Không chỉ có một bức tường Berlin ô nhục

Posted: November 10, 2014 in Uncategorized
Tags:

Nguyễn Hữu Vinh (Blog RFA) – Ngày 9/11, kỷ niệm 25 năm ngày bức tường Berlin sụp đổ – một sự kiện đáng nhớ trong đời sống chính trị thế giới, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong việc sụp đổ bất khả kháng của cái gọi là “Phe Xã Hội Chủ Nghĩa”.

� Xem thêm: Ô nhục này dành cho ai?

Người ta còn nhớ, cách đó chưa lâu Liên Xô – được coi là “Người anh cả” của hệ thống Cộng sản trên thế giới đã tuyên bố “Hoàn thành giai đoạn xây dựng CNXH để tiến lên bước đầu xây dựng “Chủ nghĩa Cộng sản”, ở đó “Của cải tuôn ra dào dạt, người người làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu” và mọi chế độ, nhà nước, đảng phái… không còn tồn tại. Tưởng như, khối cộng sản thế giới sẽ là một thực thể vững chắc không gì lay chuyển nổi.

Thế nhưng, chẳng bao lâu sau đó, những lời tuyên bố hùng hồn đó đã trở nên vô hồn trong thực tế. Khối cộng sản thi nhau sụp đổ như một quy luật tất yếu của xã hội loài người luôn hướng về phía tiến bộ.

Từ những bức tường ô nhục trên thế giới và miệng lưỡi cộng sản

Theo chỉ thị của những người Cộng sản trong Đảng Xã hội Chủ nghĩa Thống nhất Đức, ngày 12/8/1961, Hội đồng Bộ trưởng Đông Đức đã ra một nghị quyết về việc xây dựng “Bức tường chống phát xít”. Trong đêm 12 rạng sáng ngày 13 tháng 8 năm 1961, một lực lượng hàng chục ngàn người đã được huy động để xây dưng bức tường nhằm ngăn cản những công dân, các nhà khoa học đang sống trong “Thiên đường XHCN Đông Đức” bỏ chạy sang địa ngục trần gian Cộng hòa Liên bang Đức.

Kể từ đó, bức tường được mang tên là bức tường ô nhục, tồn tại 28 năm.

Sự sụp đổ của bức tường ô nhục Berlin dù đã xảy ra 25 năm trước, vẫn còn là một sự kiện để lại dấu ấn trong lịch sử thế giới: Lích sử của thời kỳ những người cộng sản trên thế giới tác oai tác quái, nói xuông làm ngược và đảo lộn các giá trị cuộc sống.

Không chỉ giữa Đông và Tây Đức mới có bức tường ô nhục. Khi Hồng Kong còn là một thuộc địa của Anh, thì trên dòng Thâm quyến, một bức tường bằng bê tông nổi lên giữa dòng sông phía trên cắm cọc thép, chăng thép gai và bắt dây điện trần nhằm ngăn chặn hiện tượng vượt biên.

Trớ trêu thay, lịch sử chưa ghi nhận một trường hợp nào công dân CHLB Đức chạy sang Đông Đức, và cũng tương tự, không có công dân HongKong nào vượt biên chạy vào Trung Hoa lục địa cộng sản. Nghĩa là không hề có con người từ xứ “địa ngục thuộc địa của đế quốc” để chạy vào “Thiên đường XHCN” mà chỉ có ngược lại. Dù có sự canh phòng cẩn mật của lực lượng công an, cảnh sát Đông Đức, con số vượt bức tường ô nhục để chạy trốn khỏi “thiên đường” vẫn là con số ngàn người trong suốt quá trình tồn tại của nó. Dù trên dòng Thâm Quyến, trung cộng đã xây hàng loạt đồn gác, sẵn sàng nhả đạn vào dân mình nếu phát hiện vượt biên sang HongKong, thì hàng loạt người Trung Hoa đại lục vẫn bất chấp hiểm nguy, bất chấp mọi thứ đe dọa để thoát bằng được ra khỏi thiên đường Cộng sản.

