Toàn quân có gần 10.000 báo cáo viên tuyên truyền miệng

Posted: November 8, 2014 in Uncategorized

Hồng Pha (infonet.vn) – Sáng 7/11, tại Hà Nội, Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam đã tổ chức Hội nghị trực tuyến rút kinh nghiệm công tác tuyên truyền miệng trong quân đội và sơ kết 5 năm phát hành Bản tin Thông báo nội bộ (2009-2014). Trung tướng Nguyễn Trọng Nghĩa, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị chủ trì Hội nghị.

� Xem thêm: Giáo viên quốc phòng chép 100% bài của nhau + Tuyên truyền đến người Việt hải ngoại: khả năng thành công? + Thống nhất quản lý Nhà nước về GD&ĐT: Vẫn rối như canh hẹ.

Tới dự hội nghị tại điểm cầu Hà Nội còn có đại biểu Bộ Công an, Bộ Thông tin và Truyền thông, các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng và 912 đại biểu của 28 điểm cầu trong toàn quân.

5 năm qua, công tác tuyên truyền miệng trong Quân đội luôn kịp thời tuyên truyền định hướng tư tưởng về những vấn để mới trong quan điểm đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, góp phần tích cực nâng cao giác ngộ chính trị và lòng tin của bộ đội và nhân dân. Nội dung tuyên truyền bảo đảm tính toàn diện, cân đối trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội, quốc phòng – an ninh, đối ngoại, tình hình khu vực, quốc tế, trong nước và lực lượng vũ trang; tập trung làm rõ, giải quyết những vướng mắc trong tư tưởng của bộ đội và nhân dân; phê phán, chấn chỉnh những lệch lạc trong nhận thức về đời sống xã hội; nhận diện và đấu tranh với những quan điểm sai trái, thù địch, phản động.

Cục Tuyên huấn đã biên tập 98 chuyên đề về các vấn đề thời sự quốc tế, khu vực, trong nước; 64 chuyên đề tổng hợp tình hình kinh tế, xã hội, quốc phòng – an ninh, đối ngoại và tuyên truyền biển, đảo kịp thời cung cấp thông tin và định hướng cho các đối tượng. Lực lượng báo cáo viên đa dạng, có báo cáo viên chuyên trách, báo cáo viên bán chuyên trách và báo cáo viên kiêm nhiệm với tổng quân số gần 10.000 đồng chí. (…)

Giáo viên quốc phòng chép 100% bài của nhau

Đăng Duy (VNN) – Thông báo do Thiếu tướng Nguyễn Thiện Minh – vụ trưởng Vụ Giáo dục quốc phòng – Bộ GD-ĐT nêu rõ: Hiện tượng này xảy ra tại đợt tập huấn giảng viên giáo dục quốc phòng an ninh các trường ĐH, CĐ 2014.

Văn bản do Thiếu tướng Minh ký cũng cho biết các đợt tập huấn bên cạnh những điểm mạnh trên vẫn còn một số khuyết điểm như quân số tham gia học tập trong từng ngày vẫn còn vắng; Còn một bộ phận không tham gia đủ các nội dung kiểm tra: nhận thức, bắn súng, tham quan. Kết quả kiểm tra thực hành còn thấp, thể hiện kỹ năng của đội ngũ giáo viên, giảng viên còn nhiều hạn chế.

Đáng chú ý có nhiều bài thu hoạch số liệu chưa chính xác, nội dung còn sơ sài; phần liên hệ chưa sát với chức trách, nhiệm vụ của bản thân, còn vi phạm quy chế như làm hộ bài, chép 100% bài của nhau…

Theo Bộ GD-ĐT, đợt tập huấn cho giáo viên, giảng viên giáo dục quốc phòng an ninh năm 2014 có sự đăng ký tham gia của hơn 500 giảng viên, giáo viên đến từ các trường ĐH, CĐ, trung cấp chuyên nghiệp, trung tâm gióa dục quốc phòng- an ninh trong cả nước. Tỉ lệ học viên không đạt yêu cầu và vắng mắt không tham gia chiếm gần 30%.

