Đừng để chất xám người Việt đi phục vụ nước ngoài

Posted: November 12, 2014 in Uncategorized
Tags:

Gia Minh (RFA) – Chế tạo máy, đưa ra qui trình trồng mỳ (sắn), rồi tham gia sửa chữa xe bọc thép đến chế tạo xe bọc thép mới với những tính năng đặc biệt phù hợp với khu vực Đông Nam Á, hai cha con ông Trần Quốc Hải- Trần Quốc Thanh được Vương Quốc Kampuchia trao tặng huân chương Đại tướng quân.

Sự kiện này được truyền thông Việt Nam loan tin khá nhiều và cư dân mạng xôn xao bình luận về việc nguồn chất xám không được trọng dụng để phục vụ đất nước; trong khi đó nước ngoài lại biết trân trọng những đóng góp khoa học như thế.


.
� Xem thêm: Trích ABS điểm tin + Xung quanh chuyện bố con ông Trần Quốc Hải ở Tây Ninh chế tạo xe bọc thép cho Căm Pu Chia + Xem ảnh Campuchia diễu binh bằng xe bọc thép nông dân Việt Nam sửa.

Ngoài máy trồng mì, ông Trần Quốc Hải còn sản xuất hàng loạt máy như máy nhổ củ mì, máy làm cỏ, máy bón phân…, cơ giới hóa gần như toàn bộ quy trình trồng mì. Courtesy Cokhinangluong.com

Trong chương trình Khoa học- Môi trường hôm nay, Gia Minh nói chuyện với ông Trần Quốc Hải. Từ xưởng của gia đình ở ấp 2, xã Suối Dây, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, ‘nhà khoa học chân đất’ Trần Quốc Hải mở đầu câu chuyện với thời điểm nhận được huân chương Đại tướng quân của Kampuchia:

Ông Trần Quốc Hải: Vào ngày 13 tháng 10 năm 2014.

Gia Minh: Được danh hiệu đó do giúp cho Kampuchia những gì?

Ông Trần Quốc Hải: Thứ nhất tôi cơ giới hóa cây mỳ cho Kampuchia, thứ nhì tôi nâng cấp, sửa chữa xe bọc thép cho quân đội Kampuchia và sau cùng là chế tạo một chiếc xe bọc thép với tính năng mới, đặc thù riêng, tác chiến ở vùng Đông Nam Á cho quân đội Kampuchia.

Gia Minh: Có ba đóng góp cho họ như vậy; nhưng trước hết việc cơ giới hóa canh tác cây mỳ rất cần cho nông dân, ông có thể nói rõ hơn về điều này?

Ông Trần Quốc Hải: Từ hồi nào giờ, cây mỳ tại vùng Đông Dương này đều canh tác bằng tay; như thế hiệu suất thấp. Tôi chế tạo ra máy trồng mỳ, chăm sóc cỏ, bón phân bằng máy thích hợp với vùng Đông Nam á. Ở Kampuchia người ta cần trồng mỳ vì bây giờ nhu cầu rất lớn, họ đọc qua mạng và thấy nên cử một ông trung tướng ( tên Soy Narit) xuống tiếp xúc mua bán với tôi và tôi chuyển giao công nghệ cho họ. Họ ứng dụng tại tỉnh Kompong Speu thuộc Lữ đoàn 70.

Gia Minh: Công nghệ này có được ứng dụng tại khu vực Tây Ninh ra sao không?

Ông Trần Quốc Hải: Có ứng dụng trồng đại trà trên 64 héc ta, kết quả thu được rất lớn, tức trên một héc ta thu được hơn 80 tấn. Cách nhà tôi khoảng 10 cây số, diện tích đất lâm nghiệp đó do anh Bình quản lý, tôi cung cấp máy cho anh ta, sau đó tôi và anh Bình tìm ra một qui trình mới canh tác khác xa so với truyền thống, tập tục của ông bà mình. Tức trồng bằng máy, thu hoạch bằng máy, bón phân, chăm sóc bằng máy, bỏ qua giai đoạn phun thuốc sát trùng, máy móc thay thế. Máy móc rất dễ sử dụng, trình độ của người nông dân tiếp xúc rất dễ dàng. Hiện nay anh Bình đang thu hoạch và bình quân trên 80 tấn một héc ta.

Gia Minh: Công nghệ này có được sở và bộ nông nghiệp công nhận không và có được áp dụng cho nơi nào khác không?

