Du lịch Việt Nam và thực trạng du khách “một đi không trở lại”

Posted: November 4, 2014 in Uncategorized
Tags:

Minh Phan (Dân trí) – Dù lượng khách quốc tế đến Việt Nam những năm gần đây liên tục tăng nhưng điều đáng buồn là có đến 90% lần đầu tiên tới mảnh đất hình chữ S, số du khách quay lại các điểm du lịch rất thấp, chỉ chiếm khoảng 6%.

� Xem thêm: Du lịch VN: tại sao “một đi không trở lại”? + Chén thuốc đắng.

Đó là thông tin từ Ban quản lý Chương trình phát triển năng lực lịch có trách nhiệm với môi trường và xã hội (Dự án EU), công bố kết quả khảo sát khách du lịch tại năm điểm chính: Sapa, Hạ Long, Huế, Đà Nẵng, Hội An.


Thiếu quan tâm đến suy nghĩ của du khách là một trong
các nguyên nhân khiến khách ngoảnh đầu với Việt Nam

Theo đánh giá của chương trình này, các điểm du lịch của Việt Nam hầu như chỉ thu hút khách du lịch mới đến lần đầu, rất ít khách quay lại lần thứ hai, thứ ba.

Một số doanh nghiệp cho rằng, đây là thực tế và cần phải nhìn thẳng vào sự thật. Số lượng khách quay lại chủ yếu là những người đến Việt Nam vì công việc và Việt kiều về thăm thân nhân. Một phần rất nhỏ khách quay lại từ các nước láng giềng gần.

Tương tự, khách nội địa có 39% đến thăm lần đầu, 24% đến thăm lần thứ hai và chỉ có 13% đến thăm lần thứ 3.

Những yếu kém triền miên của du lịch Việt làm cho khách không muốn trở lại được phân tích kỹ, nhưng chưa đủ để dập tắt tham vọng đuổi kịp các nước láng giềng về chỉ tiêu khách cũ quay lại.

Kết quả khảo sát cũng cho thấy Hội An và Đà Nẵng thu hút khách du lịch lưu trú lâu hơn là Sapa, Huế và Vịnh Hạ Long. Trung bình du khách ở Đà Nẵng và Hội An gần 4,5 đêm, trong khi chỉ có 1,5 đến 2,5 đêm ở Huế, Sapa và Hạ Long. Tuy nhiên, so với khách quốc tế, thời gian khách nội địa lưu trú ở Hạ Long dài hơn ở Hội An, Đà Nẵng.


Có rất ít du khách quốc tế quay trở lại Việt Nam.

Có rất nhiều ý kiến cho rằng, cần giải quyết dứt điểm nạn móc túi, cướp giật trên các tuyến đường, các khu du lịch. Điều đó ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý du khách, đặc biệt là đối với quyết định quay lại trong những lần sau của du khách. Hầu hết khách du lịch được hỏi cho rằng không muốn quay trở lại Việt Nam trong những lần du lịch sau, bởi một phần chính là những vấn nạn dẫn đến việc không hài lòng từ du khách.

Kết quả của Chương trình phát triển năng lực lịch có trách nhiệm với môi trường và xã hội (Dự án EU) cho thấy, gần một phần tư (22,8 %) khách du lịch quốc tế và một phần ba khách du lịch trong nước (31,3%) ưa thích lưu trú tại khách sạn 3 sao. Hình thức lưu trú được ưa chuộng tiếp theo là nhà dân (22,2%) và khách sạn 4 sao (13,9%). Tiếp đó, với khách du lịch trong nước là nhà nghỉ/hostel (18,9%) và khách sạn 1-2 sao (17,4%). Chỉ có 12,4% khách du lịch quốc tế và 6,1% khách du lịch nội địa lưu trú tại khách sạn hoặc khu nghỉ dưỡng 5 sao. Điều này cho thấy phân khúc thị trường Việt Nam vẫn chủ yếu ở hạng trung.

