
Đã chọn đường đi không ai dừng ở giữa
Mạc Tư Khoa còn hơn cả thiên đường !”.
Có lẽ đây là dòng thơ bất hủ lột tả sự ngộ nhận tệ hại của cả một thế hệ về hai từ đồng chí. Khác với Việt Phương, nhà thơ Tố Hữu cùng thời, lại mơ mộng, lãng mạn với hai từ ” đồng chí ” đậm tính cách mạng trong bài thơ ” Xuân 61 ” :
“Rồi hai đứa hôn nhau, hai người đồng chí …”
Cho đến bây giờ, nếu cứ tiếp tục thực sự vẫn coi Trung Quốc là đồng chí thì chắc chắn sẽ bị một “phát đạn đồng chí” bắn thẳng vào tim và hậu quả sẽ thảm khốc và không thể tránh khỏi một dòng máu đỏ!. Việt Nam sẽ chết một cách tức tưởi trong u mê và lú lẫn! Đừng để sau này lịch sử và con cháu viết lại những dòng cay đắng ” Ngu thì chết, chứ bệnh tật gì đâu ” hay ” Chết vì ngu, chết vì lú lẫn “!
Đại biểu Quốc hội phải như thế!
Liên quan đến tình hình Biển Đông, ngày 19/6, tại nghị trường, Đại biểu Quốc hội Trương Trọng Nghĩa dõng dạc phát biểu : “Nếu Quốc hội không có tuyên bố hay nghị quyết chính thức gì cả về Biển Đông, tôi tin rằng nhân dân ta sẽ rất thất vọng, thậm chí hoang mang”.
Tiếng nói khảng khái của đại biểu Trương Trọng Nghĩa “đột phá” trên hội trường phản ánh tâm và tầm của vị đại biểu Quốc hội hiểu thấu lòng dân, đồng thời làm cử tri cả nước thấy nhớ và tri ân các vị đại biểu quốc hội các khóa trước như Nguyễn Quốc Thước, Nguyễn Minh Thuyết, Lê Văn Cuông, Phạm Thị Loan vv…
Nhiều cử tri nhắn nhủ với các vị đại biểu Quốc hội hãy hành xử đúng vai trò, vị thế của người đại diện cho dân, “cộng hưởng” cùng với đại biểu Trương Trọng Nghĩa. Nghị sỹ là cương vị dân cử vào trong nghị trường để có chức năng nghị bàn, nghị luận, chất vấn chứ đâu phải là chỉ cho đủ số, đủ chỗ và … “bấm nút” – kiểu “nghị gật”!
Đại biểu Quốc hội chưa phải là ngự sử nhưng với đại biểu Dương Trung Quốc vừa là nghị sỹ, lại vừa là sử gia chắc chắn ông đã nhìn thấy tấm gương chức quan ngự sử trong những triều đình xưa, cái chức sắc hệ trọng biết chừng nào – khi mà triều đình thay đổi (bây giờ gọi là đảo chính) thì người ta có thể sẽ thay cả loạt các quan chức cũ nhưng riêng quan ngự sử thì cấm chỉ không được động đến (luật bất thành văn), bởi vì quan ngự sử đó chính là pho sách sống của sự thật, của quốc gia! Cho nên, với những vị này thì “lời nói là đọi máu”!
Sự kiện Biển Đông là thách thức lớn đồng thời tạo cơ hội lớn cho Việt Nam cải tổ thể chế, đoàn kết và hòa giải dân tộc, thực hiện dân chủ hóa để hòa nhập với cộng đồng thế giới văn minh. Nếu cứ tiếp tục u mê, lú lẫn và ngộ nhận coi Trung Quốc là đồng chí, là cùng chung một ý thức hệ thì hậu quả sẽ khôn lường. Việt Nam sẽ ngày càng thụt lùi, xa rời thế giới văn minh và lấn sâu vào vũng bùn của Trung Quốc.
NQL: Vâng, ông đúng là một con người chân chính, một đại biểu QH chân chính. Nhưng thử nghĩ mà xem, còn ở đâu trên thế giới này như ở nước ta: Cả nước xôn xao bàn tán khi một ông nghị cất cao tiếng nói yêu nước, hết thảy đều gọi ông là Một con người chân chính. Có đắng cay nhục nhã nào hơn thế chăng?
Thay cho lời kết
Cái bí ẩn trong từ “đồng chí” cũng như cái bí mật của “Thành Đô”, hay nhận thức chung ở tầm cao, vì đại cục…Muốn giải mật mã này, suy cho cùng chỉ duy nhất có một chữ “KIỆN” có nghĩa là phải kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế về xâm chiếm Hoàng Sa và bành trướng phi lý “đường lưỡi bò” ở biển Đông.
Chỉ có KIỆN thì toàn dân mới biết, sẽ biết người làm sai, nhất là làm rõ “đồng chí”, bốn tốt, 16 chữ chữ vàng…là cái gì. Không kiện là mất lòng dân, mà kiện lỡ nó lòi ra cái gì thì còn có thời gian mà sửa. Kể cả nhận lỗi để thành tâm mà sửa. Chậm trễ, hết thời cơ thì dân tộc ta sẽ mãi mãi bị trầm luân.
Tại liên hiệp quốc .
Trung Quốc gửi đến LHQ một “văn bản về lập trường” Tố cáo Vietnam là :
– Trung Quốc đã quản lý Hoàng Sa từ đời Bắc Tống,
– Công Hàm Phạm văn đồng
– Bản đồ địa lý lớp 9, công nhận Hoàng Sa và Trường Sa của Trung quốc .
Cho tới nay, phản ứng của Việt Nam mới chỉ là đăng bài báo về lập luận của một cá nhân lên trang web của mình ở LHQ, và họp báo.
Những phản ứng đó rõ ràng là nhẹ ký hơn chính thức đưa ra lập luận “phản biện trước LHQ . Thế giới sẽ có câu hỏi, “Tại sao Việt Nam không chính thức đưa ra lập luận “PHẢN BIỆN TRƯỚC LHQ ?”
Vấn đề của Việt Nam không phải là không có lập luận pháp lý để phản biện, mà là ở QUÁ TRÌNH CHÍNH TRỊ đi đến quyết định .
Đó là kế sách đảng csvn GIAO NỘP BIỂN TRẢ NỢ VAY, trước 1975 đánh Mỹ Ngụy cứu nước !
http://www.voatiengviet.com/content/trung-quoc-dua-bon-gian-khoan-vao-bien-dong/1941343.html