“Nước ta dồi dào tài nguyên, khoáng sản”: Dân trắng tay!

Posted: October 13, 2014 in Uncategorized
Tags:

Liên Sơn (VNTB) – “Nước Việt Nam rất giàu và đẹp, có rừng vàng, biển bạc, đất đai phì nhiêu”, câu nói vỡ lòng đầy tự hào trong bài học đầu đời của thế hệ học sinh một thời nay trở thành một câu nói châm biếm cho tệ đào, xới, bới, chặt tài nguyên đem bán của những cá nhân, nhóm người lợi ích.

Xem thêm: Ngư dân và chương trình đóng tàu vỏ thép.

cOc60pGRyag/s1600/unnamed.pngẢnh vệ tinh đất nước Việt Nam, do Nasa chụp, cho thấy rừng Tây Nguyên đã biến mất!

“Quyết tâm chính trị” và Tây Nguyên hoang tàn

Mới đây, trên báo Dân Trí có dẫn tin về một quốc đảo trù phú, thu nhập bình quân đầu người cao nhất thế giới, từng dùng tờ USD để làm giấy vệ sinh, đó quốc đảo Nauru, và sự giàu có ấy đều nhờ vào ra trữ lượng phân chim hóa thạch khổng lồ, được tích thụ qua hơn 1.000 năm tại quốc đảo này.

Gần 20 năm đào tài nguyên tiêu hoang, thu nhập ngân sách phụ thuộc hoàn toàn vào “phân chim” đã khiến quốc gia này trả giá khi nguồn phốt-phát cạn kiệt từ năm 1980. Hòn đảo trở thành bãi phế thải, môi trường cảnh quan bị phá hủy hoàn toàn do các hoạt động khai thác trước đó. Nauru giờ đây sống bằng tiền cho Úc thuê đất.

Những viễn cảnh này của Nauru hiện hữu rõ ở Tây Nguyên, nơi mà rừng được khai thác cạn kiệt để phục vụ những con đường làm giàu ngắn của các đại gia người Việt như Đoàn Nguyên Đức. Theo số liệu thống kê do Cục Lâm nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn – NN&PTNT) công bố năm 2013, trong 5 năm (2007-2013), 5 tỉnh Tây Nguyên gồm Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng đã mất đi hơn 129.600 ha rừng, trong đó rừng tự nhiên mất hơn 107.400 ha, rừng trồng mất trên 22.200 ha. Trung bình mỗi năm, khu vực này bị mất hơn 25.700 ha rừng. Nguyên nhân là do các doanh nghiệp lợi dụng trồng cao su, dự án thủy điện để phá rừng. Trong khi đó, việc thực hiện Chỉ thị số 1685/CT-TTg, chỉ giúp các tỉnh Tây Nguyên thu hồi và đình chỉ 9.300 ha rừng.

Tây Nguyên cũng là nơi có một dự án khai thác khoáng sản độc nhất vô nhị trên thế giới, khi mà hiệu quả kinh doanh vẫn “lỗ theo kế hoạch” như lời các vị quan chức từng khẳng định. Nơi đây, vào sáng 08/10, hồ thải quặng đuôi số 5, nơi chứa bùn và nước sau khi lắng rửa quặng bô xít tại Xí nghiệp mỏ tuyển bô xít Tân Rai đã tràn ra đường. Lời cảnh báo về thảm họa túi bùn đỏ (ví như trái bom sinh thái tiềm ẩn) có từ năm 2007, ngay khi có với quyết định 167 của ông thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Thậm chí một nhóm trí thức đã lập ra blog boxitvn với đầy đủ luận cứ để cảnh báo nhưng sớm bị “quyết tâm chính trị” bỏ qua.

Tây Nguyên trở thành bằng chứng điển hình về lối tư duy ăn xổi và sự bắt tay giữa các quan chức với cá nhân nhằm trục lợi bất chính núp dưới chiêu bài “vì sự phát triển kinh tế” ở Việt Nam.

