Người dân đang đóng thuế để nuôi những ‘ông Vua’ không ngai

Posted: July 21, 2014 in Uncategorized
Tags:

Chuyên gia kinh tế Bùi Trinh (QuêChoa) Theo Đất Việt – Điện, nước, xăng, dầu là những mặt hàng thiết yếu nên dường như giá cả thế nào người sử dụng cũng phải chịu.

Xem thêm: Đừng “làm giàu trước, dọn dẹp thiệt hại sau” + Tại sao phải mua hàng trong nước với giá đắt hơn?  + Vì sao giá xăng ở Việt Nam cao gấp đôi Malaysia?


Rất nhiều sản phẩm đang được độc quyền mà hầu hết người dân không biết và không hiểu
mình đã bỏ tiền ra trước đó thông qua thuế để “mua” các sản phẩm dịch vụ này

Độc quyền – đôi đũa thần

Theo định nghĩa trong Wikipedia, kinh tế thị trường là nền kinh tế mà trong đó người mua và người bán tác động với nhau theo quy luật cung cầu, giá trị để xác định giá cả và số lượng hàng hoá, dịch vụ trên thị trường.

Đối với nền kinh tế Việt Nam nhiều ngành không hoạt động dựa trên nguyên tắc này. Một số ngành như điện, xăng dầu, hàng không… của Việt Nam dường như không hoạt động theo nguyên tắc này nhưng lại luôn muốn đòi xác định giá bán cho người tiêu dùng (người dân và doanh nghiệp) theo giá thị trường.

Điện, nước, xăng, dầu là những mặt hàng thiết yếu nên dường như giá cả thế nào người sử dụng cũng phải chịu. Các doanh nghiệp kiểu này luôn kêu lỗ trong khi không hề minh bạch về hạch toán một cách tường minh cho người sử dụng và lương của những ông/bà giám đốc thường là lương khủng so với mặt bằng chung của xã hội, không ai phàn nàn gì nếu những người này quản lý tốt, minh bạch và cung cấp cho thị trường những sản phẩm có giá trị.

Cách làm kinh tế kiểu lương cao cứ nhận, lỗ đã có dân chịu thì ai làm cũng được. Những doanh nghiệp kiểu này không cần xác định quan hệ giữa cung và cầu, không cần mối quan hệ giữa giá trị và giá cả; dù sản phẩm của họ có tốt hay không người sử dụng vẫn phải mua nếu không muốn “chết”.

Những doanh nghiệp kiểu này độc quyền cả về mua và bán, việc chuyển giá khai gian giá của sản phẩm đầu vào thường xảy ra trong các doanh nghiệp kiểu này, từ đó dẫn đến hạch toán lỗ, chất lượng sản phẩm của những doanh nghiệp độc quyền ra sao người dân và doanh nghiệp đều phải chịu. Việc độc quyền này không chỉ xẩy ra với các ngành như điện, xăng dầu… mà ai cũng có thể thấy mà còn rất nhiều các hoạt động độc quyền khác.

Theo Hệ thống tài khoản Quốc gia (SNA) của LHQ mà Việt Nam đã áp dụng từ năm 1993 với quyết định số 183/TTg của Thủ tướng Chính phủ, phạm trù sản xuất bao gồm cả các hoạt động quản lý Nhà nước, theo định nghĩa này thì các sản phẩm dịch vụ của hoạt động quản lý Nhà nước cũng mang tính độc quyền, thậm chí là cửa quyền.

Hoạt động của các cơ quan này do tiền thuế của người dân (thuế trực thu và gián thu) và nghĩa vụ của các cơ quan này là cung cấp những dịch vụ tương xứng với tiền của dân bỏ ra “mua” sản phẩm của họ; quan hệ này thực chất đã trở thành quan hệ giữa “xin” và “cho”’ hầu hết người dân không biết và không hiểu mình đã bỏ tiền ra trước đó thông qua thuế để”mua” các sản phẩm dịch vụ này.

