Thoát Trung về kinh tế ngày càng xa vời

Posted: September 6, 2014 in Uncategorized
Tags:

Nam Nguyên (RFA) – Báo chí Việt Nam từng một dạo sôi nổi với vấn đề thoát khỏi lệ thuộc kinh tế Trung Quốc, đặc biệt trong cuộc khủng hoảng giàn khoan Hải Dương 981. Thế nhưng thực tế đang đi ngược lại mong muốn đó, thể hiện qua sự kiện 8 tháng vừa qua nhập khẩu của Việt Nam từ Trung Quốc tăng gấp ba lần xuất khẩu qua thị trường này.


.
Xem thêm: Việt Nam vẫn nhập cây tăm, sợi chỉ từ Trung Quốc + Kinh tế Việt Nam khó thoát lệ thuộc Trung Quốc + Vì sao Trung Quốc dễ trúng thầu ở Việt Nam? + Đừng bỏ dở cuộc vận động thoát Trung.

Thương lái vận chuyển hàng hóa Trung Quốc qua cửa khẩu Lào Cai hôm 9/5/2014.AFP photo

.
Sản phẩm chiến lược phụ thuộc nguyên liệu TQ

Trong cuộc phỏng vấn vào tối 4/9/2014, từ Hà Nội chuyên gia Bùi Kiến Thành nhận định:

“Báo chí nói rất nhiều nhưng thực sự có làm được gì đâu. Vấn đề nhập siêu từ Trung Quốc, nhập rất nhiều nguyên liệu để sản xuất thí dụ nguyên liệu về giày dép, may mặc… những cái gọi là sản phẩm chiến lược của Việt Nam phần lớn nhập nguyên liệu từ Trung Quốc về, mình tăng xuất khẩu chừng nào thì tăng nhập khẩu nguyên liệu chừng ấy, đó là nói về công nghiệp.

   Sản phẩm chiến lược của VN phần lớn nhập nguyên liệu từ TQ về, mình tăng xuất khẩu chừng nào thì tăng nhập khẩu nguyên liệu chừng ấy, đó là nói về công nghiệp.
– Ô. Bùi Kiến Thành    

Ngoài ra về sản phẩm tiêu dùng, biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc như là một biên giới mở, nó vào bao nhiêu qua tiểu ngạch con đường không chính thức và từ những đường chính thức hàng hóa của Trung Quốc vào Việt Nam có ai kiểm soát gì đâu. Nhất là những hàng hóa không chỉ rẻ tiền mà còn độc hại nữa, lương thực, trái cây, chân gà hư thối, thịt hư thịt thối… làm gì có chính sách chặn bớt hàng hóa từ Trung Quốc qua Việt Nam, quan sát của tôi ở Việt Nam chưa hề có chính sách nào để giảm thiểu vấn đề nhập siêu từ Trung Quốc vào từ nguyên liệu cũng như hàng tiêu dùng.”

Các báo điện tử như Tuổi Trẻ, Thời báo Kinh tế Sài Gòn, Đất Việt, Dân Trí những ngày cuối tháng 8 đầu tháng 9 có nhiều tin bài mang tính trình bày sự kiện để dóng lên hồi chuông cảnh báo. Đất Việt và Dân Trí có bài “Chính sách mua rẻ, bán rẻ: Nhập siêu tăng mạnh, lệ thuộc càng nhiều” hoặc Tuổi trẻ Online với bài Nhập khẩu từ Trung Quốc chạm mốc 40 tỉ USD trọn năm 2014. Cán cân thương mại Việt-Trung mất cân bằng ngày càng nghiêm trọng, nhập siêu trên 17 tỉ trong vòng 8 tháng, trung bình mỗi tháng nhập siêu 2 tỷ 160 triệu USD.

Bạn đọc góp ý trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online đặt câu hỏi với các cơ quan chức năng: hàng hóa Trung Quốc độc hại, kém chất lượng ai cũng biết. Nhưng ai quản lý việc này, ai kiểm tra chất lượng? Trong khi đó, xuất khẩu qua Trung Quốc thì gặp nhiều khó khăn mà còn bị Trung Quốc ép muốn dở khóc dở cười. Ai giúp gánh bớt khó khăn cho dân.

