‘Xuất khẩu’ giáo sư, tiến sĩ: Tại sao không?

Posted: November 7, 2014 in Uncategorized
Tags:

Thành Luân (ĐV) – Nếu xuất khẩu được giáo sư, tiến sĩ thì cứ xuất bởi nó vừa giải quyết lao động dư thừa vừa tiếp tục đào tạo năng lực cho đội ngũ này.

� Xem thêm: Việt Nam đã xóa sạch nợ công? + “Thoát Trung”: Việt Nam có dám loại bỏ…’rác’?

PGS.TS Lê Anh Vinh (giữa ảnh) tại lễ vinh danh các GS, PGS năm 2013. Sau một thời gian học tập và làm việc tại nước ngoài, anh trở về công tác tại trường ĐH Giáo dục – ĐH Quốc gia Hà Nội.

Có thừa thì cứ xuất

Theo một số liệu thống kê năm 2013 – 2014, cả nước có khoảng 9.000 giáo sư và 24.300 tiến sĩ. Bởi số giáo sư, tiến sĩ Việt Nam “nhiều nhất Đông Nam Á” như chia sẻ của Phó Tổng thư ký liên hiệp Các hội khoa học kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) Phạm Bích San nên có nhiều ý kiến đề xuất rằng nên “xuất khẩu” một phần đội ngũ này ra nước ngoài học tập và làm việc.

PGS.TS Nguyễn Văn Nam, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Thương mại (Bộ Công thương) cho rằng, hiện Việt Nam đã có đưa nhiều nông dân sang các nước vừa để hỗ trợ nông dân nước bạn kỹ thuật trồng lúa vừa nâng cao thu nhập cho bản thân. Tương tự, cũng có nhiều nhà khoa học ra nước ngoài làm việc và mang lại danh tiếng cho Việt Nam. Đặc biệt, đội ngũ giáo sư, tiến sĩ (GS, TS) Việt Nam đang thừa một cách tương đối, có một tỷ lệ lớn được đào tạo không chuẩn, thiên về lý thuyết, chất lượng dưới mức trung bình so với quốc tế.

Bởi vậy, theo PGS.TS Nguyễn Văn Nam: “Ở Việt Nam cứ nói rất hay, rồng bay phượng múa về chính sách sử dụng nguồn nhân lực nhưng làm lại rất dở vì nó không hề cụ thể, cứ nói nguyên tắc, nguyên lý thế thôi. Nếu xuất khẩu được GS, TS thì cứ xuất, ai có khả năng chuyên môn mà nước ngoài sử dụng được thì nên tạo điều kiện cho họ đi. Đi làm cũng là đi học, để họ ra nước ngoài là giúp họ phát huy năng lực, tạo ra thu nhập tốt hơn, từ đó có tác động trở lại đối với các cơ quan quản lý trong nước, để cơ quan quản lý thấy rằng họ cầm vàng trong tay mà không biết là vàng, từ đó phải thay đổi chính sách”.

Đồng quan điểm với ông Nam, PGS. TS Nguyễn Hữu Tri, Viện phó Viện Xã hội học và Khoa học quản lý, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học hành chính, Trưởng khoa Quản lý hành chính Học viện Hành chính quốc gia cũng cho rằng, di chuyển nhân lực là một xu thế tất yếu trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay.

“Ngay trong khối EU đã có quy định rằng, mỗi cán bộ công chức làm việc trong các bộ máy nhà nước phải luân phiên có một nhiệm kỳ làm việc trong tổ chức quốc tế. Bởi thế, để các GS, TS Việt Nam tham gia vào môi trường làm việc quốc tế là điều cần thiết, tất nhiên cách làm cụ thể thế nào cần phải tính toán, cân nhắc kỹ lưỡng. Nó cũng là điều kiện để nâng cao trình độ cán bộ khoa học Việt Nam ngang tầm khu vực và thế giới”, ông nói.

Theo Viện phó Viện Xã hội học và Khoa học quản lý, năng lực thực chất của các GS, TS Việt Nam chính là khó khăn lớn nhất khi họ tham gia vào môi trường quốc tế, nói cách khác, đội ngũ này khó đáp ứng được các tiêu chuẩn làm việc của quốc tế.