Doanh nghiệp kêu lỗ – tiền đâu ông chủ sống như đế vương?

Một nền kinh tế sẽ khó phát triển vô cùng khi vẫn tồn tại các hoạt động độc quyền, giá cả không được xác định dựa trên mối quan hệ cung cầu và giá trị sản phẩm.

Tính toán tỷ suất lợi nhuận trên vốn của các loại hình doanh nghiệp trong những năm gần đây cho thấy tỷ suất lợi nhuận trên vốn và doanh thu của các doanh nghiệp ngoài Nhà nước thấp nhất và có xu hướng ngày càng thấp.

Điều này lý giải tại sao trong 2 năm gần đây khi tỷ lệ để dành/GDP và đầu tư/GDP tương đương nhau nhưng nền kinh tế vẫn rất khan hiếm vốn? Và tại sao các doanh nghiệp ngoài Nhà nước nếu không là sân sau của các doanh nghiệp Quốc doanh chết hàng loạt trong mấy năm gần đây?

Với tỷ suất lợi nhuận như vậy không một doanh nghiệp ngoài Nhà nước nào làm ăn ngay ngắn chịu được mức lãi suất trên 20% những năm trước đây và khoảng 10% trong hiện tại.

Như vậy khi lượng kiều hối và lượng tiền trong dân thực chất chỉ là “tiền tệ” không thành vốn để đi vào sản xuất do các doanh nghiệp ngoài Nhà nước không có động cơ đầu tư. Họ đầu tư mở rộng sản xuất để làm gì khi lãi suất huy động 7-8% và lãi suất phải trả ngân hàng trên 10% trong khi tỷ suất lợi nhuân trên vốn của họ chỉ là 1-2%?

Tỷ suất lợi nhuận sụt giảm chính là do các loại chính sách đều mang tính “giật cục” đặc biệt chính sách tiền tệ và chi phí vận chuyển tăng cao do giá bán năng lượng của các doanh nghiệp độc quyền liên tục tăng do các doanh nghiệp độc quyền về năng lượng luôn luôn kêu lỗ trong khi những ông/bà giám đốc của những doanh nghiệp loại này có cuộc xa hoa như đế vương.

Như vậy, người dân và các doanh nghiệp ngoài Nhà nước ngoài việc đóng thuế để nuôi các ông “vua” không ngai lại còn phải chịu mua những sản phẩm độc quyền với giá cao và giá trị sản phẩm thế nào cũng phải chịu. Người dân và doanh nghiệp tư nhân phải oằn lưng gánh chịu hậu quả của doanh nghiệp độc quyền do quản lý kém cỏi, dốt nát và tham nhũng mang lại.

Đừng “làm giàu trước, dọn dẹp thiệt hại sau”

Đặng Hoàng Giang (QuêChoa)  Theo VNN – Quan điểm “làm giầu trước hết, dọn dẹp thiệt hại sau” được thực hiện ở nhiều quốc gia trong mấy thập kỷ qua đã gây hại khôn lường.


GDP không phản ánh được đầy đủ chất lượng cuộc sống, hay “mức độ phát triển”.
Những vấn đề như bất bình đẳng, ô nhiễm môi trường, bạo lực xã hội, bất công v.v…
không xuất hiện trong đó. Ảnh: Long Anh.

Việt Nam có mức độ phát triển như thế nào, khi so với quốc gia Châu Á khác, ví như Hàn Quốc chẳng hạn? Với câu hỏi này, phản xạ đầu tiên của chúng ta là đi tìm thu nhập bình quân đầu người để so sánh. GDP trên đầu người của Hàn Quốc hiện nay là 26000 USD, gấp 14 lần Việt Nam.

Thật là một phép tính nhanh gọn và tiện lợi, và đó cũng là lý do vì sao một con số thống kê khô khan như GDP lại nổi tiếng rộng rãi hơn bất cứ một ngôi sao màn bạc nào.

