‘Sợ đủ thứ’ hay dám quyết, dám chịu?

Posted: November 16, 2014 in Uncategorized
Tags: ,

Đinh Thế Hưng Viện Nhà nước và Pháp luật – Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội VN (VNN) – Có làm Thẩm phán, có đứng trước những quyết định sống còn với số phận con người như có tội hay không có tội, chung thân hay tử hình… mới thấy trình độ và bản lĩnh cần đến như thế nào.

� Xem thêm: Quyền năng “Thợ rèn” và xã hội dân sự.


Thẩm phán Phạm Tuấn Chiêm (trái) và ông Nguyễn Thanh Chấn – người bị tù oan 10 năm trời

Trong một diễn tiến gần đây của vụ án oan Nguyễn Thanh Chấn, ông Phạm Tuấn Chiêm, nguyên Thẩm phán TAND tối cao đã bị khởi tố, do những liên can về trách nhiệm. Sự việc một lần nữa khiến nhiều người suy ngẫm về tầm quan trọng của nguyên tắc Thẩm phán độc lập xét xử.

Quan tòa là bộ luật biết nói.
Bộ luật là vị quan tòa câm.

– Ciceron, Luật gia La Mã

Có thể nói, ngay từ thời cổ Hy Lạp, Aristotle, Platon đã từng mơ ước đến một hình mẫu toà án độc lập, không thiên vị. Trải qua quá trình đấu tranh lâu dài và gian khổ cho đến nay, độc lập xét xử của Toà án đã trở thành nguyên tắc pháp luật của bất kỳ nhà nước dân chủ, văn minh nào.

Tuy nhiên, trong thực tế ở đâu đó vẫn còn tình trạng Thẩm phán bị chi phối bởi các yếu tố chủ quan lẫn khách quan khiến phán quyết của họ bị thiên lệch. Điều đó cho thấy, việc đảm bảo cho Thẩm phán nói riêng, Toà án nói chung được độc lập xét xử, chỉ tuân theo pháp luật, luôn là khát vọng và cũng là nỗi ưu tư của nhân loại ngàn đời nay.

Chúng ta đang tiến hành Chiến lược cải cách tư pháp trong bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân với trọng tâm là cải cải cách hệ thống toà án. Trong bối cảnh đó, có lẽ bàn về nguyên tắc Thẩm phán độc lập xét xử là vấn đề xưa nhưng không hề cũ.

dám độc lập không?

Tháng trước, trong một hội thảo tư pháp, GS-TS Lê Hồng Hạnh, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học pháp lý (Bộ Tư pháp) đưa ra nhận định: “Thẩm phán ta sợ đủ thứ”. Theo đó, “Thẩm phán sợ từ ông nhân viên kho bạc trở đi, sợ cả công an, sợ các quy định về thi đua khen thưởng của ngành, sợ địa phương không cấp đất làm trụ sở, làm nhà, đủ thứ”[1].

Trên thực tế, đã có nhiều yếu tố tác động đến sự độc lập của Thẩm phán được chỉ ra. Đó có thể là sự can thiệp từ bên ngoài, là sự tác động từ các cơ quan khác như hành pháp, lập pháp, đó là nhiệm kỳ Thẩm phán quá ngắn, lương bổng đãi ngộ chưa cao khiến họ không yên tâm cống hiến, v.v…

Trong khi đó, sự độc lập của quan tòa và tòa án vốn được coi như điều cốt tử để công lý hiện diện trong cuộc sống. Nhưng để được vậy, vấn đề quan trọng nằm ở bên trong mỗi con người Thẩm phán không những chỉ là ở chỗ Thẩm phán được độc lập, mà còn là có khả năng để độc lập và dám độc lập khi xét xử.

Điều này có vẻ như vô lý, nhưng thực tế cho thấy khi một ai đó muốn né tránh trách nhiệm cá nhân, đổ lỗi cho tập thể thì họ không muốn độc lập. Mặt khác, khi luật pháp không rõ ràng, trách nhiệm cá nhân không được đề cao, khi xảy ra hậu quả xấu vẫn có cơ hội để đổ lỗi cho người khác, thì đây là môi trường tốt cho những tiêu cực phát sinh. Những Thẩm phán năng lực yếu, tư cách đạo đức kém thì không muốn độc lập. Đảm bảo cho Thẩm phán độc lập xét xử ngoài ý nghĩa nâng cao chất lượng xét xử, còn có ý nghĩa xác định lỗi và truy cứu trách nhiệm cá nhân.