“Đầu tiên chính là trình độ ngoại ngữ không tốt khi cứ chạy theo một số chứng chỉ nhất định, kế đó là chuyên môn lâu nay phát triển chưa đi vào thực chất, chạy theo hư danh nhiều.

Thực tế, những năm qua, lượng GS, TS Việt Nam ra nước ngoài làm việc rất ít. Thậm chí, tôi được biết có những GS không có điều kiện đi nước ngoài, cố gắng lắm thì được vài buổi tham quan, khảo sát, tìm hiểu.

Ngay như hồi tôi còn làm Viện trưởng Viện Khoa học hành chính, việc trao đổi GS, TS với thế giới gần như không có. Chúng tôi chỉ có thể mời họ sang một số buổi, nói gì đều thông qua phiên dịch hay chỉ tổ chức một số buổi có tính chất khảo sát trong một vài tuần ở nước ngoài, nghe cán bộ nước bạn báo cáo, tham quan là chính, còn để nâng cao trình độ thì rất hạn chế. Bởi vậy, tạo ra môi trường cho cán bộ khoa học Việt Nam phát triển là rất quan trọng”.

Trước nỗi lo lắng về tình trạng chảy máu chất xám, GS, TS ra nước ngoài không trở về nữa, PGS.TS Nguyễn Hữu Tri trấn an: “Tôi ở nước ngoài nhiều, thấy rằng không ai không có tình cảm với đất nước, vấn đề là các nhà quản lý trong nước có tạo điều kiện cho họ cống hiến hay không. Tháp nhu cầu của Maslow cũng đã chỉ rõ, nhiều khi những người này không phải vì vấn đề vật chất hoàn toàn mà họ cần được cống hiến, cần được xã hội thừa nhận”. Do đó, theo ông Tri, nếu đưa được các GS, TS Việ Nam còn tương đối trẻ ra nước ngoài làm việc, sau 5-10 năm khi chính sách về nhà ở, công việc… ở Việt Nam đã cải thiện, họ sẽ trở về và tham gia vào việc thúc đẩy đất nước phát triển.

Trong khi đó, PGS.TS Nguyễn Văn Nam cũng không mấy lo lắng về tình trạng này bởi trước nay đã chảy máu chất xám rồi. “Cán bộ khoa học học ở nước ngoài về, thấy thu nhập quá thấp, lương nhà nước không đủ sống, họ lại không phát huy được kiến thức mình đã học vậy thì cứ để họ làm ở chỗ khác giúp họ phát huy tốt hơn, thu nhập cao hơn”. Do đó, theo ông Nam, nếu Việt Nam “xuất khẩu” GS, TS mà họ trở về thì là điều tốt, còn nếu không cũng chẳng sao.

Học Hàn Quốc cách dùng người

Khi PGS. TS Nguyễn Văn Nam còn làm Viện trưởng Viện Nghiên cứu Thương mại, hàng năm Viện được giao chỉ tiêu đào tạo 10 tiến sĩ mỗi năm, thời gian đào tạo là 4 năm. Tuy nhiên, Viện thường không đạt chỉ tiêu, có chăng được dăm bảy người.

“Có tình trạng là cứ cử nhân viên đi nước ngoài đào tạo, đến hạn về thì họ đi hết. Từ thời tôi còn làm viện trưởng, cử mấy người đi Mỹ, Úc, Hà Lan… học tập, giờ chẳng ai quay về. Khi họ đi thì viện không quản lý nữa, sau cơ quan nhà nước nào quản lý tôi cũng chẳng biết. Họ học xong, người làm ở nước ngoài, người về nước làm cho các tổ chức quốc tế chứ cũng chẳng làm cho viện”, ông Nam chia sẻ.

Ông Nam cho rằng, việc sử dụng người tài thế nào không tùy thuộc vào chính sách, bởi chính sách quá chung chung, mà mang tính cá nhân nhiều hơn, nói cách khác là tùy thuộc vào thủ trưởng của từng đơn vị.