Được giới thiệu năm 1932 bởi nhà kinh tế học Simon Kuznets, nó nhanh chóng có một sự nghiệp ngoạn mục. Năm 1944, nó trở thành chuẩn mực quốc tế để đo lường một nền kinh tế. Năm 1978, bảng thống kê quốc tế đầu tiên, với số liệu từ hơn 100 nước, cho phép người ta so sánh các quốc gia với nhau, như chúng ta vừa làm giữa Hàn Quốc và Việt Nam. Năm 1999, Bộ Công thương Hoa kỳ tuyên bố GDP là một trong những phát minh vĩ đại nhất của thế kỷ 20. Tới nay, nó là vẫn là chỉ số đầu tiên và quan trọng nhất được dùng để đánh giá xem chính phủ một đất nước làm ăn thế nào.

Và đấy cũng là nguồn căn của vấn đề. Theo Ngân hàng Thế giới, GDP bình quân đầu người của Việt Nam năm 2013 tăng hơn gấp rưỡi so với 2009. Nhưng bạn có thấy cuộc sống của mình tốt đẹp lên nhiều như vậy hay không? Tôi cá là không. Trong 5 năm qua bạn có thể đổi được cái xe máy, thay bộ sa lông cũ, mua một cái iPad, và cho gia đình đi chơi Singapore. Thế nhưng, so với 5 năm trước, hàng ngày bạn bị hít khói lâu hơn trong cái biển xe tắc đường lúc tan tầm, cây xanh và hồ nước trong thành phố ngày một ít đi, mở báo ra thì toàn rác và kền kền rỉa xác, phong bì tết cho sếp ngày càng phải dầy lên, đi nộp thuế cũng bị hành lên hành xuống.

Như ta đã thấy, GDP không phản ánh được đầy đủ chất lượng cuộc sống, hay “mức độ phát triển”.

Những vấn đề như bất bình đẳng, ô nhiễm môi trường, bạo lực xã hội, bất công v.v… không xuất hiện trong đó. Người ta tính rằng, nếu tính đến những huỷ hoại môi trường ở Trung Quốc thì hàng năm phải đánh tụt GDP của nước này tới 3%. Luật pháp Brunei, nước giầu thứ 5 trên thế giới theo thu nhập bình quân, cho phép ném đá tới chết những người đồng tính và những người ngoại tình. Ở Saudi Arabia, một quốc gia giàu có tương đương với Ý và New Zealand, phụ nữ không được phép lái ô tô, không được xuất cảnh mà không có nam giới đi kèm, và sẽ chỉ được bầu cử lần đầu vào năm 2015 tới. Bạn có muốn sống ở những quốc gia “thịnh vượng” đó không?

Càng ngày càng có nhiều tiếng nói cho rằng việc quá bị ám ảnh bởi GDP dẫn chúng ta tới một bế tắc trong triết lý phát triển. Cuộc chạy đua về GDP là một cuộc chạy đua lạc lối. Thượng nghị sĩ Robert Kennedy của Mỹ có lần phát biểu: “GDP không bao gồm vẻ đẹp của thơ ca, sự bền vững của hôn nhân, mức sắc sảo của các cuộc tranh biện, mức liêm chính của viên chức. Nó không đo được lòng dũng cảm, trí tuệ, hay cam kết của chúng ta với đất nước. Nó đo mọi thứ, trừ những gì làm cho cuộc sống này đáng sống.” Gần đây nhất, năm 2009, nhà kinh tế học đoạt giải Nobel nổi tiếng Joseph Stiglitz yêu cầu chấm dứt “chủ nghĩa tôn thờ” GDP.

Nhưng điều gì làm cuộc sống này đáng sống?

