Trái đắng của sự lệ thuộc

Posted: August 24, 2014 in Uncategorized
Tags:

Nam Nguyên (RFA) – Vụ nhà thầu Trung Quốc bỏ ngang dự án thủy điện đang thi công ở Kontum hồi cuối tháng 7 đã làm nóng lại cảnh báo về mối nguy lệ thuộc Trung Quốc trên nhiều lĩnh vực.


.
Xem thêm: 500 triệu đô nhập hạt giống: Dại gì mua hàng Việt Nam!?

Phần nổi của tảng băng chìm

nha-thau-tq-305.jpgThủy điện Sông Bung 4 ở huyện Nam Giang, Quảng Nam đang được nhà thầu của Trung Quốc thi công. Courtesy photo

TS Phạm Sỹ Thành, Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) được báo Lao Động điện tử trích lời nói rằng, sự phụ thuộc vào hàng hóa nhập khẩu Trung Quốc mới chỉ là phần nổi của tảng băng chìm. Mối nguy từ việc doanh nghiệp Trung Quốc trúng thầu phần lớn các dự án ‘chìa khóa trao tay’ tổng thầu EPC tại những công trình trọng điểm mới là điều đáng lo ngại.

Trả lời Nam Nguyên, TS Phạm Sỹ Liêm, nguyên thứ trưởng Bộ Xây dựng, phó Chủ tịch Tổng hội xây dựng Việt Nam từ Hà Nội phân tích thể thức đấu thầu hiện hành. Theo lời ông, hiện vẫn là thể thức hai phong bì, một phong bì là kỹ thuật, sau khi thông qua phong bì dự thầu về kỹ thuật thì xem đến phong bì về tài chính xem mức giá nào đó thì chọn. Về nguyên tắc là có thể không chọn giá thấp nhất, nhưng khuynh hướng hiện nay nói chung vẫn là chọn giá thấp nhất. Để nhà thầu Trung Quốc hay ai khác trúng thầu là tùy thuộc cách tổ chức chọn thầu. TS Phạm Sỹ Liêm nhấn mạnh:

“Nhưng ở đây tự nhiên không hiểu cách chọn thế nào đó mà các dự án ngành năng lượng các nhà thầu Trung Quốc đều trúng thầu. Tại sao lại như vậy, là vì các chủ dự án cứ muốn chọn những nhà thầu đưa ra giá rẻ nhất còn bên nhà thầu Trung Quốc thì họ bỏ thầu để trúng cái đã.

    Nhà thầu Trung Quốc thì họ bỏ thầu để trúng cái đã. Còn sau đó khi ký kết hợp đồng họ sẽ thương lượng chứng minh thế nọ thế kia để bổ sung giá cao hơn.
– TS Phạm Sỹ Liêm    

Còn sau đó khi ký kết hợp đồng họ sẽ thương lượng chứng minh thế nọ thế kia để bổ sung giá cao hơn. Nhưng Luật Đấu thầu bây giờ thì lại cấm giá hợp đồng không được cao hơn giá đấu thầu. Thế nhưng những dự án trước đây là như vậy. Chẳng hạn dự án đường sắt trên cao thì họ cũng như thế và bây giờ họ cũng đòi thêm, không được thì họ cũng bỏ dở nửa chừng họ đi về. Tôi chưa rõ là các chủ dự án của chúng ta sẽ xử lý vấn đề như thế nào. Nhưng tôi nghĩ chắc là phải xử lý đúng theo luật pháp về hợp đồng kinh tế.”

Thông tin ghi nhận trong số 24 dự án nhà máy xi măng thì Trung Quốc làm tổng thầu EPC 23 dự án. Nắm tổng thầu Trung Quốc dành hết thầu phụ cho người của họ; đem luôn lao động phổ thông từ Hoa lục sang. Hiện nay trong 20 dự án nhiệt điện, Trung Quốc trúng tổng thầu EPC 15 dự án tỷ lệ nội địa hoá 0%. Phần lớn các dự án của Tập đoàn Than và khoáng sản phía Trung Quốc đều trúng tổng thầu, kể cả hai dự án bauxite Tây nguyên đầy tranh cãi.

Vungang-400.jpgMột công trình xây dựng tại KCN Vũng Áng do nhà thầu Trung Quốc thi công. Courtesy photo.

.
Các chuyên gia đã cảnh báo an ninh năng lượng của Việt Nam nằm trong tay Trung Quốc. Giả sử nhà thầu Trung Quốc vòi vĩnh không được bỏ ngang thì gây thiệt hại rất lớn. Với thiết bị máy móc và công nghệ Trung Quốc thì các nhà thầu khác khó lòng vào làm thay được.