Tuy nhiên, một số ý kiến khác lại cho rằng Trong bối cảnh chưa thể nâng cấp toàn bộ dịch vụ, hạ tầng thì muốn đón du khách trở lại, du lịch Việt Nam chỉ nên tập trung đầu tư vào dòng khách sang. Bởi lẽ, dòng khách này sẽ ít bị ảnh hưởng tiêu cực từ thực trạng làm ăn chụp giật, lừa đảo trộm cắp, giao thông ách tắc, và mức độ hài lòng về Việt Nam sẽ cao hơn khách bình dân.


Khách đến Việt Nam không phải vì sự lòe loẹt.

Tuy nhiên, thực tế ở Việt Nam cơ sở vật chất du lịch cũng như chất lượng dịch vụ của chúng ta vẫn còn nhiều hạn chế. Việc đầu tư ồ ạt không bài bản, thiếu chuyên nghiệp được ví như con dao hai lưỡi đang đe dọa sự phát triển bền vững của du lịch Việt Nam. Việc nôn nóng “đổ tiền” vào khai thác di sản cũng là một nguyên nhân.

Thứ đến là thiếu quan tâm đến suy nghĩ của du khách cũng là một nguyên nhân. Dường như ở Việt Nam, các chủ đầu tư chỉ muốn đầu tư là thực hiện chứ ít quan tâm đến việc làm như thế có giữ được cảnh quan và chiếm được cảm tình du khách hay không. Trong khi đó, các ghi nhận từ phản hồi từ du khách là điều có ý nghĩa sống còn với những người làm du lịch.

Nếu thực sự cầu thị và muốn phát triển, có lẽ những người muốn thay đổi chất lượng dịch vụ du lịch Việt Nam cần phải biết lắng nghe và quan tâm hơn đến những phản hồi từ du khách.

Sản phẩm du lịch đơn điệu, chậm đổi mới, thiếu sáng tạo và còn trùng lặp giữa các vùng miền, thiếu tính liên kết. Công tác xúc tiến quảng bá du lịch còn hạn chế, nghiên cứu thị trường còn thụ động, yếu kém. Hàng năm du lịch Việt Nam đã bỏ ra một khoản tiền không nhỏ để tổ chức, tham gia các hội chợ du lịch trong và ngoài nước. Tuy nhiên, hiệu quả lại không được như mong đợi.

Cho tới nay thì internet vẫn là nguồn thông tin du lịch quan trọng. Có 60% khách du lịch quốc tế và 45% khách du lịch nội địa sử dụng internet để tìm hiểu thông tin để đưa ra các quyết định cho chuyến du lịch. Tiếp theo là hình thức truyền miệng, được 33,7% du khách quốc tế và 32,3% khách nội địa tham khảo. Chỉ có hơn 25% khách du lịch quốc tế tìm kiếm thông tin về du lịch qua đơn vị lữ hành. Trong khi đó, khoảng 27,4% du khách nội địa lại tìm kiếm thông tin du lịch qua tivi.

Cũng có ý kiến cho rằng, hiện Việt Nam vẫn chỉ là địa chỉ khám phá chứ không phải là điểm đến nghỉ dưỡng của du khách quốc tế, vì thế việc khách quay trở lại Việt Nam rất ít là điều dễ hiểu.

Du lịch VN: tại sao “một đi không trở lại”?

FB Nguyễn Văn Tuấn (NLG) – Khi đọc xong bản tin này (“Chỉ 6% khách quốc tế quay lại Việt Nam“), phản ứng của tôi là nói thầm: “Đáng đời”. Gieo giống nào thì gặt quả đó. Dịch vụ nghèo nàn và văn hoá ứng xử tồi tệ, thì dĩ nhiên khách chỉ đi một lần và không hẹn ngày quay lại là đúng rồi.

Thật ra, con số 6% có lẽ còn cao, chứ trong thực tế có thể thấp hơn nữa. Cần nói thêm rằng thống kê cho thấy 55% du khách đến Thái Lan là những người đã từng đi du lịch Thái Lan trước đây. Con số của Thái Lan chắc phải làm cho nhiều người trong kĩ nghệ du lịch VN xấu hổ.