Theo Khối Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), mức độ an sinh (well-being) của người dân không những được thể hiện qua thu nhập, sức khoẻ, môi trường, giáo dục, an ninh mà còn qua chất lượng dịch vụ công và sự tham gia của người dân vào đời sống cộng đồng. “Chỉ số Hành tinh Hạnh phúc” (có lẽ nổi tiếng nhất với chúng ta vì nó đặt Việt Nam vào vị trí số 2 trong xếp hạng, gây nhầm tưởng là người Việt hài lòng với cuộc sống vào loại nhất thế giới) được tính tỉ lệ thuận với tuổi thọ trung bình và cảm nhận của người dân về an sinh, và tỉ lệ nghịch với mức độ tiêu thụ tài nguyên của nền kinh tế. Việt Nam xếp hạng cao vì có tuổi thọ trung bình khá cao, tương đương với Slovakia, trong khi tiêu thụ tài nguyên chỉ bằng một phần ba nước này. Cách tính này trừng phạt các nước phát triển (Mỹ xếp hạng 105!) vì mức độ sử dụng năng lượng của họ.

Trong khi đó, mức an sinh theo cảm nhận chủ quan, tức là mức độ hài lòng với cuộc sống của Việt Nam chỉ đứng ở mức trung bình, và bằng 2/3 của Bắc Âu. Nói vậy để thấy rằng Việt Nam xếp hạng cao ở đây không phải do người Việt “lạc quan tếu”, “dễ bằng lòng”, “buông xuôi” như một số báo chí đã bình luận trong thời gian qua, mà là do chúng ta còn chưa đi nhiều ô tô, và tuy có một cuộc đời còn nhiều bức xúc nhưng bù lại thì sống lâu.

Phong trào hướng tới hạnh phúc thay vì chạy theo tăng trưởng kinh tế đã đạt tới mức độ toàn cầu. Năm ngoái, Liên hiệp quốc phát hành các hướng dẫn để các quốc gia đo lường mức “an sinh chủ quan” của người dân, một khái niệm thường được hiểu rộng hơn “hạnh phúc”, bao gồm sự tự đánh giá về trạng thái tinh thần và tình cảm của người dân, và về “cuộc sống của mình có mục đích và ý nghĩa hay không”. Theo triết lý này, một người ngồi sau xe Lexus, nhưng cáu bẳn, lo lắng và bị xâm chiếm bởi một cảm giác trống rỗng, sẽ được coi là bất hạnh hơn người đi xe đạp bên cạnh, tâm trạng thanh thản, và thấy những gì mình làm thật có ý nghĩa.

Đi đầu phong trào này là Bhutan. Năm 1972, vua Jigme Singye Wangchuck, lúc đó mới 17 tuổi, tuyên bố mục tiêu của mình không phải là tăng trưởng GDP, mà là tăng trưởng “Tổng hạnh phúc quốc nội” – hay là GNH. Để tránh hiểu lầm: Bhutan không từ chối đường nhựa, ô tô, TV hay internet, và người dân ở đây không chỉ muốn ngồi khoác vai nhau trong các túp lều tranh với nét mặt rạng rỡ. Trước hết, GNH của họ bao gồm các lĩnh vực kinh điển: thu nhập, việc làm, chất lượng giáo dục, y tế, và môi trường. Nhưng nó cũng đo hiệu quả của hệ thống quản trị công. Ngoài ra, đáng lưu ý nữa, nó đo sức sống của cộng đồng, bảo tồn văn hoá, và sự cân bằng trong sử dụng thời gian của người dân.

Chính phủ nào thì cũng cam kết hùng hồn là mình đi theo “phát triển bền vững”, nhưng trên thực tế, những cộng đồng yếu thế, văn hoá và môi trường hay phải trả giá cho các dự án phát triển kinh tế, và chỉ khi dùng một công cụ như GNH thì người ta mới có thể định lượng những trả gía này. Với triết lý phát triển mới, nếu GDP tăng nhưng GNH giảm thì chính phủ vẫn bị coi là thất bại.