Báo điện tử Đất Việt ngày 21/8/2014 trích lời bà Bùi Thị An, đại biểu quốc hội đơn vị Hà Nội cảnh báo tình trạng nhà thầu Trung Quốc ngừng thi công đòi thêm tiền ngày càng phổ biến. Bà An nêu ví dụ dự án nhiệt điện Nông Sơn Quảng Nam năm 2008, nhà thầu Trung Quốc bỏ thầu giá rẻ thi công ì ạch đến năm 2012 thì bỏ hẳn trong khi công trình mới xây dựng được một nửa khối lượng. Chưa hết, gần đây nhất chủ đầu tư dự án thủy điện Vĩnh sơn-Sông Hinh cũng đã phải chấm dứt hợp đồng với nhà thầu Trung Quốc nửa chừng vì họ ngừng thi công đòi tăng giá.

Theo lời Đại biểu Bùi Thị An, cần phải truy trách nhiệm đến cùng người đứng đầu các công trình, cũng như những người đã duyệt thầu. Tất cả mọi thứ cần phải được công khai minh bạch.

Người TQ trúng thầu ở mọi nơi

Về câu chuyện Việt Nam đã có quá nhiều kinh nghiệm về công nghệ Trung Quốc và nhà thầu Trung Quốc, nhưng tại sao người Trung Quốc lại trúng thầu ở mọi nơi mọi chỗ. TS Phạm Sỹ Liêm, Phó Chủ tịch Tổng hội xây dựng Việt Nam nhận định:

“Rõ ràng việc lựa chọn bên trúng thầu không đúng và thực tế đã chỉ ra. Còn tại sao tình trạng tiếp tục thì cũng chưa ai nói rõ lý do. Nhưng chúng ta đều biết người Trung Quốc trong kinh tế rất coi trọng các mối quan hệ họ gọi là ‘Guan Xi” và ở Việt Nam cái ‘Guan Xi’ này đã phát huy tác dụng và do đó họ trúng thầu nhiều dự án. Trước khi thầu thì họ đã mời các bên có liên quan sang nước họ tham quan để chứng tỏ năng lực của họ. Trong quá trình tham quan thì họ đã ‘thế nào đó’ và rõ ràng cái đó tác động kết quả lựa chọn thầu.”

   Người Trung Quốc trong kinh tế rất coi trọng các mối quan hệ họ gọi là ‘Guan Xi” và ở Việt Nam cái ‘Guan Xi’ này đã phát huy tác dụng và do đó họ trúng thầu nhiều dự án.
– TS Phạm Sỹ Liêm   

Đề cao Luật Đấu thầu 2013 và hy vọng nó sẽ sớm có tác dụng giúp cải thiện tình trạng khuất tất trong vấn đề đấu thầu. Tuy nhiên TS Phạm Sĩ Liêm có thêm đề xuất ông nói:

“Những dự án này phần lớn đều là dự án của nhà nước mà những dự án người Trung Quốc tham gia phần lớn lại là những dự án vay tiền của Trung Quốc mà vay tiền của Trung Quốc, vay vốn ODA thì người ta yêu cầu phải sử dụng nhà thầu Trung Quốc, tư vấn Trung Quốc, các nước khác thì cũng tương tự thôi. Các chủ đầu tư dự án nói chúng tôi phải chọn nhà thầu Trung Quốc vì chúng tôi vay tiền vốn ODA của Trung Quốc, phải theo điều kiện đặt ra. Nhưng theo tôi, chúng ta lúc cần cũng phải biết nói không với vốn ODA. Chứ không có nghĩa cứ vốn ODA là phải chấp nhận.”

Về mặt chính thức Trung Quốc không phải là nước cung cấp viện trợ phát triển (ODA) lớn cho Việt Nam. Trong số 92 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư trực tiếp tại Việt Nam, Trung Quốc xếp thứ 14 với gần 900 dự án FDI tổng vốn đăng ký 4,68 tỷ USD.

Tuy vậy theo trang mạng Diễn đàn Kinh tế Việt Nam VEF, dòng vốn Trung Quốc chảy vào Việt Nam rất lớn và chưa được thống kê đầy đủ. Thực tế Trung Quốc cung cấp vốn vay ưu đãi lãi suất thấp cho hầu hết các dự án ngành công nghiệp, năng lượng của nhà nước Việt Nam, thông qua đầu mối Ngân hàng xuất nhập khẩu Trung Quốc (China Eximbank).

Rõ ràng bất kỳ sự lệ thuộc nào cũng kèm theo trái đắng, kể cả lệ thuộc vốn vay của Trung Quốc.

500 triệu đô nhập hạt giống: Dại gì mua hàng Việt Nam!?

Thành Luân (ĐV) – Trong khi nước ngoài vào Việt Nam đầu tư trung tâm sản xuất giống thì Bộ Nông nghiệp, tư nhân chỉ thích ăn xổi, thành ra lệ thuộc nước ngoài.