Nhà giáo Đỗ Việt Khoa ở Hà Nội, trong tư cách một công dân, một người tiêu dùng góp ý:

000_Hkg9926949-400.jpgHai người Trung Quốc qua cửa khẩu Lào Cai hôm 9/5/2014. AFP photo

“Sau những vụ gây hấn của Trung Quốc và nhìn vào thực lực kinh tế Việt Nam, tôi không kêu gọi tẩy chay hàng Trung Quốc. Bởi vì không thể tẩy chay được, khi mà phụ thuộc nó quá nhiều mặt hàng mà Việt Nam không sản xuất được, từ cái kim sợi chỉ cho đến đồ dùng rất thông thường như bát đũa cũng phải dùng của Trung Quốc, máy móc đồ dùng như đinh ốc cũng vậy rất khó tẩy chay hàng của Tàu.”

Theo nhà giáo Đỗ Việt Khoa, phải đặt vấn đề trách nhiệm của nhà nước khi mấy chục năm thống nhất đất nước mà không phát triển sản xuất hàng tiêu dùng có đủ sức cạnh tranh cả về chất lượng cũng như giá cả. Ông nói:

“Người công dân bình thường như chúng tôi có thể nói là bất bình với chính quyền, trải qua mấy chục năm hòa bình phát triển đất nước nhưng mà tiền thuế của nhân dân họ đã mải mê tham nhũng và đổ đi đâu mà họ không phát triển được những ngành kinh tế chủ chốt cho đất nước. Ngoài việc gia công làm thuê, phát triển nông sản thì ngành công nghiệp của Việt Nam đến giờ là con số không. Công nghiệp chế tạo cơ bản là không làm được gì cả. Vừa rồi có phê bình là ngay đến cái vỏ điện thoại Samsung, con ốc vít chẳng hạn cũng không tìm được doanh nghiệp nào gia công cho, điều ấy là thảm họa. Chúng tôi không phải là con vật chỉ cần ăn no, chúng tôi là con người đòi hỏi đất nước phải khác, phải phát triển nhanh hơn nữa. Chúng tôi có nhu cầu được chứng kiến đất nước vững mạnh về mặt kinh tế, về công nghiệp và đặc biệt mong muốn xã hội dân chủ văn minh.”

Trách nhiệm của doanh nghiệp và người tiêu dùng

Nếu như nhà nước chịu trách nhiệm về tình trạng lệ thuộc hàng hóa Trung Quốc về mặt chính sách chiến lược, thì cộng đồng doanh nghiệp và cả người tiêu dùng cũng góp phần ràng buộc với hàng hóa Trung Quốc. Chuyên gia Bùi Kiến Thành cho rằng doanh nghiệp Việt Nam chạỵ theo thiết bị máy móc và nguyên liệu giá rẻ của Trung Quốc trong khi chính sách của nhà nước thì không rõ ràng. Theo lời ông Việt Nam đang biến thành bãi rác của công nghệ Trung Quốc, doanh nghiệp Việt Nam và nhà nước cũng nên ngồi lại suy nghĩ bàn tính như thế nào để bớt lệ thuộc hàng hóa của Trung Quốc. Ông Bùi Kiến Thành tiếp lời:

   Người VN dùng hàng VN nhưng chỉ nói không thì không được. Phải làm sao trong nước có được hàng chất lương tốt giá cả cạnh tranh được với TQ.
– Ô. Bùi Kiến Thành   

“Chúng ta không bài ngoại nhưng phải suy nghĩ xem làm như thế nào để Việt Nam có thể có những nguồn nguyên liệu khác, hay những nguồn hàng khác. Việc này cũng chưa thấy thể hiện qua một chính sách nào quyết liệt. Còn đối với dân chúng Việt Nam hàng Trung Quốc giá rẻ dù có độc hại tràn lan từ thành thị tới thôn quê. Người Việt Nam dùng hàng Việt Nam nhưng chỉ nói không thì không được. Phải làm sao trong nước có được hàng chất lương tốt giá cả cạnh tranh được với Trung Quốc. Không tổ chức được việc này mà chỉ tuyên truyền không. Trong khi người dân cầm một số tiền đi ra chợ người ta đâu có nghĩ mua hàng đắt hơn vì đó là hàng Việt Nam đâu. Nên có một phương án để làm rõ việc giao doanh nghiệp Việt Nam có khả năng sản xuất những mặt hàng nào Việt Nam cần dùng, hiện nay chưa làm được việc ấy.”