Thế nhưng, bất chấp những thực tế đã diễn ra trên thế giới như những cái vả vào những cái miệng lời tuyên truyền không biết ngượng kia của hệ thống Cộng sản, ngày nay ở một vài nơi trên thế giới, những luận điệu đó vẫn cứ vang lên như sự trêu ngươi những người nghiêm túc – một trong những địa chỉ ít ỏi đó là Việt Nam.

Bất chấp rằng, hàng triệu người Việt đã thực hiện hai cuộc bỏ phiếu bằng chân vĩ đại từ những năm 1954 chạy trốn Cộng sản ở miền Bắc và cuộc chạy trốn lần thứ 2 kể từ năm 1975 đến nay vẫn chưa dứt, những người Cộng sản Việt Nam vẫn có thể mở miệng mà rằng: “Việt Nam có nền dân chủ gấp vạn lần dân chủ tư sản” và rằng “Dưới sự lãnh đạo sáng suốt và tài tình của Đảng Cộng sản, Việt Nam giàu mạnh, phát triển, vĩ đại và anh hùng”…

Đến những bức tường ô nhục ở Việt Nam

Không chỉ có ở Berlin hay Thâm Quyến mới có những bức tường dùng để ngăn chặn sự chạy trốn khỏi thiên đường được mệnh danh là bức tường ô nhục. Ở Việt Nam, một mắt xích trong hệ thống cộng sản thế giới, không chỉ tồn tại bức tường vĩ tuyến thời chiến tranh, mà ngay trong lòng Xã hội chủ nghĩa, những bức tường ô nhục vẫn cứ mọc lên và mang nhiều sắc thái khác nhau.

Dù sao bức tường Berlin và Thâm Quyến, cũng chỉ là những bức tường mang chức năng của cánh cửa nhà tù, nhằm giam nhốt cả một dân tộc, một bộ phận đất nước hướng đến bến bờ tự do. Còn ở Việt Nam, những bức tường còn có chức năng “cao cả” hơn thế, “sáng tạo” hơn thế và “vinh quang” hơn thế. Đó là những bức tường nhằm đánh dấu sự chiếm cướp một cách bất luật pháp, bất nhân, bất nghĩa và bất lương nhất chỉ có trong lòng Cộng sản.

Năm 1950, Khâm sứ Dooley chuyển trụ sở ra Hà Nội, được Tòa Tổng Giám mục Hà Nội cho mượn cơ ngơi để làm Toà Khâm Sứ. Trụ sở Tòa Khâm Sứ Hà Nội nằm cạnh Toà Giám mục trong khuôn viên đất của Nhà thờ lớn Hà Nội là Nhà Thờ Chính Toà của Tổng Giáo phận Hà Nội.

Dù ngay từ khi thành lập nước, Việt Nam luôn mồm tuyên bố tự do tôn giáo, tự do tín ngưỡng, thì năm 1959, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bắt đầu dùng các biện pháp chèn ép và đàn áp Công giáo, ra lệnh cho các giáo sĩ ngoại quốc phải rời khỏi miền Bắc. Khâm sứ Tòa Thánh Vatican bị đuổi đi và trước khi đi ngài đã trả lại ngôi nhà và khu đất mượn của Tòa TGM Hà Nội.

Nếu như bức tường Berlin được xây dựng trong đêm 12/8/1961 để giam giữ một nửa dân tộc Đức, thì ở Việt Nam, cũng trong thời gian đó, một bức tường được xây như sau: “Đến một ngày tất cả các thành phần trong Nhà Chung Hà Nội, từ Đức Giám Mục, các Linh Mục, nam nữ Tu Sĩ đều được chính quyền triệu tập ra trụ sở suốt từ sáng đến trưa. Khi các ngài về đến nhà vào khoảng 12 giờ trưa, đã thấy một bức tường cao ngăn giữa Tòa Giám Mục và Tòa Khâm Sứ được mọc lên, bên trên có gắn giây thép gai, còn chừa lại một khoảng trống, đủ để làm một lối nhỏ thông giữa Tòa Giám Mục với Tòa Khâm Sứ. Mọi người hằng ngày vẫn có thể qua lối này để sang cầu nguyện với Đức Mẹ tại núi đá bên Tòa Khâm Sứ. 