Chuyên môn kém lại thích ăn xổi!

GS.TS Võ Tòng Xuân không hề ngạc nhiên trước con số mà Cục Trồng trọt (Bộ NN&PTNT) vừa công bố: năm 2013 Việt Nam chi tới 500 triệu USD để nhập khẩu hơn 8.000 tấn hạt giống các loại nhằm cung ứng cho 700.000 ha sản xuất rau của cả nước. Ngay cả những loại hạt giống rau có thể sản xuất trong nước như củ cải, cà chua, dưa chuột, cải bắp, su hào, hạt rau mầm… cũng phải nhập khẩu.

Ngoài ra, ông chỉ rõ, dù Việt Nam có hẳn một chương trình giống quốc gia được chính phủ cho phép thực hiện trong 20 năm với vốn đầu tư không hạn chế. Tính đến năm 2010 vốn rót cho chương trình đã khoảng 20.000 tỷ đồng, gồm cả vốn TƯ và địa phương.

Tương tự, Việt Nam cũng có hẳn dự án phát triển giống lúa lai được thực hiện từ năm 2003 với hàng trăm tỉ đồng. Thế nhưng Việt Nam vẫn phải chi tiền để nhập khẩu hạt giống. Theo ông, việc này chẳng có gì lạ, thậm chí con số 500 triệu USD cũng chẳng to tát gì.


Việt Nam chi 500 triệu USD để nhập khẩu các loại hạt giống mỗi năm

“Hạt giống là sản phẩm đặc biệt, rất nhiều loại hạt giống Việt Nam không tập trung nghiên cứu sản xuất được mà bị lệ thuộc vào nước ngoài. Dù là một trong những quốc gia xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới, Việt Nam cũng nhập khẩu tới 70% giống lúa lai từ Trung Quốc đó thôi. Việt Nam không chịu làm ấy là do chủ trương dở, Bộ Nông nghiệp không chịu đầu tư, thành ra những người nghiên cứu giống không đủ kinh phí làm, để các công ty nhập giống từ Trung Quốc về kiếm lời.

Hạt giống rau cải cũng vậy, lẽ ra phải có các trung tâm nghiên cứu rồi nhân ra. Hà Lan vào Đà Lạt đầu tư mấy trung tâm sản xuất giống trong khi từ Bộ tới tư nhân chỉ thích ăn xổi ở thì thành ra lệ thuộc vào nước ngoài”, GS.TS Võ Tòng Xuân nói.

Theo GS Võ Tòng Xuân, ở miền nam, nhiều địa phương bỏ tiền để đặt hàng các nhà khoa học tạo ra giống mới. Họ không cần nhiều kinh phí mà vẫn sản xuất được hạt giống. Ông lấy dẫn chứng tỉnh An Giang, Đồng Nai, Cần Thơ, Bạc Liêu… Cũng tại đây, chỉ riêng một huyện như huyện Hồng Dân (Bạc Liêu) sẵn sàng chi cả tỉ đồng cho các nhà lai tạo giống lúa ở Đại học Cần Thơ nghiên cứu ra giống lúa chịu mặn.

“Việt Nam có nhiều cơ quan nghiên cứu giống nhưng không phải tất cả đều tốt. Có một thực tế là nhiều nhà khoa học có thể làm rất tốt nhưng lại không có kinh phí, trái lại những người giành được kinh phí lại không thể làm ra hạt giống. Trình độ công nghệ kém thì việc nhập khẩu hạt giống là đương nhiên, coi như đó là học phí để học hỏi cách làm của nước ngoài”.

Đặc biệt, một lý do quan trọng khiến Việt Nam phải nhập khẩu giống, theo GS Xuân, đó là có lợi ích nhóm chi phối, các công ty nhập khẩu chỉ chăm chăm kiếm lời nên không bận tâm đến việc nghiên cứu giống.

Dại gì mua hàng…Việt Nam?

Doanh nghiệp nước ngoài đang chiếm 80% thị phần giống cây trồng ở Việt Nam nhưng theo GS Võ Tòng Xuân không thể sử dụng biện pháp tiêu cực là cấm nhập bởi có muốn cũng chẳng cấm được! Nếu ra lệnh cấm thì Việt Nam sẽ vi phạm hiệp định WTO, tới đây là các hiệp định AFTA (khu vực mậu dịch tự do ASEAN), AEC (cộng đồng kinh tế ASEAN), mà cấm rồi thì không có hàng để dùng!


GS.TS Võ Tòng Xuân

“Hãy chỉ cấm khi nào Việt Nam sản xuất được và có hàng tốt. Cứ nói người Việt dùng hàng Việt là nói chơi chơi vậy thôi, còn dại gì mua hàng Việt Nam lại là hàng xấu, nuôi làm sao nổi mấy doanh nghiệp làm biếng, làm xấu mãi”, GS Võ Tòng Xuân nói.

