Công nghiệp phụ trợ: “Việt Nam đang chế biến hộ cho thiên hạ”

Posted: August 30, 2014 in Uncategorized
Tags:

Vũ Hoàng (RFA) – Thời gian gần đây, Việt Nam nhắc nhiều đến một yếu tố quan trọng để đưa nền kinh tế ra khỏi sự ảnh hưởng, lệ thuộc vào Trung Quốc và nâng cao giá trị gia tăng của hàng hóa xuất khẩu đó là đẩy mạnh những ngành “công nghiệp hỗ trợ”.


.
Xem thêm: Hướng đi nào cho ngành công nghiệp hỗ trợ Việt Nam?

b7d6e015-492f-499f-9553-3077605eefae.jpegTriển lãm xe công nghiệp Trung Quốc được lắp ráp tại VN hôm 12/6/2013, tại Hà Nội AFP photo

.
Vai trò của công nghiệp hỗ trợ

Công nghiệp hỗ trợ được hiểu là các ngành công nghiệp sản xuất từ nguyên vật liệu đến gia công chế tạo các sản phẩm, phụ tùng, linh kiện, bán thành phẩm… để cung cấp cho ngành công nghiệp lắp ráp các sản phẩm cuối cùng là tư liệu và công cụ sản xuất hay sản phẩm tiêu dùng.

Trong cuốn “Biến động kinh tế Đông Á và con đường công nghiệp hóa Việt Nam” G.S Trần Văn Thọ chỉ ra rằng “công nghiệp hỗ trợ” rất quan trọng vì ngoài việc tăng sức cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp chính và đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo chiều rộng và chiều sâu, công nghiệp hỗ trợ còn góp phần đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài và tạo thêm việc làm một cách hiệu quả.

   Ngành công nghiệp phụ trợ của Việt Nam rất sơ sài, nên các doanh nghiệp FDI của Việt Nam vẫn phải nhập các phụ tùng, thiết bị công nghiệp từ nước ngoài vào Việt Nam.
– TS Trần Văn Hải   

Vì lẽ đó, nếu công nghiệp hỗ trợ không phát triển thì các ngành công nghiệp chính sẽ thiếu sức cạnh tranh, khó thu hút được các công ty đầu tư trực tiếp nước ngoài và Việt Nam phải phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu.

Nhiều chuyên gia đánh giá, trong bối cảnh Biển Đông còn nhiều phức tạp, việc phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu từ Trung Quốc chứa đựng nhiều rủi ro, bất ổn vì thế ngành công nghiệp hỗ trợ càng có vai trò lớn hơn, nhằm đảm bảo tính chủ động của nền kinh tế quốc nội.

Thậm chí nhiều vị còn cho rằng “công nghiệp hỗ trợ” này phải mang tính chất “xương sống” của nền công nghiệp quốc gia.

Thế nhưng, trên thực tế ngành công nghiệp hỗ trợ vẫn chưa cất cánh và chưa được chú trọng đầu tư dù rằng đã có những quy hoạch phát triển do Chính phủ phê duyệt từ cách đây hàng chục năm.

Đánh giá chung về ngành công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam, T.S Trần Văn Hải, nguyên là giảng viên bộ môn Kinh tế ở một trường đại học tại Hà Nội hiện đang làm tư vấn về đầu tư cho doanh nghiệp nước ngoài nhận xét:

“Những ngành công nghiệp phụ trợ của Việt Nam rất sơ sài, nên các doanh nghiệp FDI của Việt Nam vẫn phải nhập các phụ tùng, thiết bị công nghiệp từ nước ngoài vào Việt Nam. Đơn giản, họ chỉ lắp ráp các sản phẩm công nghiệp ở trong nước, rồi sau đó mang đi xuất khẩu.

Chính vấn đề đó, nó giúp cho Việt Nam trong chuỗi sản phẩm không lớn. Cũng chính vì đặc tính trên nên giá trị gia tăng trên mỗi sản phẩm không nhiều.”

Ngoài ra, T.S Hải lấy thí dụ tại Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan hay Malaysia những ngành công nghiệp hỗ trợ có vị trí rất quan trọng để phát triển nền công nghiệp trong nước, những quốc gia trên ưu tiên phát triển những ngành này từ những ngày đầu thực hiện công nghiệp hóa tại nước họ.

Kết quả là xã hội nói chung và công nghiệp nói riêng ở những quốc gia trên có sự phân công lao động hợp lý và hiệu quả.

Nghịch lý Việt Nam

Nếu nhìn vào bức tranh chung, có thể nhận thấy vai trò của ngành công nghiệp trong nước hiện tại tạo ra giá trị gia tăng không nhiều trong chuỗi sản phẩm, vì thế phần đóng góp của Việt Nam không cao, chỉ được coi như “phần ngọn” trong khi “phần gốc” lại là hàng hóa nhập khẩu về từ một bên thứ ba.