Ông Trần Quốc Hải: các bộ, ban ngành công nghệ đã công nhận một phần rồi. Ví dụ như máy trồng mỳ đã được sở khoa học- công nghệ công nhận. Và qui trình trồng mỳ thì họ nói cứ quay video clip lại, sở khoa học- công nghệ sẽ cử người xuống để đăng lý sở hữu trí tuệ.

Gia đình ông Trần Quốc Hải bên cạnh những chiếc xe của hai cha con ông sửa chữa và chế tạo Gia đình ông Trần Quốc Hải bên cạnh những chiếc xe của hai cha con ông sửa chữa và chế tạo

Gia Minh: Đã lâu rồi và mang sang ứng dụng bên Kampuchia mà chưa đăng ký?

Ông Trần Quốc Hải: Quan niệm của tôi muốn làm ra máy móc để sản xuất nhiều lương thực cho con người, tôi không muốn dành riêng cho tôi. Tôi đọc trên mạng thấy rằng cây mỳ hiện là cây chủ lực ở quê hương tôi nhưng cũng rất cần để cứu đói thế giới trong chương trình của Bill Gates. Tôi là người đam mê khoa học, tôi cũng muốn đóng góp một phần vào chương trình này nên tôi đặc biệt nghiên cứu về cây mỳ và những máy móc liên quan để sau khi thành công tôi sẽ tặng máy móc và qui trình của công nghệ này cho chương trình của Bill Gates nhằm cứu đói người Phi Châu. Trước đây từng có ông Võ Tòng Xuân đại diện cho chương trình của Bill Gates ở Nigeria có tiếp xúc với tôi nhưng do lúc đó qui trình chưa hoàn chỉnh thành ra tôi chưa hợp tác được. Bây giờ qui trình đó đã thành công rồi, tôi muốn đóng góp cho chương trình của Bill Gatges, tôi muốn san xẻ- trong khi mình no mà người ta đói thì mình là con người với con người phải có sự chia sẻ.

Gia Minh: Từ lĩnh vực máy móc nông nghiệp, sao ông lại chuyển sang lĩnh vực sửa chữa xe bọc thép cho Kampuchia và làm ra xe bọc thép mới như thế?

Ông Trần Quốc Hải: Sau khi tôi chuyển giao công nghệ trồng mỳ cho Kampuchia, tôi ở Lữ đoàn 70 tại đó có những xe bọc thép do Liên Xô chế tạo và hay bị hỏng hóc vì Liên xô chế tạo không phù hợp điều kiện nhiệt đới. Liên Xô, Ukraina và Việt Nam tham gia sửa chữa những xe đó. Họ ( Kampuchia) rất phàn nàn; chuyện Liên xô và Ukraina thì tôi không quan tâm, nhưng khi họ phàn nàn vấn đề chuyên gia Việt Nam sửa chữa xong, quay lưng đi thì xe lại hư. Tôi là người Việt Nam nên tôi tự ái, hơn nữa tôi biết cơ khí nên tôi sửa một số xe cho họ. Sau đó tôi nghiên cứu và thấy xe Liên xô chế tạo không phù hợp với chiến trường, thời tiết Đông Dương. Tốt hơn hết nên cải tiến động cơ diesel và chế tạo lại cho phù hợp với vùng nhiệt đới. Họ nhất trí, đầu tiên tôi sửa chữa, nâng cấp. Sau khi nâng cấp được 11 chiếc thì những nhà khoa học và các tướng lãnh Kampuchia nói rằng chiếc xe BTR60 với những chiếc ( không nghe rõ) không phù hợp với chiến trường Đông Dương dẫn đến hay hỏng hóc; nên tìm giải pháp mới chế tạo cho phù hợp. Sau đó mới cho ra đời chiếc xe đầu tiên của Kampuchia.

Gia Minh: Người ta hổ trợ những gì về nguyên, vật liệu và phương pháp, nhà máy sản xuất ra sao?

Ông Trần Quốc Hải: Họ xin ý kiến của ông Pol Saroun tổng tư lệnh quân đội và thủ tướng Hun Sen. Lữ đoàn 70 được sự giúp đỡ vô hạn định. Công cụ máy móc thì tối thiểu nhưng chúng tôi phải làm việc tối đa. Nghĩa là lấy trí thông minh, sức lực con người để khắc phục vấn đề máy móc, nhà máy.

Gia Minh: Xe chế tạo ra rồi và bản quyền thuộc về ai?