Báo chí Việt Nam trích các số liệu từ Bộ Công Thương cho biết, 8 tháng của năm 2014 Việt Nam xuất khẩu qua Trung Quốc hàng hóa trị giá 9,79 tỷ USD trong khi nhập khẩu ngược lại từ nước này tới 27,09 tỷ USD. Khuynh hướng thương mại này có khả năng tiếp diễn đến hết năm 2014. Được biết Việt Nam bán qua Trung Quốc gạo và trái cây, thủy sản, khoáng sản thô với giá rẻ và nhập lại các sản phẩm chế biến và máy móc thiết bị, nguyên liệu phụ liệu dệt may da giày.

TS Lê Đăng Doanh nguyên Viện trưởng Viện Quản lý Kinh tế Trung ương được báo Đất Việt và Dân Trí trích lời nói rằng, thực tế thương mại của Việt Nam với Trung Quốc tiềm ẩn rủi ro. Việt Nam phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc, nếu Trung Quốc sử dụng vụ thế là người xuất cũng như người nhập lớn thì kinh tế Việt Nam sẽ thiệt thòi.

Cũng trên hai tờ Đất Việt và Dân Trí GSTS Đặng Đình Đào, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế và Phát triển Đại học Kinh tế Quốc dân, đặt vấn đề về sự tỉnh táo và sự chuẩn bị để định hướng lại thị trường xuất nhập khẩu và thương mại của Việt Nam. Điều quan trọng theo chuyên gia này là không để hàng hóa Việt Nam bị lệ thuộc vào thị trường của Một nước. GSTS Đặng Đình Đào nhấn mạnh rằng, quan hệ Việt Nam-Trung Quốc trên biển Đông hiện vẫn đang căng thẳng, cách đối xử của Trung Quốc rất ngang ngược.

Những băn khoăn của GSTS Đặng Đình Đào, TS Lê Đăng Doanh và giới trí thức chuyên gia Việt Nam vẫn cứ là một một vấn đề chưa có lời giải đáp rõ ràng từ người chỉ đạo toàn diện là Đảng Cộng sản Việt Nam.

Facebooker Ngân An: Đây là bức ảnh trong bài “Các đơn vị biên phòng Trung Quốc chúc mừng Ngày Quốc khánh Việt Nam”, ý nói là bọn Trung Quốc đã sang chúc mừng Đồn BP Cửa khẩu Trà Lĩnh.

Nhưng theo phân tích của 1 số facebooker thì đây là ảnh chụp bên đất Tầu (nếu chụp bên ta thì sẽ ko có chữ Tầu) và theo thông lệ thì khách đi bắt tay chủ nhà. Do vậy, ngày quốc khánh mà ta phải sang chào nó, nhưng để che đi nỗi nhục thì đĩ bút lại viết là nó sang ta: – Các đơn vị biên phòng Trung Quốc chúc mừng Ngày Quốc khánh Việt Nam (Báo CB).

Việt Nam vẫn nhập cây tăm, sợi chỉ từ Trung Quốc

Hà Anh (baodatviet.vn) – Những mặt hàng trong nước sản xuất được như cây tăm, sợi chỉ, cục xí muội… Việt Nam đã nhập từ Trung Quốc nhiều năm nay, số lượng ngày càng tăng.

Nhập từ cây tăm, sợi chỉ

Báo cáo của Tổng cục Thống kê và Bộ Công thương cho thấy kim ngạch xuất khẩu cả nước 8 tháng đầu năm đạt 97 tỷ USD. Trong đó, xuất khẩu sang Trung Quốc đạt 9,8 tỷ USD, tăng 15,2% so với cùng kỳ năm trước. Ngược lại, trong tổng số 93,3 tỷ USD kim ngạch nhập khẩu hàng hóa, có đến 27,6 tỷ USD các doanh nghiệp phải nhập từ thị trường Trung Quốc.