Tuyên truyền đến người Việt hải ngoại: khả năng thành công?

Gs Nguyễn Văn Tuấn (QuêChoa) – Tiếp tục dòng suy nghĩ về dự án tuyên truyền đến người Việt ở nước ngoài (1), tôi muốn ghi lại đây vài cảm nhận cá nhân. Chương trình này có qui mô khá lớn, vì tốn đến 411 tỉ đồng (tức khoảng 20 triệu USD). Đọc tin này làm tôi nhớ đến một sự kiện cũ ở Úc cũng liên quan đến tuyên truyền của Chính phủ VN và thất bại. Với một “track record” toàn những thất bại trong quá khứ, tôi nghĩ dự án tuyên truyền này cũng sẽ có xác suất thất bại rất cao.

Câu chuyện xảy ra vào năm 2003 ở Sydney làm rúng động chính trường Úc một thời gian ngắn. Dạo đó, theo một chương trình hợp tác truyền thông giữa Úc và VN, Đài truyền hình SBS của Úc có chương trình phát một bản tin của VTV4 [hình như] vào buổi sáng. Dĩ nhiên, đó là một chương trình tuyên truyền với đầy đủ những bản sắc tuyên truyền theo mô hình Mao – Stalin của VN. Thế là người Việt ở Sydney xuống đường biểu tình. Cuộc biểu tình lớn nhất trong lịch sử cộng đồng, vì có đến 14000 người tham gia, và họ cấm trại ngay trước đài SBS nhiều ngày. Yêu sách của người biểu tình là phải chấm dứt ngay việc phát chương trình của VTV4, vì họ cho rằng đó là một chương trình tuyên truyền – propaganda, chứ không hề phục vụ cộng đồng gì cả. Nhiều người rất cảm tính cho rằng nhìn lá cờ đỏ và hình ông Hồ làm họ cảm thấy “anguish” (đau khổ), nhớ lại thời bị giam trong trại cải tạo. Có người còn trình cả toa bác sĩ cho thấy họ phát điên vì nhìn bản tin đó mỗi sáng!

Giới chính khách và ban quản lí SBS kinh ngạc. Họ nói với các cộng đồng khác, họ phát hình chương trình tivi của nước họ thì ai cũng hài lòng và ủng hộ. Với suy nghĩ đó, họ nghĩ phát hình VTV4 là một việc làm tốt mà họ có nghĩa vụ phục vụ cộng đồng người Việt. Thế nhưng họ vừa ngây thơ và … vừa ngu. (Phải nói đúng là “ngu”). Cho đến khi người Việt ở Sydney phản đối mà họ vẫn không hiểu tại sao!? Họ không biết rằng những người Việt ở Úc là dân tị nạn, trốn chạy khỏi VN trong hoàn cảnh bi thảm, và họ không bao giờ quên được những đàn áp hay thời khó khăn mà họ đã trải qua dưới chế độ mới. Họ không nghĩ rằng VTV4 làm tuyên truyền; mãi đến khi có người chỉ ra rằng trên website của VTV có chữ propaganda thì họ mới tin! Họ không ngờ thời đại này mà chữ “tuyên truyền” – propaganda chễm chệ trên website như thế! Quốc hội bang New South Wales phải dành ra một phiên để dân biểu điều trần về vụ này (2). Cuối cùng thì trước sức ép của cộng đồng và chứng cứ propaganda, đài SBS phải huỷ chương trình phát hình VTV4. Thế là VN thất bại.