“Ai biết dùng người tài thì biết cách đối xử, biết lôi kéo và xếp việc tốt hơn cho người ta. Nhưng những ông sếp biết dùng người hiếm lắm, dăm bảy ông mới được một”.

Còn PGS.TS Nguyễn Hữu Tri cho rằng, Việt Nam cần học Hàn Quốc cách dùng người. Theo đó, từ thời Tổng thống Park Chung Hee, những cán bộ đi học tập ở nước ngoài về bao giờ cũng được trả lương gấp 5 lần người đào tạo ở trong nước và bố trí vào các vị trí cần thiết. Khi có đa số những người có năng lực như vậy thì tư duy, phong cách làm việc sẽ thay đổi và thúc đẩy sự phát triển.

“Về lý thuyết, tiên tiến bao giờ cũng là thiểu số. Do đó, vai trò của người đứng đầu rất quan trọng, là điểm nút đột phá cho sự phát triển. Những người có năng lực không chấp nhận thủ trưởng yếu hơn họ hoặc không biết sử dụng họ”, ông Tri đánh giá.

Hiện tại, ở vị trí Viện phó Viện Xã hội học và Khoa học quản lý, PGS. TS Nguyễn Hữu Tri thường tổ chức cho các cán bộ tham gia các chương trình du lịch học tập, du lịch nghiên cứu ở nước ngoài.

“Không có nhiều tiền thì chúng tôi tổ chức các chuyến đi ngắn ngày. Ví dụ, mỗi chuyến đi Singapore, Malaysia kéo dài 5-7 ngày, chúng tôi liên hệ với một số trường đại học của họ. Trong tour sẽ có 2 ngày đến các trường này, chúng tôi tham quan thư viện, giảng đường, nghe cán bộ trường trao đổi, cung cấp thông tin… Với trường ở Thái Lan, hàng năm họ gửi một danh sách các ngành đào tạo, Viện sẽ cử cán bộ sang đó học tập khoảng 1 tháng. Khi sang đó, tự khắc họ phải nâng cao năng lực ngoại ngữ của mình vì giáo viên giảng dạy là người nước ngoài”, ông cho biết.

PGS.TS Nguyễn Văn Nam nhấn mạnh, quan trọng là các cơ quan trong nước phải có chính sách dùng người cho tốt, không thể cứ tùy tiện, nhận rồi để đấy, nếu không người tài sẽ bỏ đi hết.

Việt Nam đã xóa sạch nợ công?

(NLG) – Phát hiện của FB Xê Nho Nvp: “Nhờ tìm tài liệu chính thức để kiểm tra một con số mới phát hiện ra một chuyện “động trời”.


Bản tin nợ công của Bộ Tài chính

Trước hết nói về chuyện con số cái đã. Số là VTV đưa tin: “Theo báo cáo của Bộ Tài chính cho đến nay, tổng số nợ công của Việt Nam là 475.000 tỷ đồng trong đó vay trong nước là 367.000 tỷ đồng…”. Đây là con số sai vì tài liệu chính thức nói cho đến cuối năm 2013, nợ công Việt Nam bằng 54,2% GDP, tức gần bằng 2 triệu tỷ đồng, gấp bốn lần con số của VTV đưa ra. (Chỉ tội cho các bài phân tích bình luận dựa vào con số trật cầu chìa này!).

Nhưng nói gì thì nói,  phải tìm nguồn chính thức nói con số tuyệt đối chứ cho đến nay tất cả đều nói con số phần trăm so sánh với GDP như trên. Và nguồn đó là Bản tin nợ công được Bộ Tài chính phát hành theo quy định của Luật Quản lý nợ công. Còn nhớ cái bản tin gần đây nhất mà bộ này đưa lên có nói nợ công tính đến cuối năm 2011 là 1.392 nghìn tỷ đồng, bằng 54,9% GDP năm 2011.

Bất ngờ thay, khi vào mục “Bản tin nợ công” trên trang web của Bộ Tài chính thì… trống trơn – bản tin nợ công mới không thấy đâu đã đành, các bản tin nợ công cũ cũng bị tháo gỡ, xóa đi đâu mất cả rồi. Một việc làm bất chấp luật lệ, bất chấp Nghị định 79/2010 mà cho đến nay không thấy ai lên tiếng; các đại biểu Quốc hội than về nợ công rầm trời cũng chẳng ai hay và phản ứng gì cả.”