Tôi là người Việt, cũng thương cái đất nước đó lắm, mà khi đi du lịch thì cũng “một đi không trở lại”. Người Việt mà còn thế, thì chuyện người nước ngoài đến VN chỉ để biết 1 lần duy nhất cũng không phải là điều quá ngạc nhiên. Việt Nam có đủ những yếu tố để xua đuổi khách du lịch, và để họ có lí do để không quay trở lại.

Có những nơi tôi đi qua và rất muốn quay trở lại, nhưng có những nơi mình thậm chí nghĩ thà đừng đến đó lần đầu làm gì. Một trong những nơi tôi lúc nào cũng muốn quay lại là Thái Lan. Số liệu thống kê nói rằng 55% các du khách đến Thái Lan là những người “returnees” (tức đã từng ghé thăm Thái Lan trước đây). Còn có nơi tôi không muốn quay lại là các nơi ngoài Bắc, đặc biệt là Vịnh Hạ Long, và một số địa điểm trong Nam như Hà Tiên, Vũng Tàu, Mũi Né. Đó là những nơi nguy hiểm cho du khách, những nơi mà đến đó chỉ chuốc lấy phiền phức và sự bất tiện.

Tôi tự hỏi yếu tố gì làm cho mình thích quay lại hay không muốn quay lại. Ngẫm nghĩ một hồi, tôi tự trả lời những yếu tố mang tính môi trường du lịch như sau: không gian, phẩm chất nước uống và nước dùng, phẩm chất cảnh quan thiên nhiên, phẩm chất không khí, mức độ ồn ào, di sản văn hoá, và mức độ thân thiện của người dân địa phương. Cũng có thể nghĩ đến những yếu tố mang tính kĩ thuật một chút như sự chuyên nghiệp trong tổ chức tour, quảng bá, và phẩm chất “sản phẩm” du lịch. Nếu xét qua những yếu tố trên, tôi nghĩ VN đều ở thế thua thiệt, và Thái Lan ở thế thượng phong.

Không gian Việt Nam không có nhiều hấp dẫn như Thái Lan. Đến VN, ngay ở các thành phố hay bất cứ khu đô thị nào, là chấp nhận rủi ro. Rủi ro bị xe đụng, rủi ro bị trộm cướp, rủi ro bị chặt chém trong các nhà hàng và khu du lịch. Ở nơi nào mà có du khách không dám băng qua đường vì sợ bị xe cáng chết, và xe thì cũng chẳng buồn tình nhường cho du khách một bước đi. Đó là nơi mà người ta bận bịu đến nỗi chẳng quan tâm đến an sinh của du khách, thì đến đó làm gì cho phiền phức.

Phẩm chất nước, nói thì đơn giản và chuyện nhỏ, nhưng đối với người nước ngoài thì cả một vấn đề lớn. Chỉ cần dùng nước “bậy bạ” thì bị “Tào Tháo” đuổi, và thế là cả chuyên đi xem như mất vui. Phải nói thẳng là phẩm chất nước ở VN kém quá, kém đến nỗi du khách chỉ dùng nước lọc trong chai. Mà, theo như báo chí phản ảnh, có khi nước lọc trong chai cũng chưa chắc an toàn, bởi vì có những cơ sở dỏm làm nước lọc giả hay nhái thương hiệu.

Còn vệ sinh ở VN là một cơn ác mộng. Đi tìm cầu vệ sinh đã là khó, mà tìm được thì chưa chắc dùng được. Không dùng được vì quá dơ bẩn. Dơ đến mức độ có người thà chịu đau chứ không dám đi cầu! Ở vài nơi thì người ta tính tiền, hình như là 2000 đồng một lần đi. Thật hiếm thấy nơi nào mà du khách đi cầu tiêu tiểu phải trả tiền. Số tiền chẳng là bao nhiêu, nhưng nó nói lên cái thói thừa cơ hội để chặt chém của kĩ nghệ du lịch VN và đất nước / con người Việt Nam.