Khái niệm GNH của Bhutan ngày càng có ảnh hưởng rộng rãi. Phần lớn nội dung của nó được ứng dụng trong “Chỉ số An sinh” của Canada. Năm ngoái, nước Anh cho ra đời ngày “Hành động vì Hạnh phúc”. Hàng loạt các thành phố Mỹ đã công bố các dự án đo lường hạnh phúc và an sinh cho cư dân của mình.

Một cuộc sống hạnh phúc, tóm lại, không phải chỉ có cơm no, áo ấm, mà là khi con người tin tưởng nhau, hàng xóm láng giềng chan hoà, thân ái, và người dân được chính quyền tôn trọng thông qua những thể chế dân chủ.

Quan điểm “làm giầu trước hết, dọn dẹp thiệt hại sau” được thực hiện ở nhiều quốc gia trong mấy thập kỷ qua đã gây hại khôn lường. Không cần đâu xa, chỉ cần nhìn vào chất lượng sống xuống cấp ở các thành phố Trung Quốc và làn sóng di cư của những người khá giả ra khỏi nước này để thấy rõ là tiền không mua được hạnh phúc. Khi quan hệ giữa người và người và giữa người với thiên nhiên đã trở nên cằn cỗi thì có ngồi trong Lexus người ta cũng chỉ là một kẻ bất hạnh.

Đặng Hoàng Giang Phó GĐ CECODES (Trung tâm Nghiên cứu Phát triển và Hỗ trợ Cộng đồng)


Một sản phẩm có thể mang nhãn mác Việt Nam nhưng toàn bộ nguyên vật liệu và máy móc thiết bị
đều được nhập khẩu từ bên ngoài, như vậy việc khuyến khích tiêu dùng hàng Việt Nam
thực chất cũng là tiêu dùng hàng nhập khẩu. Ảnh: THANH TAO

[:-/] Tại sao phải mua hàng trong nước với giá đắt hơn? Bùi Trinh (TBKTSG) – Lâu nay, cuộc vận động người Việt Nam dùng hàng Việt Nam là nhằm mở rộng thị trường cho hàng hóa sản xuất trong nước, hạn chế tiêu dùng hàng nhập khẩu. Tuy nhiên, cuộc vận động này dường như mang tính cảm tính nhiều hơn thực tế.

Theo số liệu thống kê từ năm 2000-2012, tỷ trọng nhập khẩu cho tiêu dùng cuối cùng chưa tới 10%, tỷ trọng nhập khẩu cao nhất thường là nhập khẩu nguyên vật liệu đầu vào (bình quân khoảng 60%), rồi đến nhập khẩu máy móc thiết bị (bình quân trên 30%).

Như vậy, có thể thấy vấn đề của nền kinh tế Việt Nam là công nghiệp phụ trợ để làm ra các sản phẩm, là chi phí đầu vào chứ không phải việc hạn chế tiêu dùng hàng nhập khẩu hay không.

Nhìn lại nền kinh tế Việt Nam từ năm 2000-2012 cho thấy nếu giai đoạn 2000-2005 tỷ lệ giá trị tăng thêm(1) trên giá trị sản xuất khoảng 47% (có nghĩa làm ra 100 đơn vị thì có 47 đơn vị là giá trị tăng thêm), đến giai đoạn 2006-2010 tỷ lệ này giảm 10 điểm phần trăm (còn khoảng 37%) và đến 2011-2015 tỷ lệ này lại giảm tiếp còn khoảng 28%. Đây là tỷ lệ chung của cả nền kinh tế, còn riêng với khu vực công nghiệp chế biến chế tạo tỷ lệ này còn thấp hơn (chỉ khoảng trên 10%). Điều này cho thấy nền kinh tế Việt Nam ngày càng thiếu hiệu quả và mang tính gia công toàn diện hơn.

Một sản phẩm có thể mang nhãn mác Việt Nam nhưng toàn bộ nguyên vật liệu và máy móc thiết bị đều được nhập khẩu từ bên ngoài, như vậy việc khuyến khích tiêu dùng hàng Việt Nam thực chất cũng là tiêu dùng hàng nhập khẩu.