Kể chuyện xưa như thế để thấy rằng người Việt ở nước ngoài, đa số là dân vượt biên và sống dưới chế độ “Mĩ Nguỵ” xưa kia và nay ở xã hội tự do ngôn luận, rất kị hai chữ “tuyên truyền”. Và, họ có lí do để kị chữ này, mắc dù người trong nước có lẽ quá quen với nó nên thấy … bình thường. Đã nói đến tuyên truyền là nói đến việc cung cấp thông tin một cách chọn lọc, một cách có định hướng. Định hướng bà con ngoài này phải suy nghĩ và tin vào đảng và Nhà nước. Mà, một khi mục tiêu là định hướng thì họ xem khán giả như đàn cừu, họ muốn dẫn dắt đi đâu thì đi. Một suy nghĩ hết sức trịch thượng và ngạo mạn. Đối với người sống trong xã hội phương Tây, đã quá quen với tự do ngôn luận, tự do thông tin, thì việc tuyên truyền là một điều gì rất xa lạ chỉ có trong các xã hội kém phát triển.

Ấy thế mà dự án này có mục tiêu rất rõ ràng là tuyên truyền. Họ chẳng hề dấu giếm về mục tiêu tuyên truyền. Đề án viết “[…] phải tăng cường chất lượng biên tập và biên tập lại các nội dung chương trình phát thanh, truyền hình theo hướng thông tin tuyên truyền về thành tựu của cộng cuộc đổi mới, về chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước […]” (3). Không biết người khác nghĩ sao, nhưng tôi thì thấy mục tiêu này nó tầm thường quá.

Cái giả định đằng sau của mục tiêu này là người Việt ở nước ngoài thiếu thông tin ở trong nước, và họ rất muốn biết thông tin về những thành công vĩ đại của đảng và Nhà nước. Tôi e rằng giả định này sai. Trong thế giới internet, người Việt ở hải ngoại không thiếu những thông tin về VN. Hầu như tất cả các tờ báo lớn ở VN đều có website mà bất cứ ai cũng có thể truy cập và đọc được. Các đài truyền hình VN cũng có website và đã phát hình trên mạng, và bà con ngoài này có thể theo dõi khá dễ dàng. Vậy thì thêm mấy chục kênh truyền hình để làm gì.

Người Việt ở hải ngoại rất bận rộn, đến nổi thì giờ uống li cà phê còn phải ngắn, thì thời giờ đâu mà theo dõi hết chương trình này đến chương trình khác của VN. Mà, chất lượng các chương trình VN cũng chưa cao để thu hút và giữ chân khán giả. Chẳng hạn như những chương trình ca nhạc ở VN làm rất thô sơ, kĩ thuật âm thanh kém, MC thì nói bằng trái tim (cảm tính) chứ không bằng cái đầu (tri thức), cảnh trí thì thô, v.v. Những chương trình như thế khó có thể so sánh với các chương trình ở Mĩ về mặc kĩ thuật và nội dung. Tuy nhiên, ở ngoài nếu có thiếu thì đó là các chương trình … cải lương. Nhưng số người nghe cải lương cũng chẳng bao nhiêu. Nói chung, số khán giả có thì giờ để theo dõi chương trình từ VN chẳng nhiều.

Vả lại, những thông tin mà các đài truyền hình VN cung cấp có thể là những thông tin người Việt ngoài này không muốn biết. Chẳng hạn như chẳng ai muốn biết VN xuất khẩu bao nhiêu tấn gạo, bao nhiêu kilo hải sản, bao nhiêu tấn cà phê chính xác đến từng con số lẻ. Đó là những con số hành chính, nó chẳng có liên quan gì đến người dân thường. Người Việt ở nước ngoài cũng không quan tâm đến những tin tức ông chủ tịch này đón đoàn ngoại giao kia, bà chủ tịch nọ tiếp kiến ông tổng thống này, hay những chuyến đi thăm để chụp hình (photo-op) của các vị lãnh đạo địa phương và trung ương. Đó là những thông báo hay thông cáo chứ không phải tin tức, bởi tính liên quan đến người dân quá thấp.