    Vấn đề công nghiệp là đang chế biến hộ cho thiên hạ, công nghiệp phụ trợ của mình không có, thành thử giá trị gia tăng để tăng thu nhập cho nền kinh tế gần như ở mức thấp nhất.
– GS Vũ Văn Hóa    

Chính điều này được giáo sư Vũ Văn Hóa gọi bằng cái tên “Việt Nam đang chế biến hộ cho thiên hạ” ông phân tích:

“Vấn đề công nghiệp là đang chế biến hộ cho thiên hạ, công nghiệp phụ trợ của mình không có, thành thử giá trị gia tăng để tăng thu nhập cho nền kinh tế gần như ở mức thấp nhất, dệt may chẳng hạn, tăng trưởng của nó theo thông báo thì tương đối lớn trong xuất khẩu thế nhưng từ nguyên liệu là vải đến tất cả các việc tạo ra một cái áo, ngay cả mẫu mã cũng phải nhập ở nước ngoài. Như vậy Việt Nam chỉ có mỗi cái chi phí nhân công là chính mà chi phí nhân công của Việt Nam lại quá rẻ.”

Trong một buổi thảo luận gần đây về ngành công nghiệp hỗ trợ tại Việt Nam, G.S T.S Võ Thanh Thu của trường Đại học Kinh tế TPHCM đã phát biểu với truyền thông trong nước rằng “Việt Nam sắp đi hết chặng đường 30 năm đổi mới kinh tế, nhưng chỉ mới xây dựng được nền công nghiệp gia công mang tính phụ thuộc.

Nền kinh tế Việt Nam đứng trước một nghịch lý đó là nguyên liệu trong nước có khả năng cung cấp được thì hầu hết xuất khẩu thô như nông sản, than đá… công nghiệp chủ lực mang lại ngoại tệ cho đất nước chủ yếu gia công lắp ráp từ nguyên liệu nước ngoài, công nghiệp hỗ trợ kém phát triển.”

Với hai điểm cơ bản thứ nhất là thoát khỏi sự phụ thuộc vào hàng hóa nhập khẩu, tăng cường tính chủ động cho nền kinh tế, và thứ hai là tăng cường giá trị gia tăng của hàng xuất khẩu cũng như FDI, do đó, việc đầu tư vào ngành công nghiệp hỗ trợ hẳn là lúc cần phải được đẩy nhanh. Vậy những gì Việt Nam cần phải làm lúc này:

“Hiện nay các doanh nghiệp tư nhân không có điều kiện để mà khai thác các thị trường mặc dù họ vẫn có thể có cơ hội ở đâu đó thị trường trong nước, thị trường bên ngoài hoặc tạo thành các doanh nghiệp mang tính chất cung cấp các sản phẩm phụ trợ cho các nhà đầu tư nước ngoài để tham gia vào các liên kết.

Cũng có thể là ban đầu ở vị trí thấp hoặc cung cấp một số sản phẩm thôi về sau nâng cấp dần để có thể tham gia sâu hơn vào những giá trị trong khu vực và toàn cầu.”

Vừa rồi là lời nhận xét của bà Phạm Chi Lan trong một lần phỏng vấn gần đây với chúng tôi khi nói về làm sao để thúc đẩy vai trò khối các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong hoạt động của ngành công nghiệp hỗ trợ.

Theo số liệu thống kê, lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ phần lớn do các doanh nghiệp vừa và nhỏ thực hiện với quy mô sản xuất nhỏ, đây là khu vực tạo ra nhiều việc làm và chiếm tới hơn 97% số doanh nghiệp ở Việt Nam.

Nhiều chuyên gia cho rằng phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ là biện pháp hữu hiệu nhất để đối phó với khủng hoảng kinh tế cũng như khiến nền kinh tế nội địa chủ động hơn.

Bên cạnh biện pháp tăng cường vai trò của những doanh nghiệp vừa và nhỏ trong chuỗi sản xuất, việc đẩy mạnh vai trò của công nghiệp hỗ trợ cũng khiến môi trường đầu tư trở nên hấp dẫn hơn với các nhà đầu tư nước ngoài, khiến họ không còn phải lo lắng vấn đề nhập khẩu linh kiện, thiết bị phụ trợ hay các dịch vụ đi kèm từ một nước thứ ba.

Và cuối cùng khi một nền công nghiệp phụ trợ phát triển cũng sẽ đẩy mạnh tiến trình chuyển giao và nâng cao trình độ công nghệ sản xuất.

Có thể nhận thấy tầm quan trọng của công nghiệp hỗ trợ không chỉ ở Việt Nam mà còn ở các nước trong khu vực, thế nhưng để ngành công nghiệp này phát huy tối đa hiệu quả thì còn là câu chuyện dài vì như lời T.S Trần Du Lịch nhận xét: “Bàn bạc bao nhiêu, cuối cùng cũng chỉ là những tài liệu cất trong hộc bàn.”