Theo đó, với nhu cầu tiêu dùng thường tăng trong những tháng cuối năm sẽ đẩy con số nhập khẩu hàng hóa từ Trung Quốc về Việt Nam có thể chạm mốc 40 tỷ USD trong năm nay.

Hiện Việt Nam nhập khẩu hàng hóa, nguyên phụ liệu, vải các loại, xơ sợi dệt các loại, nguyên phụ liệu dệt may da giày, máy móc thiết bị và dụng cụ phụ tùng, chất dẻo nguyên liệu và sản phẩm từ chất dẻo, thức ăn gia súc và nguyên liệu…

Thậm chí dù là nước xuất khẩu tre và các sản phẩm từ tre rất lớn, nhưng hàng năm Việt Nam vẫn phải nhập khẩu các mặt hàng được sản xuất từ nguyên liệu này. Cùng với đó là một lượng lớn tăm, đũa từ Trung Quốc lên đến hàng nghìn tấn thẩm lậu vào nội địa mà không được kiểm soát.

Tăm tre Trung Quốc đội lốt doanh nghiệp Việt tràn lan trên thị trường Việt Nam
Tăm tre Trung Quốc đội lốt doanh nghiệp Việt
tràn lan trên thị trường Việt Nam

Về vấn đề này, ông Trần Văn Tuyến, chủ cơ sở sản xuất tăm tre xã Quảng Phú Cầu, Ứng Hòa, Hà Nội từng cho biết trên VTV rằng, vấn đề không phải làm tăm, đũa khó, mà cái khó là tìm được thị trường tiêu thụ cho sản phẩm. Không cạnh tranh được về giá cả, mẫu mã của Trung Quốc, nhiều làng nghề tăm tre truyền thống chấp nhận bỏ thị trường mà lẽ ra đó phải là thế mạnh.

Ngay như chợ Đồng Xuân (Hà Nội), chợ đầu mối cung cấp hàng hóa cho các chợ miền bắc và một số tỉnh miền trung có thời điểm hàng Trung Quốc chiếm tới 90%, tiểu thương tại chợ đã từng lên tiếng chê doanh nghiệp Việt Nam thua kém doanh nghiệp Trung Quốc khi không thể sản xuất cái kim, cuộn chỉ, sản xuất các sản phẩm hoa quả khô trong khi nguồn nguyên liệu dồi dào… Đồng thời cũng không biết cách tiếp thị, phân phối, làm khó tiểu thương.

“Doanh nghiệp Trung Quốc có cách tiếp thị rất tốt, các vị nên học Trung Quốc vì họ tiếp thị từ giám đốc, cho đến lãnh đạo đến tận nơi, xem tận mắt, thuê hẳn chỗ kinh doanh tiếp thị hàng. Người mua chỉ cần mua 2- 3 đôi người ta cũng bán nhưng doanh nghiệp trong nước lại bắt chúng tôi nếu phải mua vài trăm đôi trong khi quầy hàng có hơn 2m2 nên chúng tôi không thể nhập hàng. Cái này là kém người ta”, bà Nguyễn Thị Dung- tổ trưởng tổ buôn bán giày dép tại chợ Đồng Xuân từng nói.

Lời giải bài toán giảm phụ thuộc?

Vấn đề kinh tế Việt Nam phụ thuộc kinh tế Trung Quốc đã được đặt ra mạnh mẽ và quyết liệt vào thời điểm Trung Quốc đặt giàn khoan Hải Dương 981 vào vùng biển Việt Nam. Ông Vũ Viết Ngoạn – Chủ tịch Uỷ ban giám sát tài chính Quốc gia từng cảnh báo: “Nhập khẩu những nguyên liệu, máy móc là đầu vào cho quá trình sản xuất còn chấp nhận được. Nhưng nhập cả que tăm, đôi đũa… cùng rất nhiều hàng hoá mà Việt Nam đã sản xuất tốt thì không ổn”.

Nhập siêu từ Trung Quốc so với tổng nhập siêu từ tất cả các quốc gia giai đoạn 2000 - 2013. Đơn vị: tỷ USD. Nguồn: Tổng cục Hải quan
Nhập siêu từ Trung Quốc so với tổng nhập siêu từ các nguồn khác giai đoạn 2000 – 2013.
Đơn vị: tỷ USD. Nguồn: Tổng cục Hải quan

Ông Vũ Viết Ngoạn nhận xét, ngay cả với nguyên vật liệu đầu vào, các doanh nghiệp Việt cũng nên cân nhắc tìm nguồn khác ngoài Trung Quốc để đa dạng hoá, tránh rủi ro.