Sự bắt tay đó phản ảnh một mâu thuẫn kỳ lạ, diễn ra ở bất kỳ địa phương nào có mỏ khoáng sản, tài nguyên thiên nhiên, khi mà chi phí, lợi ích và tác hại của việc khai thác, bán tài nguyên không hề được tính toán một cách đầy đủ. Đó cũng là lý do vì sao xuất hiện những trường hợp giàu nhanh ở Việt Nam mà nơi phát tích sự giàu ấy thường rơi vào trường hợp: môi trường bị phá hoại, mất đất canh tác, xói mòn, sa mạc hóa, ong hóa, lũ lụt…

Nói cách khác, nếu ở quốc đảo Nauru đào tài nguyên, người dân còn được hưởng lợi trong gần 20 năm, thì ở Việt Nam ngược lại, tài nguyên phục vụ cho sự giàu nhanh của một số nhóm người trong và ngoài nhà nước, như quan hệ chặt chẽ giữa “kiểm lâm với lâm tặc”.

Hết tất cả!

Nhiều người khi nhìn lại đất nước sau gần 40 năm thống nhất, thoảng thốt: khi chúng ta hết quặng, không còn than, cạn dầu khí, Việt Nam sẽ phát triển bằng gì? Nhất là khi thông tin về mỏ than Quảng Ninh sắp hết; dầu khí đang giảm dần từ 20 xuống 18 rồi 17 triệu tấn/năm và kết quả là vào năm 2015 trở đi, Việt Nam sẽ nhập dầu thô và than; rừng khu vực Tây Nguyên và Tây Bắc gần như bị phá sạch, nạn phá rừng hợp pháp đang lan sang Lào, Campuchia…

Một ông chuyên gia phán chắc nịch, chúng ta sẽ “in tiền”, nhưng tiền với mức độ mất giá như hiện nay thì liệu có rơi vào tình trạng như Zimbabwe, nơi mất hơn 100 tỷ đô la (tiền nước này) để mua 1 ổ bánh mỳ?

Điều gì đã khiến cho một đất nước mà tài nguyên dồi dào, con người cần cù, dân số vàng, tiến sĩ nhiều như giấy in (24.000 tiến sĩ) vẫn mãi lẹt đẹt về kinh tế ở mức 42, và hoàn toàn vắng bóng trên bản đồ công nghệ châu lục?

Điều gì dẫn đến việc, rất nhiều doanh nghiệp đã bán giấy phép khai thác khoáng sản được cấp cho Trung Quốc, trong đó, riêng “ở phía Bắc có đến hơn 60% mỏ”, theo lời chia sẻ của ông Nguyễn Văn Thuấn – Tổng cục trưởng Tổng cục Địa chất và khoáng sản (Bộ TNMT) trong buổi đối thoại doanh nghiệp đầu năm nay (2014)?

Đó chẳng phải là vì các lãnh đạo tài tình của ta đã sáng suốt bán tài nguyên thô, áp dụng tư duy nhiệm kỳ, tư duy ngắn hạn chỉ chờ dịp bán tháo đất nước cho bạn láng giềng đó sao? Tư duy đó giống đường cao tốc Nội Bài–Lào Cai với tổng giá trị dự án 1,46 tỷ USD sau hai ngày thông xe đã xuất hiện vết nứt.

Điều đó cho thấy sự yếu kém trong khả năng quản trị quốc gia của cá nhân, tổ chức lãnh đạo, dẫn đến nguồn lực đất nước bị suy giảm nghiêm trọng, làm gia tăng sự lạc hậu, làm nên sự phát triển không theo chiều sâu. Chính vì vậy, nền kinh tế Việt Nam sau bao nhiêu năm phấn đấu với quyết tâm chính trị cao, về cơ bản vẫn là kinh tế gia công, bán tài nguyên, nhập công nghệ mà phần lớn là công nghệ cũ từ nước ngoài, chưa phát huy được năng lực khoa học, công nghệ của quốc gia trên tiềm năng về nguồn nhân lực, tài nguyên, vị trí địa lý. Dẫn đến sự xuất hiện độ lùi về thời điểm công nghiệp hóa sau năm 2020, công nghệ luyện kim phục vụ cho nội địa hóa ô-tô cứ mãi trầy trật, công nghệ hút dầu vẫn đang nhờ vả vào các quốc gia bên ngoài, dịch vụ vẫn thói quen chộp giựt, nhất là trong du lịch.