Nước thì kém như thế, còn phẩm chất không khí thì cũng đáng nói là tệ. Không khí và bầu trời ở VN tuy chưa xám xịt như ở Bắc Kinh bên Tàu, nhưng ở các thành phố lớn như Sài Gòn và Hà Nội thì đó là một vấn nạn. Ô nhiễm không khí không phải chỉ khói xe, mà còn các hãng xưởng ngày đêm xả khói thoải mái ngay trong nội thành! Du khách nước ngoài, chỉ cần đến Sài Gòn, thấy người ta đeo khẩu trang đã ngạc nhiên, nhưng nhìn thấy xe cộ phun khói mịt mù thì họ hiểu rõ tại sao. Ấn tượng đầu đã không đẹp!


Chờ hoài vẫn không hết xe


Qua đường tập thể có vẻ an toàn hơn

Mức độ ồn ào là một vấn đề lớn ở VN. Đi đâu, bất cứ nơi nào, tiếng ồn đều theo đuổi du khách. Người ta đi du lịch là để tìm sự thoải mái tinh thần và tìm nơi vắng vẻ, yên tĩnh. Nhưng đến VN thì khó mà có sự yên tĩnh. Ngay cả ở những nơi êm đềm như Hội An mà du khách cũng không được để yên, bởi vì cứ mỗi sáng, trưa và chiều là bị tra tấn bởi cái loa phường. Thật hiếm thấy nơi nào trên thế giới mà người ta “tra tấn” du khách như ở VN.

Phẩm chất cảnh quan thiên nhiên ở VN phải nói là không cao, nếu không muốn nói là khá tồi tệ. VN chúng ta không có những đền đài hoành tráng như Kampuchea, không có những cảnh thiên nhiên hùng vĩ như Nam Dương, không có những cảnh trí mùa thu đẹp như mơ của Hàn Quốc, không có những bãi biển trong xanh và mê hồn của Thái Lan. Nói chung, VN không có những cảnh thiên nhiên đẹp như chúng ta tưởng.

Cảnh quan thiên nhiên kém nước khác đã đành, nhưng con người còn làm cho cảnh quang tồi tệ hơn vì … rác. Nhìn rác rưởi trên đường phố thì đã thất kinh hồn vía, nhưng khổ nỗi là đi đâu cũng thấy rác, từ những nơi trong thành phố đến những nơi dành cho du khách đều có rác. Thật ra, nơi nào có nhiều du khách, nơi đó có rác nhiều hơn! Cả nước có thể xem như một thùng rác khổng lồ. Rác đang giết các danh lam thắng cảnh của VN. Có thể nói không ngoa rằng Hà Tiên đã chết, Đồ Sơn đã chết, Vịnh Hạ Long đang chết, Nha Trang đang chết, Phú Quốc đang sắp chết vì rác.

Còn nói về di sản văn hoá, thì đó là một câu chuyện buồn. Một anh bạn tôi nhận xét rằng Việt Nam đã trải qua ba thời kì đập phá. Thời kì thứ nhất là sau khi mấy ông cách mạng cướp được chính quyền. Lần thứ hai là Cải cách ruộng đất. Lần thứ ba là miền Nam lãnh đủ. Thật ra, phải kể đến lần thứ Tư nữa, đó là phong trào nhân danh “trùng tu” để đập phá đền chùa để xây cái mới. Sau bốn đợt đập phá như thế thì thử hỏi VN còn gì để gọi là “di sản văn hoá”. Thử đi thăm Hoàng Thành ở Huế thì biết người ta trùng tu rất quái đản, mới và cũ chẳng ra thể thống nào cả. Thay vì làm cột bằng gỗ, người ta làm bằng … xi măng giả gỗ! Tương tự, các đền thờ của danh nhân như Nguyễn Trãi cũng làm như thế. Do đó, di sản văn hoá của VN cho du khách coi như không có gì đáng kể hay đáng so sánh với các nước chung quanh.