Song sau một thời gian, chính quyền đánh tiếng đe dọa Đức Hồng Y Trịnh Văn Căn rằng: phải tháo dỡ núi đá và tượng Đức Mẹ chuyển sang phía Nhà Chung, nếu để đó, họ sẽ không chịu trách nhiệm về việc các phần tử xấu có thể xâm phạm. Đức Hồng Y… đã vội vàng cho di chuyển núi đá và tượng Đức Mẹ về phía bên cạnh Tòa Giám Mục như chúng ta thấy ngày nay. Khi việc di dời kết thúc cũng là lúc bức tường ngăn được xây kín lại. Thế là: Đất lại có “Đai”. Chả hiểu những việc đó dựa trên cơ sở của luật nào, chỉ biết rằng căn bản của mọi sự là luật chuyên chính!”.

Và nhà cầm quyền hoàn thành việc cướp đoạt từ đó.

Thế rồi, đến năm 2008, người ta mới phát hiện ra nó được bán cho một nhóm lợi ích nào đó, và họ đang đập phá, phi tang cơ sở đó là ngôi nhà. Lòng dân nổi giận, họ tập trung về để yêu cầu nhà cầm quyền Hà Nội cho biết: Tòa Khâm sứ và khu đất kia được xin, mượn, cho, cướp hay bằng cách nào, căn cứ vào hệ thống văn bản pháp luật nào?

Tương tự, ở Giáo xứ Thái Hà, từ năm 1928, nhà thờ đã mua hơn 63.000 mét vuông đất để xây tu viện và nơi thờ tự. Thế rồi trong một đất nước mà Hiến pháp và pháp luật luôn ghi rõ: “Nơi thờ tự được bảo vệ” thì đất đai của nhà thờ, các công trình được nhà nước từ mượn không trả đến cướp và chia chác. Cho đến 2008, khu đất và nhà cửa của nhà thờ được chia chác thành hàng chục khu đất biệt thự, thì người dân mới kiên quyết đòi lại mà rằng: “Mượn thì phải trả”.

Hoảng hốt và lúng túng trước lòng dân, nhà cầm quyền Hà Nội bối rối như gà mắc tóc, mọi chiêu bài dối trá và bạo lực được đem ra thi thố.

Thế rồi, vẫn tiếp tục bài học đã học được từ xưa của những người Cộng sản là bạo lực, lén lút để che đậy thành quả cướp bóc. Hai Công viên được khẩn trương hoàn thành với tốc độ kỷ lục chỉ 1 tuần dưới sự bảo vệ của chó, cảnh sát, công an và các loại lực lượng được huy động.

Sự cướp bóc nào cũng vội vã, hành động nào bất chính cũng muốn được che đậy.

Nhưng, thực tế không dễ thế bởi thời nay không còn là những năm 60 của thế kỷ trước và Cộng sản không còn là một bóng ma trùm cả thiên hạ làm người ta khiếp sợ.

Qua sự kiện này, nhà cầm quyền Hà Nội đã cho cả thế giới rõ nhất bộ mặt thật của họ, mà đã mấy chục năm họ cố công giữ gìn, bôi trét và đánh lừa khá thành công.

Đó là hệ thuống quan chức dốt nát đến tệ hại, mất nhân cách đến không ngờ.

Đó là hệ thống tuyên truyền dối trá và bất chấp lương tri.

Đó là bộ mặt những quan chức coi lời hứa chỉ là một âm mưu lừa đảo.

Và đó là lòng dân đã quá chán ngán và mệt mỏi với hệ thống này. Chính sự kiện đó, giáo dân Việt Nam đã biết đoàn kết lại để tiến hành một cuộc đấu vì Công lý – Sự thật không chỉ cho giáo hội mà là cho cả đất nước và xã hội.

Ma đưa lối, quỷ dẫn đường

Bức tường Berlin được xây trong đêm 12/8/1961 tồn tại hơn 28 năm để ghi lại tội ác và những nỗi nhục nhã đau đớn của Chủ nghĩa Cộng sản.

Bức tường đó đã sụp đổ trong đêm thứ Năm ngày 9 tháng 11, rạng sáng ngày thứ Sáu ngày 10 tháng 11 năm 1989 kết thúc một thời kỳ giam hãm một dân tộc.