Ngược lại, có những thông tin người Việt hải ngoại muốn biết mà các cơ sở truyền thông VN ít hay không đưa tin. Đó là tin tức liên quan đến nạn tham nhũng của các quan chức. Đó là tin tức về sự lấn áp của Tàu cộng. Đó là những bản tin xã hội về cuộc sống khổ cực của người dân (chứ không phải những cuộc sống xa hoa của các đại gia). Đó là những phóng sự để người dân nhận thức rõ khi về VN thì phải kì vọng gặp phải, như sự nhũng nhiễu của hải quan, của các cơ quan công quyền VN. Không có những thông tin như thế thì rất khó thu hút sự chú ý của cộng đồng người Việt hải ngoại.

Thật ra, người Việt ở ngoài này còn có cơ hội tiếp cận nhiều thông tin hơn người trong nước. Ở VN thì còn bị tường lửa, còn ở nước ngoài thì chẳng ai cấm đoán người Việt tìm thông tin trên các trang web “lề dân” hay những đài như BBC, RFI, RFA, v.v. Có những tin tức (như cuộc nổi loạn ở Tây nguyên) người Việt ngoài này đã biết trước khi các đài báo trong nước loan tin đến 3 ngày! Những thông tin trên trang web bí ẩn “Quan Lam Báo” đã tiên đoán khá chính xác một số sự kiện trong chính trường VN thì người Việt ở nước ngoài đều biết trước đồng hương trong nước. Do đó, phải nói là chúng ta đang đứng trước một tình huống trớ trêu: ở trong nước thì ra sức cấm đoán và chận thông tin, còn ở ngoài thì hào hiệp cung cấp thông tin.

Tại sao phải ưu tiên cho một cộng đồng chỉ có 4 triệu người vốn đã có nhiều thông tin, mà không lo cho cộng đồng lớn hơn với 85 triệu người đang đói thông tin? Có phải vì cộng đồng ngoài này mỗi năm gửi về VN hơn 15 tỉ USD? Thật ra, cũng nên nhìn mục đích một cách tích cực hơn, đó là chính quyền muốn bà con có thêm thông tin ở trong nước, tránh hiểu lầm bởi những thông tin từ các nguồn “lề trái” hay những nguồn mà chính quyền không công nhận. (Không công nhận nhưng họ vẫn tồn tại). Nhưng như tôi nói trên, muốn làm thế thì phải cải tiến cách làm và phong cách làm. Không nên đưa tin một chiều, đừng tự ca ngợi mình là quá vĩ đại và đỉnh cao trí tuệ, đừng ca ngợi những tấm gương bịa ra như nhân vật Lê Văn Tám, đừng gọi người ta là “nguỵ”, đừng làm như mình là ban phát ân huệ, v.v. Và, điều quan trọng là giảm những người MC nói giọng Bắc kiểu sau 1975, vì tôi cam đoan là rất nhiều người ở ngoài này chịu không nổi thứ ngôn ngữ đó. Tôi biết và hiểu đó là một định kiến rất sai, nhưng nó tồn tại, và nếu muốn thu hút người ta thì phải “rừng nào cọp nấy”. Với kiểu đưa tin như ở trong nước thì sẽ không thích hợp với khán giả ngoài này.

Tiêu ra 20 triệu USD như thế, người ta có lí do để hỏi khả năng thành công là bao nhiêu. Lấy gì để đo lường sự thành công? Có lẽ thành công hiểu theo nghĩa đảng và Nhà nước thuyết phục được cộng đồng người Việt ở nước ngoài suy nghĩ và nói theo suy nghĩ của đảng. Nếu thành công được định nghĩa như thế thì khả năng thành công e rằng không cao. Ngay cả những ngôn từ ở trong nước hiện nay, phần lớn chịu ảnh hưởng cách nói của phía Bắc, rất khó chấp nhận ở ngoài này vì đa số dân đi từ miền Nam và đã quen với ngôn ngữ & cách nói trước 1975. Còn thuyết phục để người Việt ngoài này tin vào cái đẹp của chủ nghĩa cộng sản thì chắc sẽ dứt khoát không bao giờ thành công.