Du khách thường xuyên bị chèo kéo, ép giá ở Hà Nội


Bồng con thơ vây du khách xin bố thí.

Du khách đến VN là chấp nhận sự phiền toái. Phiền toái từ những đội quân bán hàng rong, bán vé số, và những nhóm du côn. Có lần tôi đi chơi bãi biển Vũng Tàu nhân ngày cuối tuần mà không bao giờ nghĩ đến ngày ghé đó lần thứ hai. Ở những khu nổi tiếng thì chỉ thấy người ta ăn nhậu bừa bãi ở ngay bãi biển. Ở nơi xa xa một chút, tưởng rằng sẽ được yên tĩnh, nhưng đâu ngờ cũng bị các nhóm ngoài Bắc vào chiếm dụng. Họ rất hung dữ. Đến nỗi có khách đứng dựa một cây để hóng mát mà cũng bị đuổi vì đó là nơi đã … đăng kí. Còn các nhóm bán cua ghẹ ở biển, toàn dân nói tiếng Bắc, thì kinh khủng quá. Họ tự họ giết chết Vũng Tàu. Và, những đồng môn họ cũng đang giết chết Hạ Long bằng những thủ đoạn chặt chém du khách. Mới năm ngoái , anh bạn tôi tổ chức tiệc cho đoàn do anh ấy bảo trợ trong một nhà hàng có tiếng ở Vịnh Hạ Long, đến khi nhận cái bill tính tiền thì mới biết là bị chặt chém. Còn ra đường phố Hạ Long, dù chỉ uống nước mía hay cà phê, thì chặt chém là bình thường, nhất là du khách nói giọng miền Nam. Còn ở trong Nam, đến hầu như bãi biển nào cũng phải thuê dù che! Ngồi chưa yên đã có một đội quân đến chèo kéo mua hàng. Tuy nhiên, điều an ủi là các đội quân chèo kéo trong Nam có vẻ không hung dữ như ngoài Bắc. Do đó, có thể nói mức độ thân thiện của người dân địa phương là rất rất thấp.

Đó là những yếu tố mang tính môi trường bất lợi cho du lịch VN, nhưng các vấn đề kĩ thuật và tổ chức còn là những yếu tố làm cho khách “một đi không trở lại”. Sản phẩm du lịch thì nghèo nàn (nhưng có công ti cố gắng làm mới và cải tiến). Cách tổ chức luộm thuộm. Thậm chí có công ti còn bán du khách cho các nhóm khác! Đó là chưa nói du khách còn bị tẩy não, tuyên truyền rất thấp. Đến những địa điểm như viện bảo tàng, nhà tù nổi tiếng, du khách sẽ được nghe hướng dẫn viên ca ngợi công đức trời biển, hành động anh hùng vĩ đại chỉ có dưới vòm trời Việt, và nghe người ta xuyên tạc chửi bới Mĩ Nguỵ như thế nào. Thử hỏi nếu bạn là người Mĩ mà nghe nói thế thì bạn có muốn ghé thăm VN một lần nữa? Thật là ngây thơ để nghĩ rằng “mấy thằng Tây nó biết gì đâu”. Nói chung, tính chuyên nghiệp của phần lớn các công ti du lịch rất thấp.


Du khách Nhật tại Mỹ Tho – Ảnh: L.Nam

Với những vấn đề trên, tôi nghĩ chẳng ai ngạc nhiên khi thấy du khách không có ý định đến Việt Nam lần thứ hai. Họ chỉ đi một lần cho biết, sau đó thì âm thầm nói lời tạm biệt. Ngoài ra, còn phải nói thêm về giá cả quá đắt ở VN, làm cho người ta phải so sánh. Đi du lịch ở Thái Lan, người ta được chào đón một cách thân thiện và chuyên nghiệp, mà giá cả lại rất phải chăng, vậy thì tại sao phải đi VN để vướng vào phiền toái mà còn bị nâng giá một cách quá đáng. Đã nghèo, cảnh quan thì dơ bẩn, dịch vụ thì kém chất lượng mà lại làm chảnh bằng cách nâng giá! Kĩ nghệ du lịch VN tự làm khó họ. Thật ra, ngay cả người Việt ở trong nước cũng nói rằng họ đi du lịch ở Thái Lan còn rẻ hơn đi du lịch ở VN. Còn người Việt ở nước ngoài họ chỉ về thăm bà con thân nhân rồi mua các tour đi du lịch Thái Lan chứ không dám đi du lịch ở VN. Nói cách khác, kĩ nghệ du lịch VN đã thua ngay trên sân nhà. Nếu không có một cuộc làm mới và cải cách thì VN sẽ còn thua nữa.