Nêu quan điểm về vấn đề này, trên tờ TBKTSG, TS Phạm Sỹ Thành- Giám đốc Chương trình Nghiên cứu kinh tế Trung Quốc thuộc Trung tâm Nghiên cứu kinh tế và chính sách (VEPR) từng cho biết, Việt Nam chưa nhận được những ích lợi từ thương mại giống như những gì mà Malaysia, Thái Lan, Philippines hay Singapore nhận được từ Trung Quốc, vì vậy, cần cải thiện chất lượng thương mại với Trung Quốc.

“Vấn đề thực sự của nhập siêu với Trung Quốc là nhập khẩu từ nước này đang trực tiếp phục vụ cho hoạt động sản xuất thường ngày (bao hàm cả ý nghĩa cung cấp công nghệ) của các doanh nghiệp nằm trong lãnh thổ Việt Nam. Chỉ 20% kim ngạch nhập khẩu là hàng tiêu dùng. Điều này tác động lâu dài đến khả năng nâng cấp công nghệ của doanh nghiệp bản địa.

Có khả năng Việt Nam rơi vào hiệu ứng giải công nghiệp hóa sớm khi chỉ xuất khẩu được sang Trung Quốc các hàng hóa dựa vào tài nguyên và nhập khẩu hàng công nghiệp chế tạo thành phẩm. Về lâu dài, sẽ làm suy giảm năng suất của Việt Nam dẫn đến suy giảm tăng trưởng kinh tế trong dài hạn”, TS Phạm Sỹ Thành nói.

Kinh tế Việt Nam khó thoát lệ thuộc Trung Quốc

(NV) – Bảy tháng đầu năm nay, Trung Quốc tiếp tục là bạn hàng lớn của Việt Nam trong lĩnh vực xuất-nhập cảng các loại hàng hóa, máy móc, nguyên liệu, nông sản…

Phúc trình của Tổng Cục Hải Quan Việt Nam được Tân Hoa Xã của Trung Quốc trích dẫn cho hay, trong thời gian trên, Việt Nam đã nhập cảng của Trung Quốc một số máy móc, thiết bị, nguyên liệu, vật tư… trị giá đến 3.6 tỉ đô la, tăng 25.8% so với cùng giai đoạn của năm trước.


Du khách Trung Quốc đến Việt Nam tiếp tục tăng vọt. (Hình: báo Một Thế Giới)

Ngược lại, Trung Quốc đứng đầu danh sách các quốc gia trên thế giới nhập cảng các loại nông sản, trái cây, rau củ… của Việt Nam.

Vẫn theo Tân Hoa Xã, sản lượng khoai mì của Việt Nam bán sang Trung Quốc chiếm 85% kim ngạch xuất cảng trong 7 tháng đầu năm nay.

Cũng trong thời gian này, Việt Nam xuất cảng sang Trung Quốc trên 182,000 tấn cao su, trị giá hơn 320 triệu Mỹ kim, tăng 40% về giá trị, mặc dù giảm khoảng 21% về khối lượng. Trung Quốc cũng là quốc gia mua gạo của Việt Nam nhiều nhất thế giới, chiếm tới 36% sản lượng gạo Việt Nam xuất cảng.

Dư luận cho rằng, nếu chẳng may các công ty Trung Quốc nói “không” với nhà kinh doanh Việt Nam thì lập tức hàng hóa Việt Nam “dội chợ” tràn lan. Một trong những thí dụ thực tế cho thấy mới đây, trái thanh long Việt Nam đổ đống trên lề đường, bán với giá rẻ mạt chỉ vì không xuất cảng sang Trung Quốc được.

Những con số thống kê kể trên khiến dư luận lo ngại rằng, Việt Nam tiếp tục bị lệ thuộc Trung Quốc về kinh tế. Truyền thông hải ngoại cho rằng, mọi nỗ lực của chính quyền Việt Nam nhằm thực hiện kế hoạch “xúc tiến thương mại để hạn chế nhập cảng hàng hóa từ Trung Quốc” bị gãy đổ hoàn toàn.