Bên cạnh đó, cần phải xem Thẩm phán có đủ trình độ và bản lĩnh để thực thi quyền độc lập xét xử mà pháp luật và xã hội trao cho mình hay không? Tức là không chỉ “muốn”, “có khả năng”, mà còn “dám” độc lập xét xử hay không? Độc lập xét xử, chỉ tuân theo pháp luật – tưởng như đơn giản nhưng có làm Thẩm phán, có đứng trước những quyết định sống còn với số phận con người như có tội hay không có tội, chung thân hay tử hình… mới thấy trình độ và bản lĩnh cần đến như thế nào.

Không đủ trình độ, dũng khí để bảo vệ chân lý, sợ trách nhiệm, ba phải, dĩ hoà vi quý… là những yếu tố chủ quan chi phối không nhỏ đến tính độc lập xét xử của Thẩm phán hơn bất kì các yếu tố khách quan nào. Không phải ngẫu nhiên mà pháp luật nhiều nước đòi hỏi Thẩm phán độc lập xét xử không chỉ tuân theo pháp luật, mà còn phải xét xử theo đúng lương tâm của mình.

Chẳng hạn, tại một phiên tòa gần đây, có điều thú vị xảy ra là tòa án triệu tập đại diện một cơ quan cấp Bộ ra trước tòa để giải thích một điều luật do cơ quan này ban hành vì… Tòa không hiểu. Ngay cả khi được xét xử độc lập, nhưng không có khả năng giải thích pháp luật thì rõ ràng không thể phán quyết cách độc lập.

Thẩm phán có nên “tham khảo ý kiến”?

Nhân đây xin được bàn đến vấn đề thỉnh thị án và báo cáo án từng diễn ra trước đây trong ngành toà án, mà nhiều người chỉ trích rằng nó vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc độc lập xét xử. Tuy nhiên, chúng tôi lại có cách nhìn khác tích cực hơn về vấn đề này.

Việc trao đổi chuyên môn nghiệp vụ giữa Thẩm phán và Chánh án, và giữa các Thẩm phán với nhau, thậm chí với toà án cấp trên đi chăng nữa là công việc cần khuyến khích, bởi quy luật của nhận thức là cọ xát nhiều ý kiến mới thấy được chân lý. Báo cáo án, thỉnh thị án cũng là một trong những hình thức trao đổi nghiệp vụ mà có cấm đi chăng nữa thì nó vẫn sẽ diễn ra một khi Thẩm phán muốn tham khảo ý kiến về một vụ án cụ thể.

Nếu cấm duyệt án hay thỉnh thị án, một tình trạng có thể sẽ xảy ra là họ không xin ý kiến bằng một cuộc họp duyệt án hay một công văn thỉnh thị như từng làm, mà dùng hình thức khác “phi chính thức” như gọi điện thoại hay gặp gỡ trực tiếp… rất khó kiểm soát.

Báo cáo/ thỉnh thị án sẽ không vi phạm nguyên tắc độc lập xét xử nếu vấn đề trao đổi nghiệp vụ, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật của toà án cấp trên đối với toà án cấp dưới là sinh hoạt nghiệp vụ bình thường, không mang tính bắt buộc. Nó phải đảm bảo không phải là sự chỉ đạo, áp đặt về vụ án cụ thể và đặc biệt, phải đề cao trách nhiệm cá nhân của Thẩm phán nếu xảy ra oan sai.

Nghĩa là, không cấm Thẩm phán tham khảo ý kiến, nhưng khi xảy ra oan sai thì Thẩm phán không thể đổ lỗi cho việc phải làm theo ý kiến chỉ đạo của người khác. Họ phải chịu trách nhiệm cá nhân, bởi pháp luật trao quyền độc lập xét xử cho họ, nhưng họ lại không thực hiện quyền đó.

Người viết bài này có lần trao đổi với Thẩm phán Hoa Kỳ về vấn đề này và ông cho biết: ở Hoa Kỳ, các Thẩm phán cũng thường xuyên trao đổi với nhau, thậm chí với cấp trên về một vụ án nào đó. Nhưng khi xét xử và ra bản án thì đó phải là kết luận của cá nhân Thẩm phán và phải chịu trách nhiệm với phán quyết của mình.