[:-/] Bán thuốc vào VN chỗ nào cũng ‘hoa hồng’ (VNN) – Phó chủ nhiệm UB Các vấn đề xã hội Nguyễn Văn Tiên cho hay có hàng mấy chục công ty dược nước ngoài đầu tư, bán thuốc vào VN và chỗ nào cũng có ‘hoa hồng’, dưới nhiều dạng, khó phát hiện: tài trợ đi nước ngoài, tham quan, trả tiền trực tiếp, trả hoa hồng theo đơn thuốc…

“Thoát Trung”: Việt Nam có dám loại bỏ…’rác’?

Thành Luân (ĐV) – Việt Nam đang bước vào giai đoạn phụ thuộc vào một thị trường sâu hơn nữa bởi nền kinh tế Trung Quốc đang phát triển rất mạnh.

Không có gì để dựa lưng!

Theo Tổng cục Thống kê, trong suốt 10 tháng qua, Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhất với kim ngạch đạt 35,6 tỷ USD, tăng 17,1% so với cùng kỳ năm 2013, nhập siêu từ Trung Quốc ước tính đạt 23,1 tỷ USD, tăng 17,6%.

Kim ngạch nhập khẩu một số mặt hàng phục vụ sản xuất chiếm tỷ trọng lớn có mức tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác đạt 18,3 tỷ USD, tăng 20,4%; vải đạt 7,7 tỷ USD, tăng 13,4%; nguyên phụ liệu dệt, may, giày dép đạt 3,9 tỷ USD, tăng 24,8%; ô tô đạt 2,8 tỷ USD, tăng 48%, trong đó ô tô nguyên chiếc đạt 1,1 tỷ USD, tăng 93%.

Theo ThS Bùi Ngọc Sơn, Trưởng phòng Kinh tế Quốc tế, Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính trị Thế giới cho rằng, chỉ nhìn các con số nhập khẩu nói trên cũng cho thấy Việt Nam khó thoát khỏi sự lệ thuộc vào một thị trường, thậm chí còn lệ thuộc sâu hơn, nhất là khi Trung Quốc đã trở thành một nền kinh tế mạnh và chuyển sang giai đoạn phát triển công nghệ cao, đào thải những công nghệ cũ, lạc hậu.

Doanh nghiệp trong nước yếu thế mảng công nghiệp hỗ trợ

“Trung Quốc luôn đi trước Việt Nam về công nghệ, họ thải công nghệ cũ ra sau đó đem bán và bán sang Việt Nam với giá rất rẻ. Cứ nhìn những con số nhập khẩu thiết bị, nguyên liệu của Việt Nam thì đủ thấy kể cả trong trung hạn, Việt Nam vẫn cứ lệ thuộc vào thị trường này. Làm sao có thể chuyển hướng con tàu khi cứ thấy rẻ lại chạy theo?!

Đấy là chưa kể trong cấu trúc của kinh tế Việt Nam còn có doanh nghiệp nhà nước. Doanh nghiệp nhà nước làm ăn kém hiệu quả dứt khoát phải đi nhập máy rẻ, đặc biệt nếu có chút tiền lót tay, mà Trung Quốc thì sẵn sàng chi khoản này để bán được hàng, nên càng dễ ký.

Nếu là doanh nghiệp tư nhân thì sẽ khác. Họ bỏ đồng tiền của mình ra phải tính toán chi tiết xem kết quả thu lại thế nào, lời lãi bao nhiêu nên phải cân nhắc rất cẩn thận”, ThS Bùi Ngọc Sơn nói.

Nhìn vào nội lực nền kinh tế Việt Nam, ông Sơn không giấu được cái nhìn bi quan bởi “chẳng có gì để mà dựa lưng!”.