Chén thuốc đắng

Huy Phương (BTQ) – Thói đời ai cũng thích khen để thỏa mãn lòng tự ái, không ai thích chê, mặc dù ông Tuân Tử đã nói, “Người chê ta mà chê phải là thầy của ta, người khen ta mà khen phải là bạn ta…”

Nhưng một khi mình đã không thích lời chê thì lý trí lu mờ, đâu còn cho đó là lời chê phải nữa, người tự mãn cho cái gì của mình cũng nhất, cũng phải, ai đó đừng có đụng vào, không khéo người chê mình chỉ vì lòng ganh tị, có khi là thù nghịch.

Mới đây thôi vào, vào ngày 20 Tháng Mười, đài VOA loan tin trang mạng “The Guide to Sleeping in Airports” đã xếp hạng hai phi trường quốc tế lớn nhất của Việt Nam là Tân Sơn Nhất và Nội Bài là hai phi trường tệ nhất Châu Á trong bảng khảo sát 2014, Nội Bài ở Hà Nội xếp thứ 5 và phi trường Tân Sơn Nhất ở Sai Gòn cũ giữ hạng 8 vì các điều kiện cơ sở hạ tầng và phục vụ yếu kém.

Cuộc khảo sát được thực hiện qua ý kiến bầu chọn của những người du khách, dựa vào các yếu tố chính như vệ sinh tại phi trường, thái độ phục vụ của nhân viên hàng không, và điều kiện về cơ sở vật chất tại phi trường. Hai phi trường này quá chật hẹp với số lượng du khách, bẩn thỉu, ồn ào, thiếu máy điều hòa không khí, hành lý ra dây chuyền chậm, bị thất lạc và hay bị mất cắp, nhân viên phi trường hống hách, thiếu thiện cảm.

Lập tức các viên chức của hàng không Việt Nam giẫy nẩy lên, bác bỏ, cho rằng đây là một cuộc đánh giá không phải của một cơ quan chuyên môn, thiếu khách quan, không đúng với thực tế. Đúng là đứa nào chê ta chắc chắn là chê sai và đúng là kẻ thù của ta.

Viên chức, cán bộ hàng không Việt Nam mỗi năm bỏ ra bao nhiêu tiền để xuất ngoại nghiên cứu học hỏi lối tổ chức làm ăn của nước khác, nhưng chẳng đem lại ích lợi gì cho đất nước.

Một “kẻ thù” khác là ông Joel Brinkley, cựu phóng viên New York Times, người từng đoạt giải Pulitzer, sau một chuyến đi Việt Nam 10 ngày, ông đã nhận xét rằng người Việt thích ăn sóc, chim chóc và chuột bọ. “Nói chung bạn không thấy bất kỳ loại động vật nào, cả hoang dã lẫn thú nuôi. Chúng biến đi đâu hết cả? Bạn có thể sẽ ngạc nhiên khi biết, chúng bị ăn thịt cả rồi.”

Lập tức ông bị các cây bút Việt Nam chỉ trích Brinkley là “hồ đồ, trịch thượng và phân biệt chủng tộc.” Người ta đòi đuổi việc Brinkley, đòi ông phải xin lỗi công khai. Những phản ứng giận dữ đã khiến công ty xuất bản Tribune Media Services phải ra thông cáo thừa nhận rằng bài viết của ông Joel Brinkley không đạt yêu cầu về báo chí.