Gặp ‘tai nạn’ vì… đúng quy trình

Kỳ 2 (VNN) – Có thể thấy chính quy trình tố tụng hiện nay cũng góp phần làm cho Thẩm phán, những người vận hành quy trình đó, gặp “tai nạn”!

Khi quy trình góp phần gây ‘tai nạn’

Quay trở lại vấn đề độc lập xét xử của tòa án và câu chuyện một số Thẩm phán đối mặt với vòng lao lý thời gian qua. Mô hình tố tụng Việt Nam không giống với nhiều nước – chia cắt thành các giai đoạn khác nhau và tương đối độc lập: khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử… Mỗi giai đoạn này do một cơ quan đảm nhiệm và có nhiệm vụ khác nhau. Tòa án chỉ đảm nhiệm một trong những khâu đó.

Nếu không tính đến những tiêu cực, trình độ non kém hay thiếu tinh thần trách nhiệm của Thẩm phán, thì có thể thấy chính quy trình tố tụng hiện nay cũng góp phần làm cho Thẩm phán, những người vận hành quy trình đó, gặp “tai nạn”!

Theo đúng logic “cái gì hợp lý thì tồn tại”, mô hình tố tụng VN hiện hành không phải không có những ưu điểm, chẳng hạn nó kiểm soát tội phạm rất tốt. Tuy nhiên, nó lại cho thấy sự phụ thuộc rất nhiều của Thẩm phán đối với các kết quả của giai đoạn trước đó, đặc biệt là kết quả điều tra. “Án tại hồ sơ” hay việc Thẩm phán chỉ có thể căn cứ vào kết quả điều tra có trong hồ sơ để xét xử là thực tiễn phản ánh bất cập đó.

Trong vụ ông Nguyễn Thanh Chấn, Thẩm phán Nguyễn Tuấn Chiêm có nói rằng kết luận của ông ấy và Hội đồng xét xử dựa vào kết quả điều tra của cơ quan chức năng. Điều đó cho thấy trong quy trình tố tụng như vậy, chỉ cần một khâu bị lỗi (điều tra) thì các bước xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, cộng với sự thiếu trách nhiệm, năng lực, nể nang, thiếu kiên quyết của Thẩm phán…, chắc chắn cho ra kết quả sai là kết án oan.

Khi thiết kế hệ thống tố tụng hình sự hiện hành, không phải các nhà lập pháp VN không tính đến vấn đề này, nên đã tạo cơ chế vừa phối hợp vừa chế ước lẫn nhau. Phối hợp là mỗi cơ quan làm tốt chức năng của mình sẽ tạo điều kiện cho cơ quan khác. Còn chế ước là cơ quan này kiểm tra, phát hiện các sai lầm, vi phạm của cơ quan kia, yêu cầu khắc phục.

Ví dụ, trao cho VKS chức năng giám sát toàn bộ quá trình tố tụng, từ khởi tố đến khi thi hành án xong. Cho phép tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ sung khi phát hiện thiếu chứng cứ hay vi phạm tố tụng (như trong vụ Thẩm mỹ Viện Cát Tường), thậm chí cho Hội đồng xét xử khởi tố vụ án nếu thấy có người phạm tội khác chưa bị truy tố (như trong vụ Dương Chí Dũng khai trước tòa về người đồng phạm), v.v…

Tuy nhiên hình như, ở đâu đó, yếu tố phối hợp vẫn được ưu tiên hơn sự chế ước. Chính điều này cộng với sự tham gia hạn chế vì nhiều lý do của người bào chữa khiến quy trình tố tụng có khi rơi vào tình trạng bị khép kín và hậu quả là vận hành bất thường, đem đến sự rủi ro không chỉ đối với người bị buộc tội bị can, bị cáo, mà cả với chính nhân viên tư pháp – những người vận hành hệ thống đó.


Trong vụ Thẩm mỹ viện Cát Tường, Tòa từng trả hồ sơ để điều tra bổ sung

Quan tòa và cấp trên của quan tòa

Bàn đến nguyên tắc Thẩm phán độc lập xét xử, cũng cần nhắc đến một vai trò khác – các Chánh án.

Chánh án là người lãnh đạo một toà án nào đó. Ông ta có nghĩa vụ tổ chức việc xét xử, đôn đốc, kiểm tra tiến độ giải quyết án của toà mình, xử lý kỷ luật Thẩm phán khi họ vi phạm kỷ luật và pháp luật… Xét dưới góc độ quản lý, nhiệm vụ của Chánh án là lãnh đạo, nhưng lại là lãnh đạo những con người được quyền độc lập xét xử.