Điều đó như một quy luật xã hội bất khả biến. Nó không thể đảo ngược bởi động lực của nó là lòng dân.

Thế nhưng, như lời cha ông đã nói, ngày nay nhà cầm quyền Hà Nội vẫn cứ được ma đưa lối, quỷ dẫn đường đển nhắm mắt, bịt tai trước một thực tế tác động của những quy luật đó. Hôm nay, họ vẫn tiếp tục xây dựng những bức tường ô nhục mới: Họ đang cướp đoạt Hồ Ba Giang của Giáo xứ Thái Hà trong những ngày này.

Hẳn nhiên, là hậu quả sẽ không nhỏ cho những ai đã và còn “giơ chân đạp mũi nhọn”. (Hà Nội, ngày 9/11/2014)

Ô nhục này dành cho ai?

Tạp ghi Huy Phương (NV) – Ngày 9 Tháng Mười Một mỗi năm, kể từ năm 1989, cả thế giới chào mừng ngày Bức Tường Berlin sụp đổ. Không phải chỉ là những phiên bản, mà bức tường này được cắt từng mảnh, vận chuyển đến nhiều nơi trên thế giới, lắp đặt lại xem như một di tích cần ghi nhớ, bài học của một giai đoạn ô nhục của chế độ Cộng Sản. Một đoạn của bức tường này được để tại Thư Viện Tổng Thống Ronald Reagan ở Simi Valley, California.


Tác giả đứng bên một đoạn Bức Tường Berlin hồi năm 2000.
(Hình: Huy Phương cung cấp)

Sau khi Thế Chiến 2 kết thúc, Cộng Hòa Dân Chủ Đức (Đông Đức) được thành lập tại vùng quản lý của quân đội Liên Xô tại Đức ngày 7 Tháng Mười, 1949, sau khi Cộng Hòa Liên Bang Đức (Tây Đức) ra đời tại phần phía Tây trong khu vực Pháp, Anh và Hoa Kỳ quản lý. Vì lý do còn sự chiếm đóng của quân đội Liên Xô, mặc dù thành lập từ 1949, mãi đến năm 1955, Đông Đức mới tuyên bố đầy đủ quyền tự trị của một quốc gia. Sau gần nửa thế kỷ theo đuổi một nền kinh tế lạc hậu, với một không khí chính trị nô lệ, áp bức, khi nước Đức thống nhất, tổng sản lượng quốc gia (GDP) của Đông Đức chỉ góp được 7% của cả nước Đức so với 93% của Tây Đức dù dân Tây Đức chỉ chiếm 1/3 dân số cả nước. Suốt một thời gian dài sau khi thống nhất, Tây Đức đã hy sinh, chia sẻ để cả hai miền đều no ấm, thịnh vượng bằng nhau.

Tại sao phía Cộng Sản phải dựng lên Bức Tường Berlin? Ông Mikhail Pervukhin, Đại Sứ Liên Xô tại Đông Đức, đã trả lời câu hỏi này, “Nếu không có bức tường người dân sẽ thấy được sự yếu kém của phía Đông so với phía Tây.” Bức tường Berlin phải được dựng lên, nếu không một ngày kia, không còn một người dân nào ở lại với chế độ Cộng Sản, kể cả binh lính. Chỉ trong vòng sáu năm, từ năm 1945 đến 1961, sau khi rơi vào tay Cộng Sản, 20% dân số Đông Đức (3 triệu rưỡi người) đã vượt thoát sang Tây Đức.

Bức tường Berlin còn được gọi là “Bức Tường Ô Nhục” do chính phủ Đông Đức dựng nên từ ngày 13 Tháng Tám, 1961 được gọi là “tường thành bảo vệ chống Phát Xít,” nhưng rõ ràng không thấy một người Phát Xít nào leo ngược bức tường đi tìm hạnh phúc trong thế giới Cộng Sản. Bức tường này là một trong những biểu tượng nổi tiếng nhất của Chiến Tranh Lạnh và của việc chia cắt nước Đức.