Báo mạng VNMedia dẫn lời ông Ðỗ Thắng Hải, thứ trưởng Bộ Công Thương Việt Nam trước đó từng hô hào “đẩy mạnh cuộc vận động người Việt Nam dùng hàng Việt Nam,” đồng thời với việc tẩy chay hàng Trung Quốc chứa nhiều chất độc, lại không bảo đảm phẩm chất. Cũng như mới đây, rất nhiều cuộc vận động thực hiện chính sách “thoát Trung” được các giới chức Việt Nam xúc tiến, từ việc đàm phán hiệp định với Liên Minh Thuế Quan các nước Ðông Âu, với Nga, Liên Âu, Nam Hàn…

Người ta còn thấy được sự cố gắng hết mức của nhà nước Việt Nam khi tìm cách gia nhập Hiệp định Ðối tác xuyên Thái Bình Dương tức là TPP, nhằm mục đích thoát khỏi sự lệ thuộc Trung Quốc riêng trong lĩnh vực kinh tế.

Một trong những chính sách có thể được Việt Nam áp dụng trong thời gian tới là miễn thị thực chiếu khán nhập cảnh cho một loạt 9 quốc gia trên thế giới, trong đó có Ấn Ðộ. Theo Tổng Cục Du Lịch Việt Nam, Ấn Ðộ là quốc gia đông nhất-nhì thế giới, có thể thay chân Trung Quốc, đứng đầu các quốc gia có số du khách đến Việt Nam. Tuy nhiên, trớ trêu là bảy tháng đầu năm 2014, khách Trung Quốc đến Việt Nam lên tới 1.2 triệu người, chiếm 26% tổng số du khách ngoại quốc đến Việt Nam, coi như tiếp tục đứng đầu bảng.

Con đường “thoát Trung” của người Việt Nam trong nước, xem ra hãy còn nhiều chông chênh, thử thách.

Vì sao Trung Quốc dễ trúng thầu ở Việt Nam?

(cafebiz.vn) “Trước hết do ta thôi. Ta cứ nói Trung Quốc tìm mọi cách ký để hạ giá xuống. Công nghệ của ông thấp, thì Trung Quốc thấy có khe hở thì họ thừa cơ đẩy lên.”

Vì sao Trung Quốc dễ trúng thầu ở Việt Nam? Chúng tôi đã có cuộc trao đổi với Tiến sĩ Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam.

Việc 2 nhà thầu Trung Quốc vừa qua tự dưng bỏ không thi công tiếp dự án thủy điện 220MW Thượng Kon Tum dấy lên mối lo ngại lớn vì đây chỉ là một trong nhiều dự án, công trình trong các ngành công nghiệp: điện lực, cơ khí, hóa chất…sử dụng công nghệ Trung Quốc. Tại sao ta vẫn “mở cửa” nhập thiết bị, dây chuyền lạc hậu, về lâu dài sẽ để lại hệ lụy gì?

In Trung Quốc, by Trung Quốc

Theo ông, việc sử dụng công nghệ Trung Quốc hiện nay tại Việt Nam diễn ra thế nào?

Phải phân biệt giữa công nghệ nhập từ Trung Quốc và công nghệ made in Trung Quốc.

Trung Quốc cũng có những công nghệ hiện đại, các nước khác họ cũng dùng. Nhưng ở đây có câu chuyện là Việt Nam lại nhập toàn thứ chất lượng thấp, cũ kỹ lạc hậu. Như nhà máy ở Vũng Áng (Hà Tĩnh) vẫn tuyển chuyên gia Trung Quốc luyện thép. Mấy chục năm nay, chỉ có Trung Quốc luyện thép chứ chẳng có nước nào làm cả.

Trung Quốc là đại công xưởng của thế giới, đa số các sản phẩm, kể cả thiết bị, máy móc…đều từ Trung Quốc, người ta đổ vào Trung Quốc làm, đó là “in Trung Quốc chứ không phải by Trung Quốc”.