Một cuộc đánh giá khác chắc chắn là thiếu khách quan, là tạp chí Economist đánh giá chỉ số dân chủ năm 2012, xếp hạng Việt Nam đứng thứ 144 trên tổng số 167 quốc gia được xếp hạng. Theo danh sách của tạp chí này, Việt Nam nằm trong nhóm chính phủ độc tài thiếu dân chủ. Lập tức, bà Nguyễn Thị Doan, phó chủ tịch nước, tuyên bố, “Dân chủ của Việt Nam ‘cao hơn gấp vạn lần so với dân chủ tư sản!’” Cái đứa xếp hạng Việt Nam vào hạng dân chủ tồi tệ hẳn là đứa ngu dốt, không bằng chính trị gia Nguyễn Thị Doan, cũng là chủ tịch danh dự Hội Nữ Trí Thức Việt Nam, người có cái “lưỡi gỗ” và phải đại trí thức mới có sự so sánh lẫy lừng như thế. Bà này còn nói thêm, “Người dân chưa hiểu đúng về dân chủ đi liền với kỷ cương nên một số người đã cố tình lợi dụng dân chủ để gây rối, chia rẽ làm tác động xấu đến trật tự, an toàn xã hội.”

Trong khi tờ Guardian loan tin mỗi năm, 5 triệu con chó bị làm thịt ở Việt Nam, và Tây phương lên án chuyện ăn thịt chó là mọi rợ, thì có lập luận cho rằng, “…Sự cấm đoán quốc tế về vấn đề thịt chó sẽ bị xem như một quyết định của khối tư bản trong mưu đồ ồn ào muốn áp đặt nét văn hóa Tây phương vào các quốc gia Á Châu!” Thật hết chỗ nói. Ở đâu cũng có bàn tay tư bản thò vào! Vậy thì chúng ta là Cộng Sản Á Châu, chúng ta tiếp tục ăn thịt chó!

Khách du lịch Tây phương đến Việt Nam thường than phiền và không muốn trở lại thăm viếng một lần nữa. Ông Matt Kepnes trên www.twitter.com/nomadicmatt đã than phiền: “Không ai muốn trở lại một nơi mà họ cảm thấy bị bạc đãi. Khi tôi ở Việt Nam, tôi đã bị liên tục làm phiền, bán quá đắt, bị lường gạt và bị ngược đãi. Tôi đã gặp người bán hàng trên đường phố liên tục nâng giá. Có người phụ nữ bán bánh mì không trả tiền lẻ cho tôi; người bán thức ăn bắt tôi trả gấp ba trong khi tôi thấy những người khác trước mặt tôi chỉ trả một phần; người tài xế taxi gian lận đồng hồ đếm km trên đường đến trạm xe buýt. Trong khi mua áo thun ở Hội An, ba phụ nữ đã cố gắng giữ cho tôi trong cửa hàng của họ cho đến khi tôi mua một cái gì đó, thậm chí họ còn níu áo sơ mi của tôi.”

“Trên một chuyến đi Vịnh Hạ Long, các nhà điều hành tour du lịch đã không cung cấp nước trên tàu và họ đã lấy khách quá tải, khiến cho người trả tiền cho phòng một người đột nhiên thấy mình với người lạ cùng phòng … đôi khi trong cùng một giường!”

Một nhân viên thuộc ngành du lịch Nhật có dịp viếng Sài Gòn, ông Shimata, phẫn nộ, “…nói tới Việt Nam thì đấy là quốc gia xấu xa tồi tệ nhất và nỗi bất mãn trong tôi sẽ tăng lên tới mức 150%. Tôi ghét Việt Nam. Mà nói đúng ra thì tôi ghét người Việt Nam hơn là ghét Việt Nam. Tôi căm ghét thứ văn hóa ‘móc được cái gì thì móc’ của người Việt.”

Nếu ngành du lịch ở Việt Nam yếu kém, thì đó không phải là lỗi con người mà lỗi vì tiền.