Thật ra, để dự báo mức độ thành công, chúng ta có thể điểm qua các dự án lớn trong quá khứ của Chính phủ. Ở trên, tôi đã trình bày câu chuyện về VTV4 ở Úc, và kết cục là một sự thất bại. Có thể nói là thất bại thê thảm ở Úc nữa. Đến dự án kêu gọi người Việt ở nước ngoài đăng kí quốc tịch VN cũng được phát động rầm rộ, nhưng kết cục chưa đến 6000 người đăng kí quốc tịch VN. Trước đó, dự án cấp visa dài hạn cho người Việt ở nước ngoài cũng thất bại, vì người Việt ngoài này nhanh chóng nhận ra việc Nhà nước “nói dzậy mà không phải dzậy”. Dự án thu hút chuyên gia và trí thức kiều bào trước đây cũng thất bại. Có thể nói rằng hầu như dự án nào của Nhà nước liên quan đến Việt kiều đều thất bại. Do đó, dù biết rằng dự đoán là việc làm nguy hiểm (vì dễ sai), tôi rất nghi ngờ rằng dự án này cũng sẽ có xác suất thất bại rất cao.

(1) http://www.bbc.co.uk/…/v…/2014/11/141104_tvchannels_overseas
(2) http://www.parliament.nsw.gov.au/…/hans…/V3Key/LA20031119021
(3) http://baodientu.chinhphu.vn/…/Cung-cap-24-kenh-…/212490.vgp

Thống nhất quản lý Nhà nước về GD&ĐT: Vẫn rối như canh hẹ

Theo Phương Nguyễn /ĐĐK (VNN) – Xã hội nhiều năm phản ứng chuyện hệ thống giáo dục bị tách ra làm 2 mảng do 2 Bộ quản lý làm nát quy hoạch mạng lưới các cơ sở giáo dục, chồng chéo gây lãng phí, rối bài toán phân luồng. Giải pháp cho hồi kết thống nhất hệ thống giáo dục xem ra vẫn chưa hết lùng bùng khâu quản lý.

Giáo dục nghề nghiệp “thoát ly” GD&ĐT?

Chỉ có một nguyên lý để chống lãng phí rối rắm nằm đơn giản trong chân lý sau: Bộ GD&ĐT chịu trách nhiệm trước Chính phủ quản lý nhà nước về hệ thống GD&ĐT, trong đó có giáo dục nghề nghiệp. Muốn vậy cần sửa đổi và đổi tên Luật Dạy nghề thành Luật Giáo dục nghề nghiệp để phù hợp với Hiến pháp 2013 cũng như thực tế phát triển GD&ĐT của đất nước.

cao đẳng, cao đẳng nghề
Các trường cao đẳng sẽ về đâu?

Khi hội thảo góp ý Dự thảo Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Dạy nghề trình Quốc hội kỳ họp thứ 7, tháng 6 vừa qua, GS Nguyễn Minh Đường, Ủy viện Hội đồng quốc gia giáo dục và Phát triển nguồn nhân lực cũng đề nghị nên đổi tên thành Luật Giáo dục nghề nghiệp.

Nhưng mới đây, Văn phòng Chính phủ thông báo kết luận của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Chủ tịch UBQG Đổi mới GD&ĐT, Bộ LĐTB&XH là cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp. Các trường CĐ, TCCN sẽ tách khỏi Bộ GD&ĐT để sáp nhập vào hệ thống giáo dục nghề nghiệp.

Vậy là đầu mối quản lý giáo dục vẫn tồn tại 2 hệ thống riêng biệt thuộc hai Bộ và vẫn bị cắt khúc, khi giáo dục nghề nghiệp (sơ, trung cấp và CĐ) do Bộ LĐTB&XH quản lý, còn giáo dục từ mầm non đến hết phổ thông và đào tạo ĐH trở lên do Bộ GD&ĐT quản lý.