Trung Quốc còn khuyến khích VN mua với giá rẻ. Nên mới có các hội chứng từ xưa: hội chứng xi măng lò đứng, hội chứng mía đường, hội chứng nhiệt điện…

Trước đây, có phòng trào toàn dân khuân hàng hóa Trung Quốc rẻ tiền, có thể kê khống hóa đơn, nhưng rẻ tiền, cũ nát, bất chấp việc sẽ gây ra hậu quả gì. Cho nên đạm Ninh Bình vẫn là hệ quả của chuỗi xi măng lò đứng Ninh Bình ngày xưa. Mía đường có chương trình 1 triệu tấn, tỉnh nào cũng có, đều sang Trung Quốc mua. Đây là khuynh hướng lựa chọn để nhập khẩu công nghệ do chính ta chọn.

Vì sao các nhà thầu phía họ có thể dễ dàng trúng thầu hầu hết các công trình, dự án lớn ở Việt Nam như vậy, mà chỉ với cách thức: bỏ thầu giá thấp rồi lại xin điều chỉnh vốn trong quá trình thi công?

Trước hết do ta thôi. Ta cứ nói Trung Quốc tìm mọi cách ký để hạ giá xuống. Công nghệ của ông thấp, thì Trung Quốc thấy có khe hở thì họ thừa cơ đẩy lên. Rủi ro ở đây là chìa khóa trao tay.

Không có gì bảo đảm là những công trình đó hoàn thành sau 2 năm bảo hành nó lại chạy tốt được. Người Nhật từng khuyến cáo ta cách thức đấu thầu mới tránh tình trạng chìa khóa trao tay sau 2 năm, rủi ro chưa biết thế nào. Tôi nghe có những nhà máy sau bảo hành 2 năm, chết luôn không làm thế nào được vì hết bảo hành.

Nhìn một cách khách quan thì không chỉ Trung Quốc, với đối tác khác cũng thế thôi. Cơ chế của mình quá sơ hở, với cơ chế như thế, ai cũng tận dụng cả. Một số trường hợp của người Nhật họ tự trọng lắm: họ có thể khắt khe nhưng họ tự trọng với cam kết, hứa chuyển giao công nghệ là sẽ chuyển giao.

Kẻ chậm chân = kẻ bị loại

Hậu quả kinh tế lâu dài sẽ là gì?

Hễ có sơ hở là bị lợi dụng ngay. Về lâu dài, nó làm cho quá trình đi lên hiện đại của ta đắt hơn rất nhiều về thời gian, chứ không phải chỉ đắt về tiền. Dự án đường sắt Hà Nội- Hà Đông chậm 3 năm, giả dụ ta coi đó là một trục chiến lược của Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa, sẽ chậm đi vài năm. Nghĩa là trong khi họ vượt lên còn ta lùi lại.

Đây là một thủ đoạn cạnh tranh về thị trường, làm cho đối phương thua thiệt về thời gian.

Cái đắt đó chưa ai nói, đắt vài trăm triệu USD đã đáng nói rồi nhưng đắt về thời gian, về chậm cơ hội phát triển thì khó lường.

Mà hiện nay, hễ ông đã chậm, là ông bị loại ra khỏi cuộc chơi. Các nhà máy điện chậm, đường Hà Nội-Hải Phòng chậm, đã làm chậm cả quá trình CNH. Ta tuyên bố CNH, thu hút đầu tư mà không có điện thì hình ảnh Việt Nam xấu đi. Sự chậm trễ về công nghệ để lại hậu quả ghê gớm về phát triển.

Khó trách doanh nghiệp không phân biệt giữa ý đồ và hậu quả sự việc, nhưng phải nói thẳng là ý thức sử dụng công nghệ để cạnh tranh của doanh nghiệp Việt là kém. Doanh nghiệp Việt Nam chỉ lựa chọn những thứ rẻ tiền, mau hỏng. Vấn đề này liên quan đến môi trường khuyến khích: một chính sách tỷ giá chỉ khuyến khích nhập khẩu không khuyến khích sản xuất cũng sẽ không khuyến khích nhập khẩu công nghệ tốt .

Trong nhiều năm, tỷ giá ổn định, lạm phát cao, lại dẫn đến điều dở là khuyến khích nhập khẩu chứ không khuyến khích sản xuất trong nước, không khuyến khích cạnh tranh, nhập khẩu công nghệ.