Ông Trần Quốc Hải: Đã qua thử nghiệm một cách chặt chẽ, quân đội Kampuchia đã nghiệm thu. Lữ đoàn 70 và bản thân tôi được đích thân thủ tướng Hun Sen khen thưởng. Bản quyền tất nhiên thuộc Kampuchia, bởi vì tất cả vật chất, tiền bạn, con người phía Kampuchia bỏ ra, tôi chỉ đóng góp một phần thôi.

Gia Minh: Và công trình đó phải mất bao lâu mới ra sản phẩm?

Ông Trần Quốc Hải: Chiếc xe mới chúng tôi vừa nghiên cứu, vừa chế tạo trong bốn tháng.

Gia Minh: Mới trong năm nay thôi. Và trước đây cũng được biết ông có kế hoạch chế tạo máy bay, kế hoạch đó đến nay ra sao rồi?

Ông Trần Quốc Hải: Kế hoạch chế máy bay do luật pháp Việt Nam ràng buộc quá nên tôi không thể thực hiện được. Sau đó Viện Bảo tàng O’Mally ở New York đề nghị mua lại để triển lãm nên tôi đã bán cho viện bảo tàng đó rồi.

Gia Minh: Ông có thể tiết lộ họ mua với giá bao nhiêu?

Ông Trần Quốc Hải: Tôi có thể nói rõ ràng họ mua với giá ưu đãi. Đó chính là động lực thúc đẩy cho tôi làm khoa học và tôi có một số vốn kha khá để tiếp tục công trỉnh của tôi. Tôi rất cám ơn Viện bảo tàng O’Mally.

Gia Minh: Ông nói muốn tiếp tục công trình là công trình nào?

Ông Trần Quốc Hải: Công trình máy bay trực thăng. Các quan chức Kampuchia họ có đề nghị tôi tới đây chế tạo mới ở Kampuchia. Họ sẽ lo thủ tục, giấy tờ đồng thời họ lo một phần về vật chất cho tôi. Tới đây tôi sẽ chế trực thăng trên tiêu chí mới chứ không chế theo kiểu cũ nữa. Vì sau này, cách đây 10 năm tôi có một số ý tưởng mới. Ví dụ sau này tôi chế chiếc trực thăng với tiêu chí chiếc ô tô, giá cả phù hợp và khi bay nếu động cơ có sự cố rơi thì không chết phi hành đoàn.

Gia Minh: Nhưng vì sao không thực hiện ở Việt Nam mà sang thực hiện ở Kampuchia?

Ông Trần Quốc Hải: Ở Việt Nam rào cản về hành chính rất lớn, hơn nữa cũng không quan tâm đến khoa học- kỹ thuật. Kampuchia khác với Việt Nam; tức anh làm được một công trình khoa học thì được chính phủ, Nhà nước hoan nghênh và công nhận là nhà khoa học. Ví dụ khi tôi nâng cấp, cải tiến xe bọc thép xong họ công nhận tôi là nhà khoa học quân sự. Ở Việt Nam các nhà khoa học không làm được công trình nào cả, còn người làm thì bị gán cho tên ‘Hai Lúa’ như tôi. Quan điểm khác nhau nên mình thấy chỗ nào phù hợp mình đến. Khoa học không có biên giới, chỗ nào chính sách phù hợp với mình, điều kiện tốt với mình thì mình đến đó chế tạo.Biết đâu 5,7, 10 năm nữa tôi thành công và Việt Nam cần thì tôi bán về Việt Nam. Làm khoa học rất hay: ‘tổ quốc không biên giới’.

Gia Minh: Ở Việt Nam ngoài ông ra cũng có một số người chế tạo trực thăng, tàu ngầm ở Hà Nội, Sài Gòn; ông có quen biết và liên lạc với họ để cùng chia xẻ không?

Ông Trần Quốc Hải: Rõ ràng họ đi vào con đường mà tôi bị vấp phải trước đây, tôi là một bài học, một kinh nghiệm cho họ. Tôi may mắn hơn họ vì được Vương quốc Kampuchia trọng dụng. Tới bây giờ tôi cũng chưa có điều kiện để liên lạc, vì mỗi ngành nghề mỗi khác nhau, quan điểm cũng khác nhau nên chưa tìm được tiếng nói chung.

Gia Minh: Xin ông chia xẻ trước đây ông có học về cơ khí… ở trường học, đơn vị nào?