Đây có lẽ là cái khó, cũng là điểm đặc thù của chức vụ lãnh đạo trong ngành toà án so với lãnh đạo các ngành khác. Có người từng mạnh dạn đề xuất, muốn Thẩm phán độc lập thì phải hạ thấp vai trò của Chánh án toà án, bởi khi đề cao vai trò này có nghĩa là tạo điều kiện cho việc chi phối hoạt động xét xử.

Chúng tôi đồng với ý kiến này, đồng thời bình luận thêm: Vấn đề Thẩm phán độc lập hay không độc lập so với chánh án không chỉ nằm ở chỗ vai trò của chánh án lớn hay nhỏ, mà nằm ở giới hạn cụ thể giữa chức năng quản lý và chức năng tố tụng của Chánh án. Về tố tụng, Chánh án không thể can thiệp vào công việc xét xử của Thẩm phán. Nhưng về mặt quản lý, Chánh án phải biết được tình hình xét xử của toà án mình như thế nào, chất lượng ra sao….

Tóm lại, Chánh án không thể vì lý do Thẩm phán độc lập xét xử mà buông lỏng quản lý, không nắm được công việc của cơ quan mình, tuy nhiên càng không nên nâng cao hiệu quả quản lý bằng cách biết mọi thứ, kể cả bằng cách can thiệp quá mức cần thiết vào công tác xét xử của Thẩm phán.

Hiện nay theo quy định, Chánh án toà án có quyền: Tổ chức công tác xét xử của Toà án, Quyết định phân công Phó Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm giải quyết, xét xử vụ án hình sự, quyết định phân công Thư ký Tòa án tiến hành tố tụng đối với vụ án hình sự. Như vậy, thẩm phán nào sẽ xử vụ án nào là do Chánh án quyết định.

Với quy định như vậy, hoàn toàn có thể đặt ra giả thiết vì động cơ không trong sáng mà Chánh án chỉ chọn những Thẩm phán “hợp” với mình xử những vụ án “hợp” với Chánh án. Ở Đức, quy trình phân công xét xử theo thứ tự lần lượt và quay vòng không hề có sự can thiệp của Chánh án, làm cho mọi Thẩm phán đều có cơ hội xét xử ngang nhau. Có lẽ đây là cách thức tổ chức xét xử cần được nghiên cứ áp dụng để đảm bảo sự độc lập của Chánh án và Thẩm phán.

Mới đây, Thường vụ Quốc hội đã phải có ý kiến khi có tòa án, mà ở đó ông Chánh án tòa án thành phố lớn trực thuộc trung ương yêu cầu các Thẩm phán phải báo cáo với Chánh án nhiều loại án mà chánh án thấy cần thiết. Đây bị coi là sự can thiệp quá mức cần thiết, thậm chí là bất thường của lãnh đạo tòa án, xâm phạm đến nguyên tắc độc lập xét xử của tòa án.

Đinh Thế Hưng (Viện Nhà nước và Pháp luật – Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội VN)

[ Tham khảo bài viết để thấy những giải thích vòng vo, không thể đặt ra thực tiễn hiệu quả vấn đề giải quyết vấn nạn tránh oan sai, tạo điều kiện như thế nào để thực hiện “nguyên tắc Thẩm phán độc lập xét xử” ngoài sự phụ thuộc vào ý chí của các thành phần có quyền chi phối bản án đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của đảng mà không có động cơ cá nhân trong đó. Qua bài viết để thấy nhà cầm quyền không muốn thay đổi, làm theo các định chế đã có từ lâu của các nước văn minh như “Quyền im lặng” vẫn đang bị lặng im.]

Quyền năng “Thợ rèn” và xã hội dân sự

Xuân Dương (GDVN) – Có nên chuyển các thẩm phán có vấn đề về trình độ sang làm nghề thợ rèn, bởi trong nghề này họ là thợ có tay nghề siêu đẳng khi rèn… còng số 8.

Con người sinh ra nếu không bị dị tật bẩm sinh, có năm giác quan: khứu giác, vị giác, thị giác, thính giác và xúc giác. Chỉ có hai giác quan gắn với chữ “khiếm” là “khiếm thị” và “khiếm thính”, điều đó nói lên vai trò tối quan trọng của hai giác quan này trong cuộc sống cộng đồng.