Đặc biệt, nguồn nhân lực và sự phát triển bền vững trên nền tảng dịch vụ, công nghệ để tiến tới nền kinh tế tri thức, vốn được nhắc nhiều trong các văn kiện đại hội Đảng lại hoàn toàn không được chú trọng. Dẫn đến chỉ số kinh tế tri thức KEI (vốn được dùng để đánh giá sự chuẩn bị của một đất nước đủ điều kiện chuyển sang nền kinh tế tri thức) do World Bank công bố năm 2012, Việt Nam xếp thứ 104/146 nước và vùng lãnh thổ, thuộc nhóm trung bình thấp (KEI 2-4).

Việt Nam trở thành một quốc gia đi làm thuê đúng nghĩa thông qua việc gia công cho các tập đoàn nước ngoài (không được chuyển giao công nghệ), xuất khẩu lao động và… cho thuê đất. Vấn đề nhập siêu, thâm hụt ngân sách và nguy cơ vỡ nợ đang trong tình trạng sẵn sàng.

Năm 2012, trong lần trả lời phỏng vấn Vietnamnet, chuyên gia kinh tế Bùi Văn khẳng định: Thế hệ chúng tôi đã hút gần hết dầu, đã đào gần hết than, đã dùng lưới cào và thuốc nổ khai thác hết cá ở biển, từng đi chặt rừng để bán sang Nhật. Như vậy, cái chúng tôi để lại cho thế hệ sau là gì? Là hết than, hết dầu, hết cá, hết rừng nhưng tôi rất tự hào về cái đó. Bởi vì chúng tôi để lại cho thế hệ trẻ một con đường duy nhất là phải học, là không còn dựa vào tài nguyên thiên nhiên nữa. Đó là điều mà tôi tự hào để lại cho thế hệ sau.

Sự “tự hào” cay đắng? Có lẽ vậy, khi mà một thế hệ đã bán tháo tài nguyên, bỏ tiền vào túi riêng, bỏ qua tương lai thế hệ, và không có dấu hiệu ngừng lại.

Có nên tiếp tục giao phó?

Điều 53 trong Hiến pháp 2013: “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”.

Sự giao phó tài sản quốc gia cho một Nhà nước quản lý, nhưng bao năm qua hoàn toàn không hiệu quả. Vậy liệu có nên tiếp tục được giao phó nữa hay không?

Trong khi đó, thông tin về việc phát hiện mỏ dầu khí mới ngoài khơi Việt Nam, hay mỏ khoáng sản trên đất liền không làm cho người dân vui mừng, bởi họ biết sự phát hiện đó phục vụ cho ai. Và họ biết chắc rằng, cứ đà này, thế hệ sau sẽ không còn cái gì nữa, ngoài mớ chữ nghĩa tổng kết: Tài nguyên quốc gia đã sử dụng phung phí trong giai đoạn… và nay đã cạn kiệt.

Ngư dân và chương trình đóng tàu vỏ thép

Gia Minh (RFA)Chính phủ Việt Nam trong thời gian qua cho biết sẽ hổ trợ ngư dân đóng tàu mới kiên cố hơn như tàu vỏ thép nhằm có thể chống lại tàu Trung Quốc tấn công đâm vào khi đi đánh bắt tại khu vực Biển Đông thuộc chủ quyền của Việt Nam.


.

ngu-dan-tau-sat-danang-vn.jpg/imageMột trong những loại tàu đánh cá vỏ thép. Tàu vỏ thép nhãn hiệu SANG FISH 01 của ngư dân Lê Văn Sang và anh rể sắp sửa ra khơi. Photo Ngoc Phu/baodanang.vn

Quyết định của chính phủ

Vào ngày 25 tháng 8 vừa qua, Nghị định 67 do chính phủ ký ban hành hồi tháng 7 vừa qua bắt đầu có hiệu lực. Đây là nghị định qui định một số chính sách phát triển ngành thủy sản Việt Nam, trong đó có những ưu đãi về việc vay vốn với lãi suất thấp cho đóng mới những con tàu ra khơi đánh bắt hải sản.