Thật khó tin cách “đổi chủ” đó hứa hẹn giúp người dân cải thiện được kỹ năng nghề nghiệp, có thêm cơ hội việc làm và thu nhập, góp phần làm cho hệ thống giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục ĐH phát triển hài hòa, ổn định và bền vững.

Bộ GD&ĐT quản nhiều việc nhưng vì vậy mà cắt bớt chức năng giáo dục nghề nghiệp, hệ thống giáo dục sẽ lại rơi vào thảm trạng “cắt khúc”, trong khi ngành lao động cũng quá nhiều việc phải đương đầu, như tệ nạn xã hội, chính sách xóa đói giảm nghèo, gia đình người có công, bảo hiểm v.v…

Thống nhất quản lý Nhà nước về GD&ĐT là đòi hỏi tất yếu của đổi mới căn bản toàn diện. Nếu Bộ GD&ĐT nhiều việc và yếu kém, Chính phủ nên tăng cường sức mạnh cho Bộ, tăng cường phân cấp cho địa phương, thậm chí điều chỉnh người đứng đầu ngành nếu không đảm đương nổi trọng trách lớn.

Chuyện cũ chưa cũ

Thực ra cách đây ít năm, Bộ GD&ĐT từng chuẩn bị Đề án thành lập Tổng cục dạy nghề thuộc Bộ GD&ĐT. Khi đó Ban Khoa giáo có ý kiến tán thành, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT gửi Thủ tướng kiến nghị giao công tác dạy nghề cho Bộ này quản lý để thực hiện chức năng GD&ĐT. Sau đó khi tái thành lập Tổng cục dạy nghề, Chính phủ lại giao cho Bộ LĐTB&XH quản lý (Nghị định số 33/1998/NĐ-CP), vì dạy nghề cần gắn với việc làm và lao động.

Nhưng Tổng cục dạy nghề tách khỏi ngành giáo dục gây nên những lỗi hệ thống không thể khắc phục được nhiều năm nay. Nhà nước không có được các số liệu tin cậy về số nhân lực được đào tạo ra từ các cơ sở dạy nghề, giáo dục nghề nghiệp nói chung, để phục vụ cho lập kế hoạch phát triển nhân lực.

Bộ GD&ĐT quản lý các trường TCCN, CĐ. Bộ LĐTB&XH quản lý các trường trung cấp nghề và CĐ nghề. Cả hai cùng làm tuyển sinh, xây dựng chương trình, giáo trình, bồi dưỡng đào tạo giáo viên, kiểm định chất lượng, tiêu chuẩn nghề nghiệp, thanh tra kiểm tra, quy hoạch mạng lưới… Con số chi phí bị nhân đôi cho các nhiệm vụ đó.

Chỉ tính mỗi chương trình khung dạy nghề trình độ trung cấp nghề và CĐ nghề trung bình chi 480 đến 500 triệu đồng, nhân với cỡ 300 chương trình, hết khoảng hàng trăm tỷ đồng, chưa kể đến hàng trăm chương trình khung TCCN không khác nhiều với chương trình khung dạy nghề. Chưa kể hình thành thêm cơ quan chức năng chuyên quản lý HS, SV ở hai Bộ cũng tốn gấp hai lần, làm phân tán nguồn lực.

Rối rắm “như canh hẹ” còn vì trên địa bàn cấp quận huyện nhiều năm tồn tại ít nhất 3 loại trung tâm đều dạy nghề/giáo dục nghề nghiệp do 2 Sở GD&ĐT, LĐTB&XH quản lý. Tất nhiên cũng lại 2 nguồn kinh phí cấp về theo 2 kênh quản lý nhà nước.