Hướng đi nào cho ngành công nghiệp hỗ trợ Việt Nam?

(4P) – Một thực tế cần phải thừa nhận là số doanh nghiệp Việt Nam làm công nghiệp hỗ trợ rất ít. Các doanh nghiệp cung cấp linh kiện, bán sản phẩm hiện nay chủ yếu là các doanh nghiệp Nhật Bản, Hàn quốc đang đầu tư vào Việt Nam, tiếp theo là các doanh nghiệp Đài Loan, cuối cùng mới là các doanh nghiệp Việt Nam với một tỉ trọng ít ỏi.

Trong chuyến đi tìm hiểu thực tế về công nghiệp hỗ trợ Việt Nam, nhóm phóng viên đã tới thăm công ty TNHH 4P (Một công ty chuyên sản xuất và lắp ráp vỉ mạch và sản phẩm điện tử). Chúng tôi đã và có buổi nói chuyện với ông Hoàng Minh Trí- giám đốc công ty TNHH 4P và nghe những trao đổi của ông về suy nghĩ trước hướng đi của ngành công nghiệp hỗ trợ nước nhà.

– Hơn 10 năm hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp phụ trợ, ông nhận định thế nào về công nghiệp phụ trợ Việt Nam?

– Đứng từ góc độ một doanh nghiệp hoạt động trong ngành, tôi nhận thấy công nghiệp hỗ trợ hiện nay vẫn đang còn là khâu rất yếu của công nghiệp nước ta.

Trong lĩnh vực điện tử, hiện đa số các nhà sản xuất có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam vẫn phải nhập khẩu linh kiện là chủ yếu. Những nhà cung cấp linh kiện, bán sản phẩm chủ yếu vẫn là những doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và vẫn đang còn khoảng cách tiêu chuẩn chất lượng khá lớn giữa các nhà cung cấp linh kiện trong và ngoài nước.

Trong thời gian qua, nhà nước cũng đã có định hướng ưu đãi cho các doanh nghiệp hỗ trợ tuy nhiên những ưu đãi này chưa rõ ràng và đang dưới hình thức cào bằng. Đối tượng được hưởng nhiều ưu đãi nhất lại không phải là doanh nghiệp nội mà chiếm tới 70% là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Trong giai đoạn đầu của chính sách thu hút đầu tư nước ngoài với bối cảnh Việt nam chưa gia nhập WTO, AFTA chính sách bảo hộ mậu dịch còn lớn, khi đó các doanh nghiệp nước ngoài với mục tiêu nhắm tới là mở rộng thị trường tại Việt nam nên chỉ đầu tư vào lắp ráp sản phẩm tiêu thụ ở thị trường trong nước với số vốn không lớn chỉ cần từ vài đến vài chục triệu USD và thời gian cũng không dài, từ 10 đến 15 năm với hình thức liên doanh để hưởng các ưu đãi về bảo vệ sản xuất của Việt Nam. Hệ quả  là hầu như không có doanh nghiệp có vốn nước ngoài nào đầu tư thực sự cho công nghệ cao hoặc chuyển giao công nghệ nên chúng ta chỉ thu được một số kinh nghiệm về tổ chức sản xuất và quản lý chất lượng.

Tuy nhiên với tình hình hiện nay, sau khi Việt nam đã gia nhập WTO, AFTA… những doanh nghiệp FDI còn trụ lại hoặc đầu tư mới, họ thực sự mong muốn tìm cơ hội đầu tư lâu dài và hợp tác với Việt nam, nhưng lại gặp phải những trở lực rất lớn đó là ngành công nghiệp phụ trợ của Việt nam quá yếu và mong manh dẫn đến mặc dù các doanh nghiệp FDI này đầu tư vào Việt nam nhưng vẫn phải nhập khẩu vật tư linh kiện từ nước ngoài đồng thời phải kéo theo những nhà lắp ráp, sản xuất bán thành phẩm cho họ từ chính quốc sang điều này dẫn đến giá trị gia tăng do các công ty Việt nam tạo ra không đáng là bao. Trong khi đó những công việc này, theo tôi các công ty trong nước hoàn toàn có thể làm được.

– Việt Nam hiện tại là một quốc gia thu hút sự chú ý lớn từ các nhà đầu tư nước ngoài, họ có xu hướng chuyển nhà máy sản xuất sang Việt Nam, vậy bản thân công nghiệp hỗ trợ nói chung và doanh nghiệp ông nói riêng tận dụng lợi thế này thế nào?