Ngoài nghị định ban hành với mục đích được nói nhằm tăng cường năng lực của ngành thủy sản của một quốc gia ven  biển như vừa nêu, chính phủ Việt Nam trong tháng 7 vừa qua cũng thúc đẩy chi ra 16 ngàn tỷ đồng để hổ trợ cho ngư dân trong việc đóng tàu mới.

Mong đợi sự hỗ trợ

Trước thông tin Nhà nước hổ trợ vốn lần này mà được cho là có nhiều ưu đãi như chỉ phải trả lãi 1% năm và thời hạn vay vốn đến 11 năm, nhiều ngư dân tỏ ra phấn khởi và hy vọng chính sách sớm được thực hiện.

Ngư dân Nguyễn Văn Cường ở Quảng Bình cho biết ông mong muốn có được tàu vỏ sắt để đi biển vì có những lợi điểm hơn so với tàu gỗ và cũng đang chờ chính sách được thực hiện để triển khai việc đó:

Giờ đang có xu hướng đóng tàu sắt. Chủ trương Nhà nước cho vay và nếu được tàu sắt thì quá tốt vì khi va chạm thì an toàn hơn, đi an toàn hơn vì lớn hơn, ( nhưng ) tiền nhiều hơn.

Trong khi đó một ngư dân tại đảo Lý Sơn là anh Mai Văn Cường thì lại nói thẳng không thích tàu vỏ sắt một là do tiền đầu tư cao hơn và những ngư dân như anh thấy không quen với loại tàu đó:

Em thích tàu gỗ hơn tàu sắt vì dễ làm, ít chi phí hơn.

Tàu vỏ thép không phải là biện pháp tốt nhất

Dù thừa nhận tàu vỏ sắt có thể chống chịu tốt hơn khi xảy ra va chạm, tuy nhiên theo nhiều ngư dân thì loại tàu đó chỉ thực sự cần thiết cho các nghề như lưới vây và câu cá ngừ đại dương xa bờ dài ngày mà thôi.

Ông Trần Văn Lĩnh, chủ tịch Hội Nghề Cá thành phố Đà Nẵng, có những phân tích cụ thể về biện pháp được bàn luận nhiều hiện nay liên quan tàu vỏ sắt như sau:

    Cứ nghĩ đi chẳng lẽ có một thằng du côn, càn quấy nào ném đá vào xe hơi của anh, rồi anh phải sắm một chiếc xe tăng để chở con đi học thì vô lý quá.
– Ông Trần Văn Lĩnh    

Thật ra vỏ sắt do nhiều người ước mơ nói vậy thôi chứ Nhà nước không buộc phải đóng tàu sắt. Ngư dân nhất thiết cũng không phải đóng tàu sắt, mà họ đóng những tàu để đi đánh cá chứ không phải để đi va đâm đâu. Việc đóng tàu sắt để hiện đại nghề đánh cá hơn thôi chứ không phải để mà tránh va đâm, hay va đâm không lủng. Cứ nghĩ đi chẳng lẽ có một thằng du côn, càn quấy nào ném đá vào xe hơi của anh, rồi anh phải sắm một chiếc xe tăng để chở con đi học thì vô lý quá, phải không?

Ngư dân bảo vệ lãnh thổ, vùng biển thiêng liêng của tổ quốc bằng sự hiện diện của mình trên biển, chứ không phải bằng việc đem tính mạng, tài sản của mình ra va đâm với Trung Quốc, nên việc nói đóng tàu sắt để tránh va đâm là hoàn toàn sai. Như anh biết tàu lớn bằng gỗ phải cần những loại gỗ trong rừng nguyên sinh, mà gỗ thì mỗi ngày mỗi cạn kiệt, nên Nhà nước đề nghị đóng tàu mới bằng sắt hoặc là những vật liệu mới thôi. Để khuyến khích thì Nhà Nước cho lãi suất thấp hơn và thời gian dài hơn. Như vậy thôi, chứ không ai buộc nhân dân phải đóng tàu sắt cả.

Nhân dân được cho vay chứ có phải được cho đâu nên họ phải tính toán một cách cụ thể.