Do đó, vai trò nhà nước ở đây phải là, thay đổi cách tiếp cận ngắn hạn, không theo kiểu cạnh tranh chụp giật. Từ đó, định hướng về công nghệ phải thay đổi.

Từ 2012, Chính phủ Trung Quốc đã công bố danh sách hàng ngàn nhà máy, dây chuyền lạc hậu phải loại bỏ; và một trong những đường đi nhằm giải quyết số dây chuyền, công nghệ lạc hậu đó là thị trường Việt Nam?

Họ không muốn mất cả và cố gắng đẩy ra ngoài, di chuyển công nghệ lạc hậu sang các nước khác. Thậm chí còn tài trợ nữa thì rất nguy hiểm mà với những nước nghèo thì rất dễ xiêu lòng.

Vấn đề là doanh nghiệp Việt Nam phải có ý thức được lợi ích dài hạn và phát triển. Thời đại kiếm chác theo kiểu khuân hàng biên giới về kiếm tiền chộp giật đã qua rồi. Kiếm tiền phải đi vào chiều sâu, công nghệ , hiệu quả chứ không còn phải là chộp và chạy . Doanh nhân có ý thức dân tộc mới tránh được chuyện ấy như Nhật Bản, Hàn Quốc, doanh nghiệp của họ rất có ý thức dân tộc trong lựa chọn. Ta không ý thức được như vậy.

Vấn đề là Nhà nước đảm bảo một môi trường kinh doanh thế nào để doanh nghiệp có lựa chọn đúng đắn, cạnh tranh minh bạch, khuyến khích doanh nghiệp đi mua cái tốt về, phục vụ dài hạn, biến dài hạn thành cơ hội, ngắn hạn: ăn đấy nhưng rủi ro, có tính chất sống còn.

Chính phủ cần có những tín hiệu, để doanh nghiệp nhận biết hậu quả của việc nhập khẩu, duy trì đẳng cấp công nghệ lạc hậu quá lâu, gây ô nhiễm môi trường khủng khiếp. Chính phủ đưa ra chính sách bảo vệ môi trường, giám sát chặt chẽ hơn thì tự nhiên các ông đó không còn đất sống. Những cái đó là kiên trì và cần nỗ lực thường xuyên liên tục, nhất quán, không thể ăn xổi được, không có phép màu ở đây cả.

[:-/] Đừng bỏ dở cuộc vận động thoát Trung (RFA) – Phong trào vận động thoát Trung, bớt lệ thuộc về kinh tế với Trung Quốc được làm nóng sau vụ giàn khoan Hải Dương 981, nay có vẻ đang trầm lắng. Phải chăng ảnh hưởng chính trị với Bắc Kinh đang chi phối vấn đề này và làm cho cuộc vận động của giới nhân sĩ trí thức trở nên vô nghĩa. Nam Nguyên tìm hiểu vấn đề này.

Cuộc khủng hoảng giàn khoan Hải Dương 981 và thái độ gây hấn trịch thượng của Trung Quốc với Việt Nam đã làm cho người Việt Nam sực tỉnh và có thêm một cơ hội để đặt vấn đề thoát khỏi ảnh hưởng Trung Quốc, bớt lệ thuộc Trung Quốc về kinh tế.

Khi chủ đề thoát Trung lan đến Quốc hội, Nhà nước Việt Nam trong chừng mực đã để cho giới học giả nhân sĩ trí thức tổ chức các cuộc hội thảo, tọa đàm với chủ đề thoát Trung, ít ra là trên lĩnh vực kinh tế và văn hóa, báo chí cũng được đưa tin khá thoái mái về chủ đề này. Tuy vậy sau khi Trung Quốc rút giàn khoan Hải Dương 981 sớm hơn dự định, việc Việt Nam tự nhận lỗi về các cuộc biểu tình bạo động chống doanh nghiệp Trung Quốc và sau chuyến đi cầu hòa Bắc Kinh của ông Lê Hồng Anh, nhân vật đứng hàng thứ 5 trong Bộ Chính trị, Đặc phái viên của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, thì dư luận cho là nỗ lực vận động thoát Trung đã trở nên vô nghĩa?

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.