“Tổng Cục Du Lịch thiếu kinh phí, thiếu tiền để làm những clip quảng cáo cho du lịch Việt Nam” như ông Nguyễn Mạnh Cường, phó tổng cục trưởng Tổng Cục Du Lịch Việt Nam, nhiều lần khẳng định.

Quỹ Kinh Tế Mới (NEF) đánh giá Việt Nam là một dân tộc hạnh phúc thứ nhì của nhân loại, trong bảng xếp hạng chỉ số Hành Tinh Hạnh Phúc (HPI) của năm 2012. Nhưng thông thường để đánh giá một quốc gia hạnh phúc hay không, có phát triển về chất lượng sống hay không, thì cần căn cứ vào cách xếp hạng và chỉ số phát triển con người của Liên Hiệp Quốc. Đó là chỉ số HDI (Human Development Index). HDI bao gồm mức thu nhập, tỷ lệ biết chữ, tuổi thọ và một số nhân tố khác của một quốc gia. Ngay cả GDP (tổng sản phẩm quốc nội) cũng chỉ là một chỉ tiêu để đánh giá HDI quốc gia đó. Theo chỉ số phát triển con người, thì quốc gia có HDI cao nhất là Na Uy (2009), còn Việt Nam đứng thứ 116. Đó mới có thể coi là chỉ số hạnh phúc!

Việt Nam chỉ thích loại đánh giá “giá trị” như NEF, nhưng bất mãn về sự đánh giá của Liên Hiệp Quốc xếp Việt Nam vào hạng 116.

Trái với Nam Hàn, sau 40 năm bị chia cắt, Việt Nam với 40 năm thống nhất đất nước vẫn là một quốc gia trì trệ, lạc hậu và bị mọi người khinh ghét, tự mãn với “đỉnh cao trí tuệ,” “rừng vàng biển bạc,” “đã đánh thắng ba đế quốc sừng sỏ,” không muốn học hỏi và mở mắt. Bị chia cắt từ năm 1945, chỉ trong vòng 40 năm, Nam Hàn đã tiến những bước tiến dài. Từ một quốc gia lạc hậu nghèo đói, Seoul dã hãnh diện đăng cai tổ chức Olympic 1988. Kỹ nghệ xe hơi, gắn máy, hóa chất, kỹ nghệ đóng tàu, phim ảnh, mỹ phẩm, hàng tiêu dùng của Nam Hàn đã nổi danh thế giới. Ngày nay, Nam Hàn có những ông chủ thuê chuyên viên, công nhân của thế giới làm việc cho mình, chứ không phải cậy cục đi xin việc làm thuê, ở đợ cho các nước khác trên khắp thế giới như Việt Nam. Học hỏi nền giáo dục và tinh thần dân tộc từ Nhật, kỹ nghệ điện ảnh từ Hollywood, khoa học, kỹ thuật của Tây phương, ngày nay các thương hiệu Hyndai, KIA, GM Daewoo, Samsung… có thể cạnh tranh với xe cộ, máy móc hàng hóa Nhật, vốn được cả thế giới yêu chuộng.

Truyền hình Nam Hàn có trường “dạy làm người”“dạy làm ăn” thì Việt Nam chỉ có truyền thống rỉ tai “dạy ăn” cho nên cán bộ đảng, viên chức cao cấp, người nào cũng giàu có, sống xa xỉ, vương giả mà nhân cách càng ngày càng sa sút.

Trong khi người Nam Hàn yêu nước, ủng hộ và tiêu dùng hàng nội hóa để phát triển kinh tế, thì Việt Nam đua đòi tiêu dùng hàng hóa cao cấp, đắt tiền của ngoại quốc để khoe mẽ sự giàu sang của dòng họ hay cá nhân mình như xe hơi cao cấp, điện thoại đời mới, mỹ phẩm đắt tiền. Nếu có ai phê bình đến đất nước và con người Việt Nam thì sĩ diện hão, đem tự ái dân tộc ra để tránh né, chúi đầu vào cát, chê trách hay miệt thị người khác.

Không uống được chén thuốc đắng, làm sao hết được bệnh tật.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.