Ông này so sánh việc sử dụng tàu gỗ chuyển sang tàu sắt cũng tương tự như việc đang chơi loại đàn guitar thùng, chuyển sang chơi guitar điện. Theo ông thì không phải ai cũng có thể chuyển như thế. Để có thể điều khiển được những chiếc tàu mới bằng những chất liệu bền chắc hơn như sắt thép người điều khiển tàu cần phải được đào tạo bài bản.

Ông Trần Văn Lĩnh nói tiếp:

Tàu lớn hơn đòi hỏi những công nghệ khác từ điều khiển đến kiến thức về hàng hải, cho nên việc tàu sắt chỉ là cách nói thôi, chứ thực ra là đóng tàu mới- lớn hơn, hiện đại hơn, chứ tàu sắt không phải là mục tiêu.

Hiện nay một số ngư dân tại tỉnh Khánh Hòa hiện đang sử dụng loại tàu làm bằng composite và ngư dân thường gọi là tàu nhựa. Loại tàu này được dùng để đi đánh bắt tại khu vực quần đảo Trường Sa.

Công ty Yanmar của Nhật bản hiện đang phối hợp cùng Viện Nghiên cứu Chế tạo Tàu thủy của Trường đại học Nha Trang trong công tác thiết kế, sản xuất tàu cá vỏ composite công suất 450 CV.

Một ngư dân từng sử dụng loại tàu này ở Khánh Hòa để đi đánh bắt cá ngừ đại dương cho biết hiệu quả của tàu tốt hơn nhiều những tàu gỗ mà người này từng sử dụng trước đây.

Tuy nhiên trải nghiệm bị tàu phía Trung Quốc bị rượt đuổi, va đâm như nhiều ngư dân đánh bắt ở khu vực Vịnh Bắc bộ và vùng Hoàng Sa thì người này chưa có.

Đề xuất khác

Như phát biểu của ông Trần Văn Lĩnh, chủ tịch Hội Nghể cá thành phố Đà Nẵng thì vốn đầu tư đóng tàu vẫn là của ngư dân dù rằng có những điều kiện ưu đãi.

Vừa qua, một người dù không phải là ngư dân đó là luật sư Hà Huy Sơn tại Hà Nội đưa ra ý tưởng là Nhà nước nên có chủ trương cho ngư dân thuê tàu đánh cá.

Xuất phát từ đánh giá rằng chương trình hỗ trợ được thông báo như hiện nay vẫn chưa thể xác định được lợi ích ngay cho ngư dân như đối với hai thành phần khác là ngân hàng và doanh nghiệp đóng tàu, và để hổ trợ ngư dân một cách có hiệu quả, luật sư Hà Huy Sơn đề xuất một doanh nghiệp Nhà nước sẽ chịu trách nhiệm đứng ra ký hợp đồng cho ngư dân thuê tàu theo thời hạn và các điều kiện do hai phía thỏa thuận với nhau.

Luật sư Hà Huy Sơn cho rằng khi thuê tàu có thời hạn và tiền thuê thanh toán theo từng đợt, ngư dân sẽ không phải bỏ ra một số vốn đối ứng như khi vay tiền Nhà nước để đóng tàu. Cũng với cách thức thuê tàu như thế, ngư dân có thể tính toán được hiệu quả việc thuê tàu ngay sau các chuyến đi biển. Có lãi thì tiếp tục thuê, còn không thì thôi. Phía cho thuê cần phải có những tàu thiết kế phù hợp với yêu cẩu của ngư dân thì mới có thể thu hút được người thuê.

Một trong những điểm được luật sư Hà Huy Sơn nói đến là trách nhiệm của Nhà Nước phải giữ ngư trường thuộc chủ quyền đất nước để ngư dân đánh bắt hải sản.

Lâu nay từng có biết bao đề xuất có lợi cho dân và cho đất nước được nêu ra với Nhà nước như những kiến nghị của giới trí thức… nhưng rồi tất cả đều không được đáp ứng.

Hiện nay ngư dân được kêu gọi bám biển nhưng phương tiện cho họ thực hiện trọng trách đó vẫn chưa thể đáp ứng được yêu cầu tối thiểu.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.