Ông Trần Quốc Hải: Tôi xin nói con người làm gì khác thiên hạ cũng là định mệnh, số mệnh do Ông Trời khiến. Có một số cái có thể học được, có một số cái không thể học được. Tôi chế trên nguyên lý của người khác, nhưng về bản chất hoàn toàn khác: học cũng là học cái đã rồi, đọc cũng là đọc cái đã qua, chỉ có lao động mới tìm ra cái mới. Đó là nguyên lý của tôi. Tôi có đến trường đại học để học chế xe bọc thép phù hợp với chiến trường Đông Dương , chế qui trình trồng mỳ để thay đổi tập quán của ông cha từ lâu đời, làm ra nhiều lương thực, giải phóng cho con người thì không đại học nào dạy được. Nếu các đại học dạy được như thế thì dân Phi châu không đói, dân châu Á không đói.

Gia Minh: Con của ông có học hành qua trường lớp thế nào không?

Ông Trần Quốc Hải: Con tôi học hết lớp 12 và sau sự kiện ‘máy bay’ đó thì cháu qua Mỹ với tôi. Chính phủ Mỹ và các tổ chức nhân đạo ở đó sẵn sàng nuôi nấng cho cháu đi học, nhưng cháu thấy giáo dục theo kiểu ‘từ chương’ không phù hợp với cháu nên sau đó 3 tháng cháu đi về Việt Nam. Cháu cũng học những thực tiễn như tôi và bây giờ cũng có tay nghề nhất định. Vương quốc Kampuchia cũng công nhận cháu ở trình độ kỹ sư. Cháu cũng có đóng góp cho Kampuchia và Việt Nam nhiều.

Gia Minh: Những đóng góp của cháu là gì?

Ông Trần Quốc Hải: Ví dụ cháu kết hợp với tôi trong qui trình canh tác cây mỳ, giải phóng sức lao động, tăng năng suất, bảo vệ môi trường. Rồi máy phun thuốc cao su. Ở Kampuchia cháu cùng tôi trao đổi, truyền đạt lại qui trình trồng mỳ và cũng cùng tôi nâng cấp, chế tạo xe bọc thép, chế tạo xe bọc thép mới.

Mục Khoa học- Môi trường kỳ này tạm dừng tại đây. Hẹn các bạn trong chương trình kỳ tới.

Basam

– Chuyện cha con ông Trần Quốc Hải sửa chữa và chế tạo xe bọc thép cho Campuchia và được nước này tặng huân chương Đại tướng quân là một cú vỗ mặt vào chính quyền CSVN và những nhà khoa học, cùng 9.000 giáo sư với hơn 24.000 tiến sĩ ở Việt Nam. Mang danh là một nước có nhiều nhà khoa học, có đội ngũ GSTS đông nhất Đông Nam Á, mà phải lo lắng chuyện không sản xuất được cục sạc, ốc vít… trong khi những người nông dân không phải là nhà khoa học, chẳng có bằng tiến sĩ hay mang danh giáo sư như cha con ông Trần Quốc Hải, lại được Campuchia vinh danh vì cống hiến khoa học kỹ thuật cho nước họ. Quả là chuyện bi hài!

‘Ông Hải máy bay’ được nước bạn vinh danh (PLTP). – Campuchia diễu binh bằng xe bọc thép nông dân Việt Nam sửa (ĐV). “Nói về thành công của mình trên đất Campuchia, ông Hải chia sẻ: ‘Mình may mắn được người ta tạo điều kiện thôi. Tài giỏi mấy mà người ta không lắng nghe, không tin tưởng thì cũng không thể thành công được.” – Clip thao diễn xe bọc thép của Đại tướng quân hai lúa Trần Quốc Hải (MTG).

‘Đam mê của tôi không được khuyến khích ở VN’ (BBC). “Ở Campuchia, nếu anh làm được một công trình nào đó, đánh giá xong họ công nhận anh là nhà khoa học. Ở Việt Nam, người làm được thì họ không công nhận, người chưa làm được gì thì công nhận… Tôi nói ở châu Âu người ta làm máy bay từ cách đây cả trăm năm, Việt Nam không lẽ thua họ? Tôi tự hào là người Việt Nam chứ. Họ cũng im lặng không tranh luận, nhưng về họ viết văn bản. Họ nói: ‘Anh chế rất là là giỏi, nhưng thôi đừng chế nữa‘.” – ‘Họ nói tôi không nên chế tạo nữa’ (BBC).