Thiếu đồng thời hai giác quan này, việc tiếp thu tri thức của nhân loại là gần như không thể, con người vì thế không chỉ chậm phát triển về trí tuệ mà còn trở nên yếu ớt trước tự nhiên, trước đồng loại.

Thị giác và thính giác của bộ máy tư pháp nước ta hiện nay ra sao?

Căn cứ vào nghị quyết 770/2009/UBTVQH12 ngày 23/2/2009 của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì tổng biên chế của Tòa án nhân dân các cấp là 13.524 người trong đó có 5.436 Thẩm phán (tòa án tối cao 120; cấp tỉnh thành phố trực thuộc TƯ 1.118; cấp huyện 4.198).

Về phía Viện Kiểm sát, căn cứ vào nghị quyết số 522e/NQ-UBTVQH13 ngày 16/8/2012 của Ủy ban thường vụ quốc hội, tổng biên chế của Viện kiểm sát nhân dân các cấp là 15.860 người, trong đó số Kiểm sát viên (KSV) là 10.424 người (Viện KSNDTC 170; KSV trung cấp 4.039; KSV sơ cấp 6.215), so sánh cho thấy số lượng KSV gần gấp đôi số thẩm phán (không kể số Thẩm phán và KSV quân sự).

Theo báo cáo của Bộ Tư pháp trước Quốc hội, hiện có tới 312 văn bản ban hành “vi phạm Hiến pháp và Luật”. [1]

Một bài viết trên báo Nhân dân nêu ý kiến: “Trung bình mỗi năm, tỷ lệ các bản án quyết định bị hủy, sửa do lỗi chủ quan của thẩm phán là trên dưới 2%”. Trong khi đó, trong bốn năm qua, mỗi năm tỷ lệ này chỉ giảm 0,1%.” [2]

Vậy là với ngành Tư pháp Việt Nam hiện nay, hai mươi năm nữa người dân mới hy vọng không còn án oan sai do Thẩm phán gây ra!

Tuy nhiên, án oan không phải chỉ do thẩm phán mà còn do cơ quan điều tra và Kiểm sát, vậy thì bao nhiêu năm nữa người dân mới hết phải chịu các án oan sai mà nguyên nhân lại từ phía cơ quan hành pháp và tư pháp?

Hay là người dân phải học cách “sống chung với lũ”, xem án oan là một phần tất yếu của cuộc sống? Sự thật này cho thấy thị lực và thính lực của các cơ quan thực thi và bảo vệ pháp luật đang có vấn đề, chưa đáp ứng những tiêu chuẩn phổ cập của xã hội dân sự.

Không nói những nơi xa, ngay tại Thủ đô Hà Nội, vụ án Vũ Ngọc Dương (trú tại phố Khâm Thiên) mới xảy ra khiến dư luận không thể không đặt câu hỏi “Vì sao người dân lại cứ phải chịu những bản án oan sai mà người gây ra cho họ lại nhân danh pháp luật và luôn cho rằng họ là người thượng tôn pháp luật”?


Người nhà của Vũ Ngọc Dương (ở giữa) trong vụ án oan
gần đây ở thù đô Hà Nội. Ảnh: Xuân Quang

Án oan là do cơ chế, do pháp luật chưa hoàn chỉnh hay do trình độ, tư cách của người thực thi công vụ?

Số liệu trong “Báo cáo công tác phòng ngừa, chống vi phạm pháp luật và tội phạm” do Bộ trưởng Bộ Công an, Đại tướng Trần Đại Quang trình bày trước Quốc hội ngày 25/10/2014 cho thấy, chỉ trong hơn 10 tháng của năm 2014 “Số vụ án khởi tố mới là 77.913 vụ với 121.039 bị can, đã kết luận điều tra, đề nghị truy tố 68.520 vụ với 124.714 bị can. [3]

Baophapluat.vn cho biết: “năm 2013 qua báo cáo của Tổng cục Thi hành án dân sự vẫn còn 239.144 vụ việc chuyển sang năm 2014”. [4]

Tổng cộng các vụ án chưa giải quyết xong và khởi tố mới năm 2014 là 307.664 vụ. Nếu các Thẩm phán, ngoài việc phải xử các vụ án mới vẫn phải theo dõi xử lý các vụ án tồn đọng thì bình quân mỗi người phải chịu trách nhiệm 57 vụ, và tương tự mỗi KSV sẽ khoảng 28 vụ. Sự quá tải là một trong các nguyên nhân khiến chất lượng xử án không đạt như mong muốn.