Theo ông, muốn giảm nhập khẩu hạt giống, bớt lệ thuộc nước ngoài, Việt Nam phải có những doanh nghiệp đứng ra sử dụng người tài, trả lương cao cho họ làm để làm ra giống, sản phẩm trong nước đang cần, từ đó mới cạnh tranh được với nước ngoài. Khi đó, giống nước ngoài nhập vào Việt Nam cũng chẳng bán được vì Việt Nam đã giống tốt hơn, giá rẻ hơn.

GS Võ Tòng Xuân lấy ví dụ về tập đoàn CP, một trong những tập đoàn mạnh nhất Thái Lan trong lĩnh vực công-nông nghiệp. Riêng đối với chăn nuôi, tập đoàn CP chiếm lĩnh hết thị trường thế giới đến Việt Nam, từ con giống tới thức ăn. “Người chăn nuôi chẳng dại gì mà mua thức ăn của Việt Nam bởi ăn 5-6kg thức ăn mà gà, lợn chỉ tăng được 1kg, trong khi thức ăn của Thái Lan chỉ cần ăn 2kg đã tăng được 2kg”.

Sở dĩ CP Thái Lan làm được như vậy là do họ có trung tâm nghiên cứu rất lớn bên ngoài Bangkok.

“Năm 1983-1984 tôi sang Thái Lan có được thăm tập đoàn CP. Nguyên một viện của họ đã thuê hơn 30 nhà khoa học quốc tế, trả lương 10.000 USD mỗi tháng, thúc đẩy các nhà khoa học nỗ lực làm để có công thức thức ăn tốt nhất. Việt Nam không có doanh nghiệp nào sẵn sàng bỏ tiền ra nghiên cứu như vậy. Họ cứ nằm chờ các nhà khoa học ở các viện, các trường, mà ở đó thì người ta xâu xé tiền dành cho nghiên cứu. Thành ra Việt Nam không có được sản phẩm trong nước cạnh tranh được với nước ngoài, không thể tự túc phát triển nông nghiệp, bị lệ thuộc vào nước ngoài cả giống, vật tư nông nghiệp đến các quy trình…”.

GS Võ Tòng Xuân cho rằng, Việt Nam không có doanh nghiệp đứng ra làm đầu mối liên kết chuỗi giá trị ngành hàng. Nhà nước phải tạo điều kiện bằng chính sách về kinh phí, thuế má để nhà khoa học có thể thoải mái nghiên cứu, doanh nghiệp thoải mái đầu tư thiết bị tối tân để chế biến, thể nông dân, trang trại có điều kiện đầu tư hạ tầng sản xuất tốt nguyên liệu.

“Cái chính là phải có doanh nghiệp có tài kinh doanh, biết nắm bắt thị trường trong và ngoài nước, từ đó xâu mối nông dân, nhà khoa học, đề nghị chính sách nhà nước ưu đãi…

Việt Nam đang thiếu các doanh nghiệp như thế nhưng lại thừa những kẻ cơ hội, những doanh nghiệp như các Tổng công ty lương thực. Họ không nắm được thị trường, không có cách tăng cao chất lượng, uy tín cho gạo Việt Nam. Họ ưu đãi cho thương lái mang gạo về cho mình, dù gạo đó trộn đủ thứ. Họ qua Philippines bán gạo, bỏ thầu với giá thật thấp khiến nông dân lỗ chỏng gọn.

Còn những doanh nghiệp cỏn con bán đường dài cũng chỉ cần mang gạo xấu bán tiểu ngạch ở biên giới cho Trung Quốc, không được giá bao nhiêu cũng chẳng có thương hiệu gì. Như thế, chẳng bao giờ kinh tế Việt Nam khá lên được”, GS Võ Tòng Xuân nói.

[:-/] Ai tiếp tay cho giống lúa Trung Quốc tràn vào Việt Nam  – Mặc dù Việt Nam là một trong những quốc gia xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới nhưng giống lúa, phân bón, thuốc trừ sâu lại nhập chủ yếu từ Trung Quốc. Đề án phát triển sản phẩm quốc gia cho mặt hàng gạo đã được thông qua nhưng theo GS Võ Tòng Xuân, chuyên gia về Nông nghiệp, đề án này không có tính khả thi.

[:-/] Nông nghiệp VN hiện nay không thể xuất cho ai ngoài TQ!  – Một nền nông nghiệp đầu độc cả dân tộc một cách hợp pháp thì không có nước nào dám mua sản phẩm của nền nông nghiệp ấy.


Vụ việc chế biến chè bẩn tại một số tỉnh phía Bắc năm 2011
khiến ngành chè lao đao

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.