– Nguyễn Tường Thụy: Xung quanh chuyện bố con ông Trần Quốc Hải ở Tây Ninh chế tạo xe bọc thép cho Căm Pu Chia (Blog RFA). – Mời xem lại: ‘Hai lúa’ chế tạo xong chiếc máy bay thứ 2 (VNE). – Khi anh “Hai lúa” chế tạo trực thăng (NĐT). – “Hai Lúa” Tây Ninh: Bỏ mộng chế “máy bay”, thành công trong chế tạo máy móc nông nghiệp (Bộ NN&PTNT).

Tham như nông dân ? (FB Mạnh Quân). “… đọc mấy cái tin: có mấy nông dân Nam Bộ sữa chữa, lắp ráp mấy trăm xe bọc thép cho Chính phủ Hoàng Gia CPC, rồi CPC tính phong chức đại tướng cho 2 nông dân Việt…thấy nông dân mình giỏi quá ha. Bỗng nổi máu tham: muốn đứng vào hàng ngũ nông dân để được lây tiếng thơm“.

– GS Nguyễn Văn Tuấn: Ông Trần Quốc Hải: “Họ coi trọng mình thì mình đến phục vụ cho họ” (Ba Sàm). “Câu chuyện hai cha con ông Trần Quốc Hải làm cho chúng ta phải suy nghĩ về môi trường khoa học kĩ thuật ở VN. Bây giờ thì ai cũng biết VN có 24 ngàn tiến sĩ và hơn 10 ngàn giáo sư, phó giáo sư. Đó là một con số “khủng” trong vùng. Nhưng cái độ ngũ đó làm được gì cho VN? Hình như chẳng làm được gì nhiều. Số bài báo khoa học thì quá thấp. Còn số bằng sáng chế càng kém hơn nữa“. – Thanh Huy: Máy bay, thiết giáp, nông dân và chế độ (BBC).  – Cần các thông số của bác nông dân chế tạo xe thiết giáp (FB Pham Trong Thuc).

Vì sao người ta không muốn những người nông dân hay những kẻ ngoại đạo tham gia vào thị trường quốc phòng hoặc liên quan? (FB Nguyen Duc Thanh). “Bởi vì họ muốn kiểm soát thông tin về chi phí sản xuất ra loại sản phẩm đó. Chẳng hạn, nếu họ tự sản xuất, thì họ phải đã từng thuyết phục ai đó rằng thiết bị ấy phải mất nhiều chục, nhiều trăm tỷ đồng mới làm ra được. Và trong nhiều trường hợp, họ đã sử dụng hết số tiền đó mà sản phẩm vẫn chưa đâu vào đâu“.

[:-/] Vì sao 2 ông Phan Bội Trân và Trần Quốc Hải phải ngậm ngùi xuất ngoại? (Kiến Giang MTG) – Ông tàu ngầm vừa xuất khẩu 5 chiếc tàu ngầm sang Malaysia tháng trước, ông máy bay hai lúa vừa trở về từ Campuchia với Huân chương đại tướng quân. Cả hai ông Phan Bội Trân và Trần Quốc Hải đều nói với Một Thế Giới: Xuất ngoại là việc chẳng đặng đừng. Nhưng không có cách nào khác.


Ông Trần Quốc Hải làm người hùng ở Campuchia. Trong nước, ông nói: Buồn lắm!

Ở nước ngoài, ông Hải được khuyến khích làm bất cứ việc gì, từ người bình thường đến lãnh đạo nhà nước đều nhiệt thành ủng hộ. Ở trong nước, nhiều người đố kỵ ra mặt. Có người nói thẳng: “Ông chế hay nhưng đừng chế nữa”.

Còn tàu ngầm của ông Trân, chẳng ai ngó ngàng gì đến. Kể cả khi doanh nghiệp nước ngoài đặt mua tàu ngầm. Ông buộc lòng để đứa con tinh thần của mình ngậm ngùi xuất ngoại.

Đối tác mua tàu ngầm của ông Trân được Chính phủ Malaysia tài trợ đề án khoa học trị giá gấp hàng chục lần giá mua tàu. Ông Hải muốn sang Campuchia làm máy bay, chính phủ nước bạn hỗ trợ động cơ.

Trong khi ở trong nước, họ một mình lụi cụi trong nhà xưởng chật hẹp, không hỗ trợ khuyến khích. Cả hai phải tự bươn chải, làm đủ việc để có kinh phí theo đuổi đam mê của mình.

Sáng chế hoàn thiện, lại phải chạy vạy khắp các cơ quan ban ngành xin giấy phép thử nghiệm, làm hồ sơ xin bằng sáng chế đến nay vẫn chưa được cấp.