Tuy nhiên nguyên nhân chính không phải là sự quá tải mà là trình độ và tư cách cán bộ.

Trong vụ án Vũ Ngọc Dương, tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện viện kiểm sát giữ quyền công tố đã đề nghị hủy toàn bộ án sơ thẩm để điều tra lại nhưng không được chấp thuận. Khi biểu quyết để tuyên án, Chủ toạ phiên tòa phúc thẩm đã biểu quyết hủy án nhưng hai thẩm phán còn lại của HĐXX biểu quyết giữ nguyên án sơ thẩm. [5]

Xử oan đối với ông Nguyễn Thanh Chấn, cả ba thẩm phán đều phạm tội tuy nhiên chỉ có thẩm phán Phạm Tuấn Chiêm, chủ tọa phiên phúc thẩm là bị khởi tố để điều tra về hành vi thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng, hai vị thẩm phán còn lại chưa thấy kết luận gì.

Với phiên tòa phúc thẩm vụ Vũ Ngọc Dương, câu hỏi khiến người ta không thể lý giải là tại sao cả Viện Kiếm sát lẫn Chủ tọa phiên tòa đều đề nghị hủy bản sán sơ thẩm nhưng hai thẩm phán còn lại không nghe? Nếu cơ quan điều tra Viện KSTC không vào cuộc thì đương nhiên Vũ Ngọc Dương sẽ lĩnh án ba năm tù vì tội mình không phạm.

Trong khi toàn ngành Tư pháp đang cố gắng thực hiện cải cách tư pháp, trong khi Quốc hội đang cố gắng hoàn thiện Luật tố tụng hình sự và nhiều luật khác thì không ít người thực hiện lại đàng hàng ngày vô hiệu hóa pháp luật chỉ bởi sự yếu kém của mình. Họ chứ không ai khác chính là “bộ phận không nhỏ” mà Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nói “không biết nằm ở đâu”.

Với hai vụ án nêu trên đã có 5 thẩm phán Tòa Tối cao phạm sai lầm, nếu cộng thêm hai phiên phúc thẩm vụ án “Vườn mít” bị hủy (án tử hình và vô tội) thì có từ 4 đến 6 thẩm phán Tòa tối cao mắc sai lầm (phải có 2/3 thẩm phán đồng ý thì bản án mới được tuyên). Tổng cộng chỉ qua ba vụ án ít nhất có 9 thẩm phán xử sai, về mặt nhân sự, tỷ lệ này là 7.5% (9/120), trong khi tỷ lệ bản án oan sai chỉ là trên dưới 2% (số liệu trích dẫn ở trên).

Đây mới chỉ là những số liệu chưa đầy đủ (đã chính thức công bố) và cũng chỉ mới ở cấp cao nhất (Tòa Tối cao), nếu tính cả các cấp thấp hơn thì tỷ lệ này sẽ là bao nhiêu?


Có nên chuyển các thẩm phán có vấn đề về trình độ sang làm nghề thợ rèn, bởi
trong nghề này họ là thợ có tay nghề siêu đẳng khi rèn… còng số 8! . Ảnh: internet

Vậy thì phải nói thế nào về trình độ và nhân cách các thẩm phán đó? Nếu nhân cách của họ không có vấn đề gì mà chủ yếu là do trình độ thì có nên chuyển họ sang làm nghề thợ rèn, bởi trong nghề này họ là thợ có tay nghề siêu đẳng khi rèn… còng số 8!

Một khi đã tồn tại “thợ rèn thẩm phán” thì đương nhiên cũng có không ít “thợ rèn điều tra” và “thợ rèn kiểm sát”. Nói thế vì “than và sắt” để rèn còng là do các “thợ rèn điều tra” cung cấp, giữ vai trò thổi lửa là “thợ rèn kiếm sát” và người đập búa rèn còng là “thợ rèn thẩm phán”.