“Thủ phạm” của sự rối rắm, kém hiệu quả, làm khổ người học này lại chính là quản lý nhà nước bị chia cắt, chồng chéo trong vai trò, chức năng  đào tạo nhân lực giữa ngành giáo dục và ngành lao động. Trong khi ngành giáo dục đổi mới tuyển sinh, đào tạo, ngành lao động dường như đứng ngoài và ít có vai trò trong tư vấn hướng nghiệp, phân luồng học sinh phổ thông…

“Tái cơ cấu” khiến nhiều trường… ngạc nhiên!

Tới đây nếu Luật Dạy nghề đổi tên thành Luật Giáo dục nghề nghiệp được Quốc hội thông qua, sẽ tác động lớn đến hệ thống GD&ĐT và chính sách phát triển nguồn nhân lực.

Tuy nhiên, hầu hết các trường TCCN, CĐ đang thuộc Bộ GD&ĐT quản lý rất ngỡ ngàng khi họ thuộc diện “đổi chủ” nhưng lại không được tham gia trao đổi, bàn bạc góp ý kiến. Điều này trái với nguyên tắc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, các bên liên quan, đối tượng điều chỉnh của Luật phải được góp ý kiến.

63 sở GD&ĐT, cùng trên 500 trường TCCN, CĐ hầu như không được hỏi ý kiến, vậy không biết Luật GDNN một khi được ban hành sẽ thực hiện thế nào? Do vậy cần lấy ý kiến rộng rãi các trường CĐ, TCCN và 63 sở GDĐT (đều do Bộ GD&ĐT quản lý) về Luật GDNN.

Đã đến lúc chúng ta cần thiết kế thống nhất khung các trình độ xuất phát từ yêu cầu thị trường lao động, đảm bảo tốt nhất cho việc hội nhập quốc tế về văn bằng và công nhận trình độ gắn với các vị trí việc làm trong thị trường này.

Thật khó tưởng tượng việc tái cơ cấu GD nghề nghiệp và quy hoạch tốt mạng lưới cơ sở GD nghề nghiệp ở các địa phương, đáp ứng các trình độ nhân lực thị trường lao động có nhu cầu và hội nhập cộng đồng ASEAN năm 2015, mà lại thiếu vắng vai trò Bộ GD&ĐT.

Trao đổi băn khoăn này, một số chuyên gia giáo dục cho rằng, đâu phải chỉ dạy nghề mới gắn với việc làm, mà cả hệ thống GD&ĐT, kể cả ĐH và sau ĐH đều gắn với việc làm, gắn với nhu cầu xã hội. Hơn nữa, còn chia cắt trong quản lý nhà nước thì sẽ còn tình trạng mất cân đối cơ cấu trình độ, còn tình trạng phát triển GD&ĐT thiếu quy hoạch: Dạy nghề ít người học, ĐH nhiều người học để rồi thất nghiệp.

Vụ trưởng Vụ Giáo dục chuyên nghiệp (Bộ GD&ĐT) Hoàng Ngọc Vinh cho biết về giáo dục TCCN, “… hiện 90% công việc quản lý nhà nước Bộ GD&ĐT đã giao cho địa phương, tức UBND và Sở GD&ĐT đang thực hiện rất tốt”.

Như vậy, việc chia cắt trong quản lý hiện nay về GD&ĐT chưa có cơ sở khoa học và đi ngược tinh thần đột phá chiến lược mà Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI chỉ ra, đó là đột phá về thể chế với tinh thần chủ đạo là đẩy mạnh cải cách hành chính.

Việc tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước đang lộ những yếu kém, nhưng xem ra sự tái cơ cấu GD&ĐT lại rất có thể làm trầm trọng thêm tình trạng đào tạo nhân lực, không đáp ứng cho hội nhập quốc tế. Do đó, điều quan trọng là cần làm rõ trước Quốc hội, Bộ trưởng nào phải chịu trách nhiệm về tình trạng mất cân đối cơ cấu trình độ nguồn nhân lực lâu nay.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.