Không phải là Việt Nam không có ngân sách khuyến khích sáng tạo khoa học. Nhưng việc nặng nề hành chính khiến những người như ông Trân, ông Hải… gần như bị “cô lập”. Không phải các ông không đủ sức lập đề tài khoa học nhưng sẽ có người đặt vấn đề tư cách khi các ông đề đạt.

Hành chính hóa khiến đội ngũ làm khoa học ở nước ta xem việc sáng chế như một đặc ân của riêng mình. Điều đó làm nảy sinh tâm lý không coi trọng hoặc phủ nhận thành công của người khác.

“Sau khi thử nghiệm sản xuất được tàu ngầm cho du lịch và quân sự, tôi khẳng định Việt Nam hoàn toàn có khả năng sản xuất được tàu ngầm quân sự!”, ông Phan Bội Trân, người sản xuất chiếc tàu ngầm du lịch đầu tiên của Việt Nam và đã thực hiện dự án tàu quân sự, nói.

Chúng ta đang có lực lượng làm khoa học hùng hậu gồm 9.000 giáo sư và 24.300 tiến sĩ. Chúng ta đều đặn rót tiền vào những đề tài, đề án khoa học ở mọi cấp với chi phí không hề nhỏ nhưng chưa làm nổi… một con ốc vít.

Ở một nước nông nghiệp, nhưng gần như tất cả máy móc đều nhập khẩu, còn lại do chính những người nông dân sáng chế. Từ máy tuốt lúa đến gặt đập, từ máy diệt rầy đến máy gieo trồng… đều từ tay nông dân làm ra, không hề có bóng dáng của nhà khoa học!?

Trong khi những phát kiến lớn như tàu ngầm ông Trân và máy bay ông Hải không những không được hỗ trợ mà còn gặp quá nhiều rào cản từ thủ tục và định kiến của các “nhà khoa học”.

Nói cho cam, ông Hải làm máy bay ở Việt Nam, được tặng một bằng khen rồi khuyên…đừng làm nữa. Ông xuất ngoại làm xe bọc thép được đối xử như một vị tướng quân thật sự ở Campuchia.

Nhưng ông nói, đó không phải là điều khiến ông muốn xuất ngoại. Cái làm ông phấn khích là làm khoa học ở Campuchia rất sòng phẳng, không cần biết anh là nhà khoa học hay nông dân. Cứ có sáng chế là được công nhận. Không có kiểu nhà khoa học trắng phát kiến và chuyên quản lý hành chính như xứ mình.

Từ chuyện tàu ngầm đến xe bọc thép, dễ thấy chính sách khoa học ở ta rất ì ạch, cứng nhắc và lạc hậu. Đó chính là nguyên nhân chính dẫn đến “chảy máu chất xám” ngày một báo động.

Không có khoa học chính danh hay khoa học ngoài luồng. Điều xã hội cần là những sáng chế phục vụ con người. Hãy tôn vinh sáng chế để khuyến khích khoa học thay vì hành chính hóa việc làm khoa học chỉ để phục vụ “những cái đầu sáo rỗng”.

Xung quanh chuyện bố con ông Trần Quốc Hải
ở Tây Ninh chế tạo xe bọc thép cho Căm Pu Chia

Nguyễn Tường Thụy (Blog RFA) – Nghĩ đến chuyện bố con ông Trần Quốc Hải ở Tây Ninh chế tạo hàng loạt xe bọc thép cho Căm Pu Chia được quốc vương nước này tặng huân chương Đại tướng quân, mình không khỏi băn khoăn, sao ông này tính quẩn thế.

Không chế tạo cho nước mình mà lại đi chế tạo cho thằng Căm Pu Chia, nhỡ nó dùng chính xe bọc thép do người Việt chế tạo đánh nước mình như dạo 1978-1979 thì sao. Dại tướng quân chứ đại gì.

Nhưng nghĩ lại, cha con ông Hải chẳng qua cũng phải làm một việc cực chẳng đã, chứ ông đâu có ham danh hiệu Đại tướng quân như ông Hồ Xuân Mãn, nguyên bí thơ tỉnh ủy Thừa Thiên Huế ham danh hiệu anh hùng lực lượng võ trang.