Những người yêu thích thần thoại Hy lạp đều biết chuyện ông tổ của nghề rèn, thần thợ rèn Hephaistos là một vị thần có ngoại hình xấu xí, không được cha mẹ là thần Zeus, chúa tể các vị thần và Hoàng hâu Hera yêu quý, dù đã bị quẳng khỏi đỉnh Olumpus, dù bị thọt chân song Hephaistos lại có người vợ là nữ thần sắc đẹp và tình yêu Aphrodite. Người tác thành mối nhân duyên này không ai khác chính là thần Zeus, con đẻ dẫu sao vẫn là con đẻ.

Giữa Hephaistos và các “Thợ rèn” ngày nay nhiều đặc điểm đã không còn được di truyền. Hephaistos là thần luyện kim, điêu khắc và thần lửa. Ngài không chỉ làm ra mọi thứ cần thiết phục vụ cho các vị thần mà còn dạy cho loài người cách chế tác sắt, điêu khắc mỹ nghệ,… Chính nhờ có ngọn lửa của Hephaistos do Promêtê  lấy trộm mang cho mà loài người trở nên mạnh mẽ, thống trị trái đất. Dù không ưa gì Hephaistos song các vị thần trên đình Olumpus vẫn cần ông để phục vụ thiên đình, đổi lại Hephaistos có người vợ đẹp nhất trong các vị nữ thần.

Các “thợ rèn” hậu duệ của Hephaistos thì ngược lại, họ chẳng dạy cho con người bài học gì về nhân nghĩa, đạo lý, họ đưa con người vào chốn lao tù, dập tắt ngọn lửa hy vọng của người vô tội và gia đình họ mà không hề cảm thấy lương tâm bị cắn dứt.

Ngày nay, không khó để nhận thấy sự tồn tại của “nền văn minh nguyên thủy Hephaistos”, các “thợ rèn” hiện đại vẫn được ưu ái dẫu có mắc sai lầm. Các thần vẫn cần đội ngũ “thợ rèn” để làm ghế, làm bàn, để rèn hàng rào bao quanh dinh thự, để khắc vương miện và những dụng cụ không tên khác. Có lẽ vì  thế nên dù có bị quẳng khỏi đỉnh Olumpus thì họ vẫn được “chúa tể các vị thần” nâng đỡ, vẫn còn vợ đẹp, nhà to, và chắc chắn con cái của họ không phải ăn bát cơm với muối và ớt rừng.

Còn người dân, khi tiếp xúc với các “thợ rèn” liệu có ai không cảm thấy mình đang ở tình thế trên đe, dười búa?

Tài liệu tham khảo:

[1]http://tinnhanhchungkhoan.vn/phap-luat/50000-an-ton-dong-khong-thi-hanh-duoc-97229.html
[2] http://www.nhandan.com.vn/mobile/_mobile_chinhtri/_mobile_tintucsukien/item/21592602.html
[3] http://www.anninhthudo.vn/thoi-su/hieu-qua-dau-tranh-phong-chong-toi-pham-da-nang-cao-ro-ret/577583.antd
[4] http://baophapluat.vn/su-kien/tran-tro-giai-bai-toan-an-ton-dong-174529.html
[5]http://tuoitre.vn/tin/phap-luat/20141110/them-mot-vu-an-oan-khien-nguoi-bi-ket-an-lao-dao/669720.html

Comments
  1. vivi099 says:

    Tòa án nhân dân chỉ là mỵ dân…
    Còn csVN thống trị, còn mỵ dân !

    • nhatvanguyet says:

      Độc tài gắn liền với mỵ dân dối trá.Tòa án nhân dân là tòa án tôn giáo Mác-xít, là công cụ để đảng duy trì quyền lực độc tôn theo ý thức hệ CS. Khi thành tích của nhóm tư pháp tham gia điều tra xét xử tỷ lệ thuận với số năm tù của bị can bị cáo thì án oan sai sẽ vẫn tiếp diễn, tra tấn bạo hành vẫn tiếp tục. Thẻ cử tri của công dân CHXHCNVN khác gì tờ giấy lộn trong chế độ đảng chủ đảng quyền đảng cử, người dân sẽ chẳng có quyền gì và mạng sống của người dân không có giá trị. Nhà cầm quyền tiếp tục tuyên truyền dối trá đề cao ý chí quyết tâm hoặc hứa hão mà tránh né không thực hiện theo công pháp quốc tế đã hiến định từ lâu. Những gì có lợi cho người dân về công bằng xã hội nhưng sẽ giảm quyền cai trị của đảng thì chúng tìm cách kéo dài dây dưa vô lối, quyền im lặng là một ví dụ cụ thể.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.