“Cứ cho rằng Việt Nam có mấy đồng bạc kiếm được từ GDP nhưng những thứ kiếm được nhiều nhất lại là của mấy doanh nghiệp thuộc vào khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) và chủ yếu dựa trên hàng hóa gia công lắp ráp từ nguyên liệu nhập khẩu, nghĩa là nó không hề bền vững. Doanh nghiệp trong nước thì cứ ráo mồ hôi là hết tiền, sau đó lại đi làm thuê, đào của trong nhà đem đi bán, trong tay không có công nghệ, thị trường tiêu thụ, kể cả tiêu thụ ở cấp tiêu dùng hay lĩnh vực sản xuất đều không có gì”, ông Sơn thẳng thắn nhận xét.

Bởi vậy, Ths Bùi Ngọc Sơn cho rằng dẫu vấn đề giảm bớt sự phụ thuộc vào một thị trường, cụ thể là Trung Quốc đã được thống nhất từ ý chí tới quyết tâm hành động nhưng nguyện vọng, ước mong, hô hào là một chuyện, còn thực tế có làm hay không lại là một chuyện khác.

“Việt Nam gần đây mới hô hào, cho dù muốn thay đổi đi chăng nữa thì đó vẫn phải là một chương trình kéo dài trong trung hạn, chứ một tháng, một quý hay một năm chốc lát đã quay ngoắt được một con tàu lớn. Về mặt kỹ thuật không bao giờ có chuyện đó. Hô thì rất dễ nhưng vướng mắc lớn nhất của Việt Nam là hô hào mà không làm gì cả, còn nền kinh tế thì vẫn phải vận hành theo lợi ích trên thực tế của nó, các nhà sản xuất vẫn phải chạy theo lợi nhuận và cái đó không thể trách họ được. Việc chuyển hướng con tàu kinh tế thế nào thuộc về vai trò của nhà nước”, ông Sơn chỉ rõ.

Việt Nam có dám loại bỏ?

Ths Bùi Ngọc Sơn cho rằng, phải có một chương trình nghị sự lớn để bàn bạc từ đó đưa ra chương trình làm việc thay đổi công thức của nền kinh tế nhằm đa dạng hóa thị trường, giảm bớt sự lệ thuộc vào một nền kinh tế.

Phải có chiến lược tái cấu trúc nền kinh tế, cái gì không hiệu quả phải dám loại bỏ. Thí dụ, doanh nghiệp nhà nước làm ăn không hiệu quả thì phải rút bớt, loại bỏ, chuyển sang cho doanh nghiệp tư nhân làm. Cái gì ách tắc, như bất động sản chẳng hạn, hãy cho “chết” hẳn, bán ra bằng hết hàng thừa, rẻ đến đâu cũng phải bán. Ngân hàng nào kém phải thanh lọc lại để hệ thống nhanh chóng khỏe trở lại, tiếp ứng vào nền kinh tế, sau đó có hệ thống chính sách khuyến khích đi vào các loại công nghệ mà trong tương lai bền vững.

Ngoài ra, phải thay đổi lại cả nền giáo dục để đào tạo ra lực lượng lao động chất lượng, có hiệu quả. Chứ không thể như hiện nay sơn ô tô cũng không làm được, ốc vít cũng chẳng xong thì không thể dựa vào cái gì.

Phải có chương trình khuyến khích thị trường. Thứ nữa, như tôi đã nói nhiều lần, phải thay đổi chính sách tỷ giá. Với chính sách tỷ giá như hiện nay và với việc Trung Quốc đi trước, đang thanh lọc công nghệ thì Việt Nam không thể nào phát triển công nghiệp hỗ trợ, điểm cốt tử để Việt Nam chuyển hướng, không lệ thuộc vào Trung Quốc.

Phát triển được ngành công nghiệp đó, Việt Nam sẽ có được công nghệ ở cấp độ trung bình từ đó mới tiếp tục phát triển lên được. Còn không, chúng ta chỉ suốt đời đi “ăn bám”, người ta bán cái gì thì mua và mua cái gì thì bán!”.

Biết con tàu kinh tế đi mãi theo hướng ấy là dở và chuyển hướng chắc chắn sẽ tốn kém, không tránh khỏi có một vài va đập, nhưng thoát được thì mới tiến lên được, xác định được như thế thì Việt Nam mới dám làm”, ông Sơn kết luận.

 

 

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.