Cùng đam mê sáng chế như ông có ông Bùi Hiển 60 tuổi ở Bình Dương làm máy bay trực thăng. Ông được gọi là “cha đẻ của máy bay trực thăng” (tất nhiên là ở Việt Nam chứ không phải toàn cầu). Làm đến chiếc thứ hai rồi nhưng vẫn canh cánh lo nó không được thi thố với đời. Nghe nói ông có mời cả mời cả chuyên gia hàng không hạ cố đến để thẩm định sản phẩm của mình. Ông tâm sự, điều ông mong mỏi nhất là các nhà sáng chế nông dân như ông được nhà nước quan tâm đến, để cống hiến tài sức cho dân tộc. Chỉ cần được “bật đèn xanh”, ông Hiển có thể chế tạo cho Việt Nam chiếc trực thăng không chỉ bay được mà còn bay cao, bay xa, đạt tiêu chuẩn của thế giới. Nhưng điều khó khăn nhất đối với nhà sáng chế chính là việc được cấp phép thử nghiệm. Ông Hiển cho biết đã làm đơn, làm kế hoạch một cách bài bản để gửi đi nhiều cơ quan quản lý, nhưng câu trả lời vẫn là… chờ đợi.


Trực thăng của ông Bùi Hiển đang chờ cấp phép thử nghiệm

Nhắc đến ông Bùi Hiển, mình lại nhớ đến anh chàng thợ cơ khí Nguyễn Văn Thắng ở Long Biên chế tạo máy bay trực thăng nhưng bị cấm, bắt viết cam kết từ nay không được chế tạo máy bay nữa. Rồi bên quân đội thì bắt anh cam kết không được tiếp tục nghiên cứu, chế tạo, thử nghiệm, phải giữ nguyên hiện trạng chiếc máy bay. Bộ đội thì bắt để nguyên trạng, nhưng công an lại bắt tháo máy, tháo cánh ra nên anh chẳng biết nghe ai. Hai trăm triệu anh bỏ ra có nguy cơ biến thành dúm sắt vụn.


Anh Thắng ngao ngán với chiếc máy bay của mình,
vừa phải để nguyên trạng, vừa phải tháo ra

Nói về niềm đam mê sáng chế, có thể kể thêm ông Nguyễn Quốc Hòa – Giám đốc công ty TNHH cơ khí Quốc Hòa (Cụm công nghiệp Phong Phú, TP.Thái Bình). Ông tự chế chiếc tàu ngầm mini, với mục đích bảo vệ chủ quyền biển đảo, đánh bắt hải sản và du lịch. Ông Hòa đã bỏ ra 1 tỷ đồng để chế tạo nó nhưng chưa thành công. Cầu mong cho công trình của ông thắng lợi để mang ra Hoàng Sa, Trường Sa, thách thức Hải quân Trung Cộng, chứ còn trông chờ ở tàu chiến của ông Phùng Quang Thanh thì… e rằng bị 16 chữ vàng khống chế.


Tàu ngầm mini mang tên Trường Sa của ông Nguyễn Quốc Hòa.

Kể vài ví dụ về việc dân thường sáng chế để nói rằng, người Việt Nam mình cũng tài lắm chứ, đâu có kém thông minh hơn thiên hạ. Chỉ có điều, sức sáng tạo của họ thường vấp phải thế lực vô hình cản trở, đó là thằng “cơ chế”. Thằng này bao giờ cũng kìm hãm sự phát triển nhưng nó lại có quyền. Ai nghĩ ra cái gì mà trình độ của nó không kiểm soát được thì y như rằng khổ với nó. Điều trớ trêu là những nhà sáng chế trên, cấm ai có nổi cái bằng tiến sĩ, trong khi tiến sĩ nước ta có tới hàng vạn (theo Vietnamnet, con số này là 24000).

Trở lại chuyện của ông Trần Quốc Hải. Ông đã từng chế tạo máy bay trực thăng. Ông cùng ông Lê Văn Danh đã sản xuất đến chiếc máy bay thứ hai. Nhưng hai chiếc máy bay trực thăng “made in Việt Nam” do các ông chế tạo đã được “xuất khẩu” ra nước ngoài. Chiếc đầu tiên bán cho Viện Bảo tàng New York (Mỹ), chiếc thứ hai bán cho Viện bảo tàng Nghệ thuật Đương đại Busan (Hàn Quốc). Hình như hai chiếc này chế tạo chưa thành công cho nên mới bán để đưa vào Viện Bảo tàng. Nhưng tại sao các ông không bán (hay không bán được) ở Việt Nam để cho người Việt Nam đến tham quan, học hỏi?