Mặc dù với hàng rào bê tông, cốt sắt có hệ thống báo động tự động, chó săn, 12,000 công an lùng sục ngày đêm, tháp canh, roi điện, hố sâu cản xe tăng và cơ giới, cho đến ngày bức tường sụp đổ đã có hơn 5,000 người dân Đông Đức bất chấp hiểm nguy vượt qua bức tường này thành công đến Tây Đức. Ngoài ra, cũng có 200 người dân Đông Đức bị bắn hạ khi tìm cách vượt qua vùng tự do.

Bài học của Bức Tường Berlin chưa đủ để thức tỉnh lương tri của những chế độ Cộng Sản, nhất là Cộng Sản Việt Nam. Sau Hiệp Định Geneva 1954, sông Bến Hải được làm ranh giới chia cắt hai miền Việt Nam, một triệu người miền Bắc không chờ “bộ đội cụ Hồ” vào tiếp thu Hà Nội đã khăn gói di cư vào Nam. Sau đó hơn 20 năm, cũng chưa thấy ai ở miền Nam bơi qua sông để ra Bắc tìm tự do, no ấm mà chỉ thấy những người bến Bắc, dưới mạng lưới công an dày đặc, tìm đường vào Nam.

Sau Tháng Tư, 1975, khi Bắc Việt lấp được sông Bến Hải thì hơn một triệu người không muốn “được giải phóng” đã bồng bế nhau ra đi, và sau đó, hơn nửa triệu người lại tìm đường vượt biên, vượt biển và cứ hai người tìm cách ra đi thì có một người thiệt mạng. Giá như có một cây cầu có thể nối liền Việt Nam với các nước tự do, hay có tàu bè đến cảng Sài Gòn hay Hải Phòng rước người ra đi vô thời hạn, thì Việt Nam không còn lại được một cái cột đèn để soi sáng “lăng Bác âm u.”

Cho đến 39 năm sau ngày “giải phóng,” vì sao còn cảnh người Việt đóng tàu vượt biển sang Úc, và chuyện đi lấy chồng ngoại, chuyện cầm cố nhà đất để được đi lao động nước ngoài, chuyện cho con du học mà mong con đừng nghĩ chuyện về, chuyện chuyển vốn ra ngoại quốc để lập “đầu cầu” cho mai hậu, phải chăng tất cả điều đó đã nói lên sự “ưu việt” của chế độ Cộng Sản, một chế độ bị chán ghét, đã xô đẩy mọi người phải rời bỏ quê hương, đất nước ra đi.

Nếu Cuba, Bắc Hàn mở cổng biên giới, việc gì sẽ xảy ra.

Nếu biên giới giữa Hoa Kỳ và Mexico bỏ ngỏ thì nước Mỹ sẽ tràn ngập di dân Nam Mỹ bất hợp pháp.

Chính phủ Mỹ đã bỏ ra hàng tỷ đô la để xây vài nghìn cây số tường cao tại biên giới hai nước không phải để ngăn người Mỹ chạy sang lập nghiệp bên đất Mexico. Trước đây, Hoa Kỳ đã không tiên liệu được chuyện hằng năm có khoảng 600,000 dân gốc Hispanic vượt biên vào Hoa Kỳ.
Đông Đức xây bức tường để ngăn dân của họ chạy ra, Hoa Kỳ xây hàng rào biên giới để ngăn dân ở ngoài nước chạy vào. Tị nạn chính trị hay kinh tế thì cũng là do sự lỗi lầm, ngu dốt của một chế độ.

Lúc 11 giờ 30 phút đêm 9 Tháng Mười Một, 1989, một trung tá công an biên phòng Đông Đức, ông Harald Jager, đã khóc sau khi ra lệnh mở cửa Tường Berlin, trong đêm hàng nghìn người đã ồ ạt chạy sang phía Tây. Một năm sau, nước Đức thống nhất trong tự do mà không đổ một giọt máu. Việt Nam “thống nhất” trong một hoàn cảnh khốn nạn nhất, tù đày, kỳ thị, chia lìa, đói nghèo, oan khuất, thù hận ngút trời, mà “đống xương vô định đã cao bằng đầu!”

Bây giờ có một bức tường, không phải xây bằng xi măng cốt sắt nhưng 40 năm nay vẫn còn tồn tại giữa những con người Việt Nam, mà phần ô nhục dành cho phía Cộng Sản.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.