– Nói về lợi thế này, tôi nghĩ có thể phân tích ở 2 mặt, một mặt , đây là cơ hội rất tốt chúng ta có thể mở rộng cơ hội liên kết sản xuất, cung cấp linh kiện, lắp ráp và tham gia sản xuất từng công đoạn cho họ. Nhưng mặt khác, liệu các nhà sản xuất tại Việt Nam có đáp ứng được 3 mục tiêu để đảm bảo tính cạnh tranh của sản phẩm là: chất lượng cao, giao hàng đúng hẹn và giá cả hợp lý hay không? Hai yếu tố đầu tiên thuộc doanh nghiệp phải tự thân nỗ lực. Còn yếu tố thứ 3 bắt buộc phụ thuộc vào sự phát triển chung của ngành công nghiệp hỗ trợ, và các chính sách ưu đãi đối với ngành công nghiệp hỗ trợ Việt Nam.

Đối với bản thân 4P, chúng tôi luôn đặt ra mục tiêu hướng tới sự phát triển ổn định, bền vững nên chúng tôi rất chú trọng tới việc đầu tư Hệ thống, Công nghệ và đặt ra chiến lược lâu dài với mục tiêu quan trọng nhất là xây dựng chất lượng và uy tín với khách hàng. Do đó khi tiếp xúc với các khách hàng nước ngoài, chúng tôi đã đạt tới một mức độ tin cậy nhất định để họ hợp tác sản xuất với chúng tôi, và 4P đã có thể tham gia vào chuỗi các nhà cung cấp của họ.

– Ông đánh giá thế nào về lợi thế canh tranh là nguồn lao động của nước ta hiện nay?

– Tôi thì lại không cho rằng đó là lợi thế tốt và lâu dài của nước ta hiện nay đối với thu hút đầu tư nước ngoài. Một ví dụ để so sánh, tại Trung Quốc, lương công nhân trong các nhà máy vào khoảng 180 USD/tháng (tương đương khoảng 4 triệu đồng), song hiệu suất làm việc của họ khác hẳn so với mức lương 2,5 – 3 triệu đồng/tháng tại các khu công nghiệp của Việt Nam.

Với tình hình lạm phát hiện nay, chi phí về nhân công của Việt Nam dần dần không rẻ, đó không còn là lợi thế nổi trội của ta nữa. Ngoài ra, dựa vào kinh nghiệm và quá trình vận hành trong suốt những năm qua, chúng tôi nhận thấy, kĩ năng thực tế của ngay cả kĩ sư tốt nghiệp trong các trường học kĩ thuật tại Việt Nam còn chưa đáp ứng được yêu cầu.

Cực kì khó khăn để chúng tôi có thể lựa chọn được những người đủ trình độ chuyên môn để làm việc khi họ mới tốt nghiệp. Chúng tôi phải mất rất nhiều chi phí, thời gian để thuê chuyên gia nước ngoài để đào tạo lại, thực tế gần như là sự đào tạo căn bản từ đầu. Nhất là kỹ năng làm việc, sản xuất trong một môi trường chuyên nghiệp.

– Vậy theo ông, nếu các chính sách vĩ mô không được cải thiện, hướng phát triển cho ngành công nghiệp hỗ trợ không rõ ràng thì chỉ sau vài năm nữa cơ hội để Việt Nam thu hút đầu tư nước ngoài sẽ mất đi?

– Đúng vậy. Có một điều dễ nhận thấy nhất qua con số thống kê của Bộ Công thương, năm 2011, kim ngạch xuất khẩu ngành điện tử đạt xấp xỉ 10 tỷ USD, trong khi đó tỷ trọng giá trị tạo ra của các doanh nghiệp trong nước lại chiếm một phần không đáng kể. Vấn đề đặt ra là sau 5 – 10 năm nữa khi mà các chính sách ưu đãi đối với các doanh nghiệp nước ngoài như thuế doanh nghiệp, đất đai … chấm dứt, liệu Việt Nam có còn là nơi thu hút đầu tư từ các doanh nghiệp nước ngoài  nữa hay không. Liệu sẽ có một làn song dịch chuyển đầu tư sang các quốc gia khác đang hấp dẫn về chính sách ưu đãi?

Chính vì thế, cần thiết một sự thông thoáng trong các chính sách kinh tế, tiền tệ, hỗ trợ về cơ sở hạ tầng, thuế, thông tin về sự hợp tác quốc tế trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ…

Việc phát triển công nghiệp hỗ trợ không chỉ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Việt Nam có thể tham gia vào chuỗi cung ứng giá trị toàn cầu., Mà còn là nguồn cung cấp linh kiện phụ tùng cho các doanh nghiệp sản xuất trong nước khác, đó cũng chính là nhân tố quan trọng để tiến đến tạo ra những sản phẩm thuần Việt thay vì là những sản phẩm mang mác Việt nhưng lại sản xuất ở Trung quốc như hiện nay.

– Xin cám ơn ông!

Trần Minh (thực hiện) (nguồn vtc.vn)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.