Có lần, máy bay của hai ông đang trong giai đoạn “thăng” thử (tức là nhấc bụng lên khỏi mặt đất) thì bị Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Tây Ninh bắt về “giam” ở trụ sở huyện đội huyện Tân Châu, nằm chờ cấp trên xác minh, kết luận

Ấy vậy mà cuối cùng, cha con ông Trần Quốc Hải đã tìm ra lối thoát. Đó là cống hiến tài năng, tâm huyết cho nước khác và được trọng dụng ngay. Tưởng nước khác là Mỹ hay Tây Âu thì nó thoáng đã đành, ai ngờ lại là anh Căm Pu Chia – cái quốc gia mà mỗi khi nhận ra thua kém thiên hạ, người ta lại lôi nó ra để tự an ủi rằng Việt Nam chưa đến nỗi bét thế giới.

Quốc vương nước này còn cấp giấy chứng nhận cho cha con ông Hải – công dân Việt là nhà kỹ thuật sửa chữa xe bọc thép BRDM 2 và BTR60PB để ghi nhận những đóng góp của 2 người cho nền kỹ thuật của đất nước, mà “đất nước” ở đây lại không phải Việt Nam, thế mới đau chứ.

Campuchia diễu binh bằng xe bọc thép
nông dân Việt Nam sửa

(ĐV) – Ông Trần Quốc Hải vừa công bố hình ảnh Quân đội Campuchia diễu binh với xe bọc thép do ông và còn sửa chữa, chế tạo cho quân đội nước này.

Với những cống hiến của mình trên đất Campuchia, ông Trần Quốc Hải cùng con trai là Trần Quốc Thanh ở Tân Châu, Tây Ninh vừa được Vương quốc Campuchia trao huân chương Đại tướng quân.

Khi nói về cơ duyên trở thành người sửa chữa và chế tạo xe bọc thép cho Campuchia, ông Hải cho biết trong những lần qua Campuchia để hỗ trợ kỹ thuật máy trồng mì, ông thấy một số xe bọc thép không khởi động được. Ông Hải đã tự bỏ tiền túi tổng cộng 25.000 USD để sửa xe bọc thép BRDM 2 (do Liên Xô cũ sản xuất).

Chiếc xe bọc thép BRDM 2 sau khi sửa có thể vận hành với 25 lít dầu diesel/100 km so với trước đây là 45 lít, tác xạ nhanh hơn, hỏa lực mạnh hơn so với trước, vòng xoay súng có thể bắn ở cự ly gần hơn so với 150 m của xe cũ, tháp pháo tự động.

Sau thành công của chiếc xe, ông Hải được lữ đoàn 70 giao sửa chữa thêm 10 chiếc xe bọc thép khác và bắt tay vào nghiên cứu chế tạo một xe bọc thép mới.

Ông Hải tự tìm kiếm cũng như mua sắm trang bị cho chiếc xe mới. Ròng rã bốn tháng trời trong đó ba tháng nghiên cứu và một tháng chế tạo, ông đã hoàn thành chiếc xe bọc thép với tính năng mới hoàn toàn.

Chiếc xe bọc thép mới với vòng quay tay súng có thể bắn ở khoảng cách 7m (so với xe cũ là 150m), tháp pháo tự động và hỗ trợ quay tay, trang bị thêm hỏa lực hai bên xe.


Đây là một thành tích bất ngờ của cha con ông Hải.


Cận cảnh chiếc xe bọc thép do cha con ông Hải sửa chữa cho Campuchia.

Nói về thành công của mình trên đất Campuchia, ông Hải chia sẻ: “Mình may mắn được người ta tạo điều kiện thôi. Tài giỏi mấy mà người ta không lắng nghe, không tin tưởng thì cũng không thể thành công được”.

Ở trong nước, cả hai cha con ông Hải là các nông dân chế tạo máy bay nổi tiếng. Gần 10 năm nghiên cứu, chế tạo cả hai đã cho ra lò hai chiếc trực thăng. Mất bảy năm để chế tạo chiếc máy bay đầu tiên nặng gần 900 kg.

Chiếc trực thăng thứ 2 đã hoàn chỉnh, chỉ còn 680 kg, dài 11 m, rộng 2,3 m, cao 3,5 m. Động cơ mới này có mức tiêu hao nhiên liệu 60 lít/8 giờ, vận tốc đạt 150 km/h. Và giá thành hoàn chỉnh chỉ bằng một chiếc xe hơi du lịch lắp ráp trong nước.

Mong muốn của ông Hải là đưa những chiếc trực thăng vào sử dụng trong nông nghiệp. (Tổng hợp Ảnh TTO, MTG, ĐVO).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.