Và Trung Quốc là nước hưởng lợi nhiều nhất trong bối cảnh này khi mà nguyên vật liệu đầu vào và máy móc thiết bị nhập từ Trung Quốc, theo số liệu của Tổng cục Thống kê, chiếm tỷ trọng cao nhất, đến 23-25%, và nếu tính cả Đài Loan và Hồng Kông thì tỷ trọng nhập khẩu của khối này lên tới 34%.

Trong khi đó, các chính sách cụ thể dường như vẫn có sự phân biệt giữa những sản phẩm hàng hóa bán cho người tiêu dùng trong nước và bán cho nước ngoài (xuất khẩu). (…)


Malaysia là quốc gia có giá xăng dầu rẻ thứ tám trên thế giới

[:-/] Vì sao giá xăng ở Việt Nam cao gấp đôi Malaysia? (TamNhin) – Giá xăng hiện tại của Malaysia chỉ nhỉnh hơn một nửa so với giá xăng Việt Nam, thấp nhất khu vực Đông Nam Á, và chỉ bằng 1/4 so với giá xăng của Anh.

Trong tổng số 227 quốc gia sử dụng xăng dầu trên toàn thế giới, giá xăng dầu của Malaysia rẻ thứ tám, chỉ khoảng 13.600 đồng/lít.

Lần tăng giá xăng gần đây nhất của Malaysia là vào tháng 9.2013, khi chính phủ cắt giảm trợ giá nhiên liệu 20 cent (hơn 1.200 đồng) cho một lít xăng dầu. Giá xăng Malaysia dừng lại ở mức là 2,1 ringgit/lít (13.600 đồng) và dầu diesel là 2 ringgit/lít (13.000 đồng). Mức giá này vẫn duy trì ổn định cho đến hiện tại.

Theo Thứ trưởng Bộ Tài chính Malaysia Datuk Ahmad, sở dĩ giá xăng dầu rẻ phần lớn là do chính sách trợ giá của chính phủ. Ở Malaysia, các loại nhiên liệu thiết yếu cho cuộc sống người dân như xăng, dầu diesel và gas đều được nhà nước trợ giá.

Theo một nghiên cứu được mạng lưới kế toán quốc tế UHY có trụ sở tại Lonndon (Anh) công bố, Malaysia là quốc gia trợ giá xăng dầu nhiều nhất thế giới trong số các nền kinh tế lớn.

UHY giải thích rằng Malaysia trợ giá khoảng 30 % đối với xăng và 40 % cho dầu diesel, cung cấp chi phí nhiên liệu ở một mức giá thấp hơn rất nhiều so với nhiều nền kinh tế lớn khác, đặc biệt là đối với các quốc gia châu Âu. Vương quốc Anh là nước có giá xăng dầu cao nhất châu Âu và cũng là cao nhất thế giới.

Điều này có nghĩa là một người dân Malaysia chỉ cần bỏ 0,6 USD cho một lít xăng so với 2,23 USD/lít ở Anh, giá xăng của Malaysia chì bằng 27 % so với Anh và thấp hơn 56 % so với giá trung bình của thế giới.
Trong khi đó, giá dầu diesel của Malaysia là 0,57 USD/lít, bằng 25 % giá của Anh (2,33 USD/lít) và thấp hơn 53 % giá dầu diesel của thế giới.

Nhưng trợ giá xăng dầu vẫn chưa là đâu so với gas, một bình gas 14 kg ở Malaysia được bán với giá 26,6 ringgit (177.000 đồng) thay vì 47,46 ringgit (315.000 đồng), tức bình quân mỗi bình gas 14 kg sẽ được chính phủ trợ giá 20,86 ringgit ( gần 140.000 đồng), chiếm 56 % giá trị bình gas. (…)

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s